Trung Bộ
Kinh |
|
http://www.buddhanet.net
(Muc luc) Audio sources: http://suoitumedia1.net/ |
http://www.sacred-texts.com/ http://www.mahindarama.com/ |
|
NỘI DUNG 35. Tiểu kinh Saccaka
(Cùlasaccaka sutta) |
CONTENTS 35.
Culasaccaka Sutta, (The Shorter Discourse in the Saccaka) |
|
Trung Bộ Kinh |
Majjhima Nikaya 35 Culasaccaka Sutta The Shorter Discourse in the Saccaka |
|
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Vesali, rừng Đại Lâm, tại giảng đường Trùng Các. Lúc bấy giờ Niganthaputta Saccaka ở tại Vesali tánh ưa luận chiến, biện luận thiện xảo, được số đông tôn kính. Vị này thường tuyên bố cho hội chúng ở Vesali: "Ta không thấy một Sa-môn hay một Bà-la-môn nào, là vị Hội chủ, là vị Giáo trưởng, vị Sư trưởng Giáo hội, dầu tự cho là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khi đối thoại với ta, không ai là không run sợ, không hoảng sợ, không khiếp sợ, không ai là không toát mồ hôi nách. Dầu ta có đối thoại với một cột trụ vô t́nh, cột trụ ấy khi đối thoại với ta cũng run sợ, cũng hoảng sợ, cũng khiếp sợ, huống nữa là một người thường". Rồi Tôn giả Assaji vào buổi sáng đắp y, cầm bát vào Vesali để khất thực. Niganthaputta Saccaka, thường hay ngao du thiên hạ, thấy Tôn giả Assaji từ xa đi lại. Sau khi thấy, Niganthaputta Saccaka liền đến gần Tôn giả Assaji, nói lên những lời hỏi thăm, chào đón, xă giao rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Niganthaputta Saccaka nói với Tôn giả Assaji: -- Này Tôn giả Assaji, Sa-môn Gotama huấn luyện đệ tử như thế nào? Và có những bộ môn nào mà phần lớn Sa-môn Gotama giảng dạy được dành cho đệ tử? -- Này Aggivessana, như thế này, Thế Tôn huấn luyện đệ tử. Với những bộ môn như thế này, phần lớn Sa-môn Gotama giảng dạy được dành cho đệ tử: "Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường. Này các Tỷ-kheo, sắc là vô ngă, thọ là vô ngă, tưởng là vô ngă, hành là vô ngă, thức là vô ngă. Tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngă". Như vậy này Aggivessana, Thế Tôn huấn luyện các đệ tử. Như vậy là các bộ môn mà phần lớn Thế Tôn giảng dạy được dành cho đệ tử. -- Này Tôn giả Assaji, thật sự chúng tôi đă thất vọng khi nghe Sa-môn Gotama thuyết giảng như vậy. Rất có thể chúng tôi sẽ gặp Tôn giả Gotama một thời nào đó và tại một chỗ nào đó. Rất có thể sẽ có một cuộc thảo luận. Rất có thể chúng tôi sẽ đoạn trừ ác tà kiến ấy. Lúc bấy giờ, có khoảng độ năm trăm vị Licchavi tập hợp tai giảng đường v́ một vài công vụ. Rồi Niganthaputta Saccaka đến chỗ các Licchavi ấy, sau khi đến, liền nói các vị ấy như sau: -- Hăy đến, các Tôn giả Licchavi; hăy đến các Tôn giả Licchavi. Hôm nay sẽ có cuộc đàm luận giữa Sa-môn Gotama với ta. Nếu Sa-môn Gotama đứng đối thoại với ta như Tỷ-kheo Assaji, một vị đệ tử danh tiếng của ông ta đă làm, th́ như một lực sĩ tay nắm chặt lông một con cừu có lông dài, có thể kéo tới, giật lui, vần quanh; cũng vậy, ta dùng lời nói, kéo tới, giật lui, vần quanh Sa-môn Gotama. Cũng như một người lực sĩ nấu rượu, sau khi nhận ch́m một thùng rượu lớn xuống hồ nước sâu, nắm một góc thùng có thể kéo tới, giật lui, vần quanh; cũng vậy, ta dùng lời nói, kéo tới, giật lui, vần quanh Sa-môn Gotama. Và cũng như một lực sĩ nghiện rượu, sống phóng đăng, sau khi nắm góc một cái sàng, lắc qua lắc lại, lắc xoay quanh. Cũng vậy, ta sẽ dùng lời nói, lắc qua lắc lại, lắc xoay quanh Sa-môn Gotama. Và cũng như một con voi lớn sáu mươi tuổi, sau khi lặn xuống một hồ nước sâu, lại chơi tṛ phun nước; cũng vậy, ta nghĩ ta sẽ chơi tṛ chơi phun nước với Sa-môn Gotama. Hăy đến, các Tôn giả Licchavi. Hăy đến các Tôn giả Licchavi. Hôm nay sẽ có cuộc đàm luận giữa Sa-môn Gotama với ta. Một số Licchavi nói như sau: -- Làm sao Sa-môn Gotama có thể luận thắng Niganthaputta Saccaka? Niganthaputta Saccaka sẽ luận thắng Sa-môn Gotama. Một số Licchavi lại nói như sau: -- Làm sao chỉ là Niganthaputta Saccaka lại có thể luận thắng Thế Tôn? Thế Tôn sẽ luận thắng Niganthaputta Saccaka. Rồi Niganthaputta Saccaka với khoảng năm trăm Licchavi vây quanh, cùng đi đến Đại Lâm, giảng đường Trùng Các. Lúc bấy giờ một số đông các Tỷ-kheo đang đi qua lại giữa trời. Niganthaputta Saccaka đến các Tỷ-kheo, sau khi đến, liền nói với các vị ấy: -- Chư Tôn giả, nay Tôn giả Gotama ở đâu? Chúng tôi muốn yết kiến Tôn giả Gotama. -- Này Aggivessana, Thế Tôn sau khi đi sâu vào rừng Đại Lâm, đang ngồi dưới một gốc cây để nghỉ trưa.
|
I heard thus. At one time the Blessed One lived in a peaked hall, in the Great forest in Vesali. At that time Saccaka, the son of Nigantha, a clever disputant, considered wise by many lived in Vesali. He would go about Vesali saying. I do not see a recluse, a Brahmin, a leader of a crowd, a teacher of a crowd, or one acknowledging he is perfect and rightfully enlightened not shivering, trembling and sweating when invited to a dispute by me.. Even a lifeless pillar drawn to a dispute by me would shiver and tremble, so what of a human being. Then venerable Assaji putting on robes in the morning, taking bowl and robes entered Vesali for alms. Saccaka the son of Nigantha walking and wandering for exercise saw venerable Assaji coming in the distance and approached venerable Assaji., exchanged friendly greetings and standing on a side said: "Good Assaji, how are the disciples of the recluse Gotama trained, and in what section are they given a lot of the training. Then venerable Assaji said, Aggivessana, the Blessed One gives his disciples a lot of advice and trains the disciples much in this section: "Bhikkhus, matter is impermanent. Feelings are impermanent. Perceptions are impermanent. Determinations are impermanent and consciousness is impermanent. Bhikkhus, matter is not self. Feelings are not self. Perceptions are not self. Determinations are not self, and consciousness is not self. All determinations are impermanent. All things are not self" (*1). Aggivessana, the Blessed One advises the bhikkhus much on this and the training is much on this. Good Assaji, we heard something that should not be heard. If the recluse Gotama is of this view, indeed we should meet him for a conversation on this. To dispel doubts on this view. At that time about five hundred Licchavis were assembled in the assembly hall for some purpose. Then Saccaka the son of Nigantha approached them and said: Come Licchavis, today there is a dispute between me and the recluse Gotama, If the recluse Gotama affirms this view of his disciple bhikkhu Assaji, we will draw the recluse Gotama to a dispute, pulling him about and dragging him about. Like a strong man taking a sheep by its long fleece, would pull it and drag it about. Or like a strong brewer of liqueur submerging a huge crater in a deep pond, would shake it about, and holding it by the ears would shake it about. In the same manner we would pull and drag about the recluse Gotama in a dispute. Like an elephant of sixty cubits, descending a deep pond, would enjoy the game of washing hemp. We would enjoy the game of washing hemp with the recluse Gotama. Come Licchavis, there will be a dispute between me and the recluse Gotama. Then a certain Licchavi would say. What has the recluse Gotama a dispute with Saccaka the son of Nigantha? Or is it that Saccaka the son of Nigantha has a dispute with the recluse Gotama? Another Licchavi would say. What, is resplendent Saccaka the son of Nigantha drawing the recluse Gotama for a dispute? Or is the recluse Gotama drawing Saccaka the son of Nigantha for a dispute? Then Saccaka the son of Nigantha approached the gabled hall in the Great forest followed by about five hundred Licchavis At that time many bhikkhus were doing the walking meditation in the open. Then Saccaka the son of Nigantha approached those bhikkhus and asked. Where does good Gotama abide at this time, we like to see him. Aggivessana, the Blessed One has entered the great forest and is seated at the root of a tree to spend the day. Then Saccaka the son of Nigantha approached the Great forest and the Blessed One, exchanging friendly greetings with him sat on a side. Then some of those Licchavis worshipped the Blessed One and sat on a side Some exchanged friendly greetings and sat on a side, some clasped their hands in the direction of the Blessed One and sat on a side, some voiced their names and clans and sat on a side, and others sat on a side silently. |
|
Niganthaputta Saccaka sau khi ngồi xuống một bên nói với Thế Tôn: -- Tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama một vấn đề, nếu Tôn giả Gotama cho phép tôi được hỏi. -- Này Aggivessana, hăy hỏi như Ông muốn. -- Tôn giả Gotama huấn luyện đệ tử như thế nào? Những bộ môn nào mà phần lớn Sa-môn Gotama giảng dạy được dành cho đệ tử? -- Này Aggivessana, như thế này Ta huấn luyện đệ tử. Với những bộ môn này, phần lớn Ta giảng dạy được dành cho đệ tử: "Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường. Này các Tỷ-kheo, sắc là vô ngă, thọ là vô ngă, tưởng là vô ngă, hành là vô ngă, thức là vô ngă. Tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngă". Như vậy, này Aggivessana, Ta huấn luyện các đệ tử. Các bộ môn như vậy, phần lớn ta giảng dạy được dành cho đệ tử. -- Này Tôn giả Gotama, tôi có một ví dụ. Thế Tôn nói: -- Này Aggivessana, hăy nói lên ví dụ ấy. -- Như các hột giống, các cây cỏ này được lớn lên, được trưởng thành, được hưng thịnh là v́ tất cả chúng đều y cứ vào đất, nương tựa vào đất. Nhờ vậy các hột giống, các cây cỏ này được lớn lên, được trưởng thành, được hưng thịnh. Tôn giả Gotama, như các công nghiệp nặng nhọc này được tạo tác, tất cả chúng đều y cứ vào đất, nương tựa vào đất. Nhờ vậy, các công nghiệp nặng nhọc này được tạo tác. Cũng vậy, này Tôn giả Gotama, như người này mà tự ngă là sắc, nhờ nương tựa sắc làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngă là thọ, nhờ nương tựa thọ làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngă là tưởng, nhờ nương tựa tưởng làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngă là các hành, nhờ nương tựa các hành làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngă là thức, nhờ nương tựa thức làm thiện sự hay ác sự. -- Này Aggivessana, như vậy có phải ông nói: "Sắc là tự ngă của ta, thọ là tự ngă của ta, tưởng là tự ngă của ta, hành là tự ngă của ta, thức là tự ngă của ta"? -- Tôn giả Gotama, như vậy tôi nói: "Sắc là tự ngă của ta, thọ là tự ngă của ta, tưởng là tự ngă của ta, hành là tự ngă của ta, thức là tự ngă của ta". Và như đại chúng này cũng vậy. -- Này Aggivessana, đại chúng này có quan hệ ǵ với Ông? Này Aggivessana, hăy giải thích lời nói của Ông. -- Tôn giả Gotama, như vậy tôi nói: "Sắc là tự ngă của ta, thọ là tự ngă của ta, tưởng là tự ngă của ta, hành là tự ngă của ta, thức là tự ngă của ta". -- Này Aggivessana, Ta sẽ hỏi Ông trở lại về vấn đề này. Ông có thể trả lời nếu Ông muốn. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Một vị vua Sát-đế-lị đă làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajatasattu, con bà Vedehi nước Magadha, vua này có quyền hành trong quốc gia của ḿnh, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất không? -- Tôn giả Gotama, một vua Sát-đế-lị đă làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajatasattu, con bà Vedehi nước Magadha, vua này có quyền hành trong quốc gia của ḿnh, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất. Này Tôn giả Gotama, cho đến các giáo đoàn, các đoàn thể, như các Vajji, các Malla, vẫn có quyền hành trong quốc gia của ḿnh, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất, c̣n nói ǵ một vua Sát-đế-lị đă làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajatasattu, con bà Vedehi nước Magadha. Này Tôn giả Gotama, vị ấy có quyền hành ấy và xứng đáng có quyền hành ấy. -- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Sắc là tự ngă của ta", Ông có quyền hành ǵ đối với sắc ấy và có nói được rằng: "Sắc của tôi như thế này, sắc của tôi không phải như thế này" không? Được nói vậy Niganthaputta Saccaka giữ im lặng. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka: -- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Sắc là tự ngă của ta", Ông có quyền hành ǵ đối với sắc ấy và có nói được rằng: "Sắc của tôi phải như thế này, sắc của tôi không phải như thế này" không? Lần thứ hai, Niganthaputta Saccaka vẫn giữ im lặng. Rồi Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka: -- Này Aggivessana, nay Ông phải trả lời. Nay không phải lúc Ông giữ im lặng nữa. Này Aggivessana, ai được Như Lai hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lư mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ. Lúc bấy giờ thần Dạ xoa Vajirapani (Kim Cang Thủ) đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói, đứng trên không trên đầu Niganthaputta Saccaka với ư định: "Nếu Thế Tôn hỏi đến câu hỏi thứ ba, một câu hỏi hợp lư mà Niganthaputta Saccaka không trả lời, th́ ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh". Chỉ có Thế Tôn và Niganthaputta Saccaka mới thấy thần Dạ xoa Vajirapani. Niganthaputta Saccaka sợ hăi, hoảng hốt, lông tóc dựng, ngược, chỉ t́m thấy sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ t́m thấy sự an ổn nơi Thế Tôn, chỉ t́m thấy sự nương tựa nơi Thế Tôn, liền bạch Thế Tôn: -- Tôn giả Gotama hăy hỏi tôi, tôi sẽ trả lời. -- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Sắc là tự ngă của ta", th́ Ông có quyền hành ǵ đối với sắc ấy và có nói được rằng: "Sắc của tôi phải như thế này, sắc của tôi không phải như thế này" không? -- Thưa không, Tôn giả Gotama. -- Hăy suy nghiệm kỹ, này Aggivessana. Sau khi suy nghiệm kỹ, này Aggivessana, Ông hăy trả lời. Lời nói cuối của Ông không phù hợp lời nói đầu của Ông, lời nói đầu của Ông không phù hợp lời nói cuối của Ông. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Thọ là tự ngă của ta", Ông có quyền hành ǵ đối với thọ ấy và có nói được, rằng: "Thọ của tôi phải như thế này, thọ của tôi không phải như thế này" không? -- Thưa không, Tôn giả Gotama. -- Hăy suy nghiệm kỹ, này Aggivessana. Sau khi suy nghiệm kỹ, này Aggivessana, Ông hăy trả lời. Lời nói cuối của Ông không phù hợp lời nói đầu của Ông, lời nói đầu của Ông không phù hợp lời nói cuối của Ông. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Tưởng là tự ngă của ta", Ông có quyền hành ǵ đối với tưởng ấy và có nói được rằng: "Tưởng của tôi phải như thế này, tưởng của tôi không phải như thế này" không? -- Thưa không, Tôn giả Gotama. -- Hăy suy nghiệm kỹ, này Aggivessana. Sau khi suy nghiệm kỹ, này Aggivessana, Ông hăy trả lời. Lời nói cuối của Ông không phù hợp lời nói đầu của Ông, lời nói đầu của Ông không phù hợp lời nói cuối của Ông. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Các hành là tự ngă của ta", Ông quyền hành ǵ đối với tự ngă ấy và có nói được rằng: "Các hành của tôi phải như thế này, các hành của tôi không phải như thế này" không? -- Thưa không, Tôn giả Gotama. -- Hăy suy nghiệm kỹ, này Aggivessana. Sau khi suy nghiệm kỹ, này Aggivessana, Ông hăy trả lời. Lời nói cuối của Ông không phù hợp lời nói đầu của Ông, lời nói đầu của Ông không phù hợp lời nói cuối của Ông. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Thức là tự ngă của ta", Ông quyền hành ǵ đối với tự ngă ấy và có nói được rằng: "Thức của tôi phải như thế này, thức của tôi không phải như thế này" không? -- Thưa không, Tôn giả Gotama. (Contents) |
Saccaka the son of Nigantha then said thus to the Blessed One. We would ask
a certain question from good Gotama. If good Gotama would give us leave and
would explain it to us.
The Blessed One said, ask Aggivessana what you desire. How does good Gotama advise the disciples and in what sections are they given much training? Aggivessana, I advise and train my disciple much in this manner. "Bhikkhus, matter is impermanent. Feelings are impermanent.
Perceptions and determinations are impermanent. Consciousness is
impermanent. Aggivessana, I advise my disciples and train them much in this section. Good Gotama, a comparison occurs to me. Say it Aggivessana. Like these
seed groups and vegetable groups that grow and develop, established and
supported on earth . So also all powerful work, that has to be done, should
be done, established and supported on earth. In the same manner this person,
established in matter, with the material self accrues merit or demerit. This
feeling person established in feelings accrues merit or demerit. Aggivessana, do head anointed warrior kings like king Pasenadi of Kosala, king Ajatasattu of Magadha wield power over their kingdoms, to execute those that have to be executed, to produce those that have to be produced, and to banish those that have to be banished? Yes, good Gotama, the head anointed warrior kings such as king Pasenadi
of Kosala and king Ajatasattu of Magadha wield power in their kingdoms to
execute those that have to be executed, to produce those that have to be
produced, and to banish those that have to be banished. Aggivessana, you say matter is your self, do you wield power over that
matter, as may my matter be thus and not thus?. When this was said
Saccaka the son of Nigantha became silent. For the second time, the Blessed
One asked, Aggivessana, you say matter is your self, do you wield power over
that matter, as may my matter be thus and not thus?. No, good Gotama. Attend carefully and reply Aggivessana. What you said earlier, does not agree with what you say now.. Aggivessana, you, that say, determinations are your self, do you wield power over those determinations, as may my determinations be thus and not otherwise. No, good Gotama. Attend carefully and reply Aggivessana. What you said earlier does not agree with what you say now. Aggivessana, you, that say, consciousness is your self, do you wield power over that consciousness, as may my consciousness be thus and not otherwise? No, good Gotama. |
|
-- Hăy suy nghiệm kỹ, này Aggivessana. Sau khi suy nghiệm kỹ, này
Aggivessana, Ông hăy trả lời. Lời nói cuối của Ông không phù hợp lời nói đầu
của Ông, lời nói đầu của Ông không phù hợp lời nói cuối của Ông. Này
Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường? -- Vô thường, Tôn giả Gotama. -- Cái ǵ vô thường th́ cái ấy là khổ hay lạc? -- Là khổ, Tôn giả Gotama. -- Cái ǵ vô thường, khổ, biến hoại; có hợp lư chăng khi chánh quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngă của tôi"? -- Thưa không, Tôn giả Gotama. -- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Thọ... (như trên)... tưởng... (như trên)... các hành... (như trên)... Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Thức là thường hay vô thường? -- Vô thường, Tôn giả Gotama. -- Cái ǵ vô thường là khổ hay lạc? -- Là khổ, Tôn giả Gotama. -- Cái ǵ vô thường, khổ, biến hoại; có hợp lư chăng khi chánh quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngă của tôi"? -- Thưa không, Tôn giả Gotama. -- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Ai ái luyến khổ, chấp trước khổ, tham đắm khổ, quán khổ và nói: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngă của tôi". Người ấy có thể liễu tri cái khổ của tự ḿnh hay có thể sống trừ diệt khổ không? -- Làm sao có thể được, Tôn giả Gotama? Không thể như vậy, Tôn giả Gotama. -- Này Aggivessana, như một người muốn được lơi cây, t́m cầu lơi cây, đi chỗ này chỗ kia t́m kiếm lơi cây. Người ấy cầm một cái búa sắc bén, đi vào rừng. Người ấy có thể thấy ở đây thân một cây chuối lớn thẳng đứng, c̣n trẻ, không có khúc đốt. Người ấy có thể chặt gốc cây ấy. Sau khi chặt gốc cây, người ấy chặt ngọn cây. Sau khi chặt ngọn cây, người ấy có thể lột ra các lá cuộn tṛn. Nhưng khi lột ra các lá cuộn tṛn, người ấy không t́m được giác cây, c̣n nói ǵ đến lơi cây. Cũng vậy này Aggivessana, khi được Ta hỏi, Ta cật vấn, Ta chất vấn về những lời của Ông, Ông đă tự tỏ ra trống rỗng, trống không, thất bại. Nhưng này Aggivessana, những lời nói mà Ông tuyên bố cho hội chúng ở Vesali: "Ta không thấy một Sa-môn hay Bà-la-môn nào, là vị Hội chủ, là vị Giáo trưởng, vị Sư trưởng Giáo hội, dầu có tự cho là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khi đối thoại với Ta, không ai là không run sợ, không hoảng sợ, không khiếp sợ, không ai là không bị toát mồ hôi nách. Dầu Ta có đối thoại với một cột trụ vô t́nh, cột trụ ấy khi đối thoại với ta cũng run sợ, cũng hoảng sợ, cũng khiếp sợ, huống nữa là một người thường". Nhưng chính từ nơi trán của Ông, này một người thường. Nhưng chính từ nơi trán của ông, này Aggivessana, những giọt mồ hôi đang chảy xuống, sau khi thấm qua thượng y, đang rơi xuống đất. C̣n Ta, này Aggivessana, nay không có mồ hôi nào trên thân Ta. Rồi Thế Tôn để lộ kim thân cho Hội chúng ấy thấy. Khi nghe nói vậy, Niganthaputta Saccaka im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, ngồi bàng hoàng, không nói một lời. Rồi Dummukha, một người con Licchavi, biết được Niganthaputta Saccaka im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, ngồi bàng hoàng, không nói một lời, liền bạch Thế Tôn: -- Bạch Thế Tôn, con có một ví dụ. Thế Tôn nói: -- Này Dummukha, hăy nói lên ví dụ ấy. -- Bạch Thế Tôn, như một hồ sen không xa làng hay thị trấn bao nhiêu, ở đây có con cua. Bạch Thế Tôn, rồi một số đông con trai hay con gái đi ra khỏi làng hay thị trấn ấy, đến tại hồ sen kia, sau khi đến, lặn xuống hồ nước ấy bắt con cua lên và đặt nó trên đất khô. Bạch Thế Tôn, khi con cua này tḥ ra cái càng nào, th́ các đứa con trai hay con gái ấy, với cái gậy hay miếng sành, chặt, bẻ găy và đập nát cái càng ấy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con cua ấy bị chặt, bị bẻ găy, bị đập nát tất cả càng, không thể lội xuống hồ sen ấy như trước. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, mọi khúc thuyết, gian kế, tranh luận của Niganthaputta Saccaka đă bị Thế Tôn chặt đứt, bẻ găy, đập tan. Và nay, bạch Thế Tôn, Niganthaputta Saccaka, không thể đến gặp Thế Tôn, chớ đừng nói là có ư định đàm luận. Khi được nghe nói vậy, Niganthaputta Saccaka nói với Licchavi Dummukha: -- Ông hăy ngừng nói, Dummukha! Ông hăy ngừng nói, Dummukha! Chúng tôi không đàm luận với Ông. Chúng tôi đang đàm luận với Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama, hăy để yên những lời nói của chúng tôi và lời nói của các Sa-môn, Bà-la-môn khác. Tôi nghĩ cuộc đàm luận vô bổ này thật đáng hối tiếc! Cho đến mức độ nào, một đệ tử Thanh văn của Tôn giả Gotama trở thành tuân phụng giáo điển, chấp nhận giảng huấn, nghi ngờ được đoạn trừ, do dự được diệt tận, thành tựu vô úy, sống trong giáo hội Bổn Sư, khỏi phải nương tựa vào ai? (Contents) |
Attend carefully and reply Aggivessana. What you said earlier does not agree
with what you say now. What do you think, Aggivessana, is matter
permanent or impermanent? Impermanent good Gotama. That impermanent thing,
is it unpleasant or pleasant? Unpleasant good Gotama. That impermanent, unpleasant, changing thing, is it suitable to be considered; that is mine, that I be, that is my self? No good Gotama.. Aggivessana, are feelings—are perceptions,--are determinations,--is consciousness permanent or impermanent? Impermanent good Gotama. That impermanent thing is it unpleasant or pleasant? Unpleasant, good Gotama. That impermanent, unpleasant, changing thing, is it suitable to be considered, that is mine, that I be, that is my self? No, good Gotama. Aggivessana, a certain one clinging to unpleasantness, over powered by
it, pressed down by it and reflecting it’s mine, would think it’s my self.
Would he accurately understand unpleasantness by himself or ward it off and
abide? Good Gotama, how could it be. No, good Gotama, that would not
happen. Here, Aggivessana, my disciples see whatever matter, in the
past, future or present, internal or external, coarse or fine, un-exalted or
exalted, far or near, all that matter is not mine. I’m not that, it is not
my self. This is seen with right wisdom, as it really is. Whatever feelings, whatever perceptions, whatever determinations, whatever consciousness, in the past, future or present, internal or external, coarse or fine, un -exalted or exalted, far or near, all consciousness is not mine. I’m not that, it is not my self. This is seen with right wisdom as it really is. Aggivessana, with this much, my disciples have done the work in my dispensation, followed the advice, dispelling doubts have become confident not relying on a teacher abide. Good Gotama,
how does the bhikkhu become perfect with desires destroyed, the holy life
lived having done what should be done, the weight put down, attained the
highest good, the desire ‘to be’ destroyed, and rightly knowing released.
Whatever feelings, in the past, future or present, internal or external, coarse or fine, un-exalted or exalted, far or near, all feelings are not mine. I’m not that, it’s not my self. This should be seen with right wisdom, as it really is and the mind released without holdings. |
| -- Ở đây, này
Aggivessana, đệ tử Thanh văn của Ta, đối với mọi sắc pháp, quá khứ, tương
lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, thấy
như thật với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không
phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi". Đối với mọi cảm thọ... đối
với mọi tưởng... đối với mọi hành... đối với mọi thức, quá khứ, tương lai,
hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, thấy như
thật với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải
là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi". Cho đến mức độ như vậy, này
Aggivessana, một đệ tử Thanh văn của Ta trở thành tuân phụng giáo điển, chấp
nhận giảng huấn, nghi ngờ được đoạn trừ, do dự được diệt tân, thành tựu vô
úy, sống trong giáo hội Bổn sư, khỏi phải nương tựa một ai. -- Cho đến mức độ nào, này Tôn giả Gotama, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đă tận, tu hành thành măn, các việc nên làm đă làm, đă đặt gánh nặng xuống, các mục tiêu đă đạt, hữu kiết sử đă đoạn trừ, được chánh trí giải thoát? -- Ở đây, này Aggivessana, Tỷ-kheo đối với bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các sắc pháp, sau khi như thật quán sát với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi", chứng được vô chấp thủ giải thoát. Đối với bất cứ thọ nào... bất cứ tưởng nào... bất cứ hành nào... đối với bất cứ thức nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các thức, sau khi như thật quán sát với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi", chứng được vô chấp thủ giải thoát. Cho đến mức độ này, này Aggivessana, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đă tận, tu hành thành măn, các việc nên làm đă làm, đă đặt gánh nặng xuống, các mục tiêu đă đạt, hữu kiết sử đă đoạn trừ, được chánh trí giải thoát. Với tâm giải thoát như vậy, này Aggivessana, Tỷ-kheo thành tựu ba pháp vô thượng: Kiến vô thượng, Đạo vô thượng, Giải thoát vô thượng. Được giải thoát như vậy, này Aggivessana, vị ấy chỉ kính lễ, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai: "Thế Tôn đă giác ngộ, Ngài thuyết pháp để giác ngộ. Thế Tôn đă điều phục, Ngài thuyết pháp để điều phục. Thế Tôn đă tịch tĩnh, Ngài thuyết pháp để tịch tĩnh. Thế Tôn đă vượt qua, Ngài thuyết pháp để vượt qua. Thế Tôn đă chứng Niết-bàn, Ngài thuyết pháp để chứng Niết-bàn". Được nghe nói vậy, Niganthaputta bạch với Thế Tôn: -- Tôn giả Gotama, chúng tôi thật là lỗ măng, chúng tôi thật là khinh suất. Chúng tôi đă dám nghĩ dùng lời nói để luận chiến với Tôn giả Gotama! Này Tôn giả Gotama, rất có thể c̣n có sự an toàn cho một người chiến đấu với con voi điên, nhưng không thể có sự an toàn cho một người chiến đấu chống Tôn giả Gotama! Này Tôn giả Gotama, rất có thể c̣n có sự an toàn cho một người chiến đấu chống đám lửa hừng, nhưng không thể có sự an toàn cho một người chiến đấu chống Tôn giả Gotama! Này Tôn giả Gotama, rất có thể c̣n có sự an toàn cho một người chiến đấu với con rắn độc dữ tợn, nhưng không thể có sự an toàn cho một người chiến đấu với Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, chúng tôi thật lỗ măng, chúng tôi thật là khinh xuất. Chúng tôi đă dám nghĩ, dùng lời nói để luận chiến với Tôn giả Gotama! Mong Tôn giả Gotama nhận lời, ngày mai dùng bữa ăn của tôi cùng với chúng Tỷ-kheo! Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Niganthaputta Saccaka, sau khi biết Thế Tôn đă nhận lời, liền nói với các Licchavi: -- Các Tôn giả Licchavi hăy nghe tôi. Sa-môn Gotama ngày mai được mời ăn với chúng Tỷ-kheo. Hăy đem đến cho tôi những ǵ quư vị nghĩ là hợp thời. Rồi những Licchavi ấy, sau khi đêm ấy đă măn cho đem đến Niganthaputta Saccaka khoảng năm trăm phần cơm cúng dường nấu với sữa. Rồi Niganthaputta Saccaka, tại vườn của ḿnh, cho soạn các món ăn thịnh soạn, loại cứng và loại mềm, rồi cho báo tin giờ cho Thế Tôn: -- Tôn giả Gotama, nay đă đến giờ. Cơm đă sửa soạn xong. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến khu vườn của Niganthaputta Saccaka, sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đă soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi Niganthaputta Saccaka, tự tay hầu hạ các món ăn thịnh soạn loại cứng và loại mềm cho chúng Tỷ-kheo, cầm đầu là đức Phật. Rồi Niganthaputta sau khi biết Thế Tôn dùng bữa ăn đă xong, tay đă rời khỏi bát, liền lấy một chiếc ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Niganthaputta Saccaka bạch Thế Tôn: -- Này Tôn giả Gotama, trong cuộc bố thí này, nếu có công đức và công đức địa, mong rằng những vị bố thí sẽ được hưởng hạnh phúc. -- Này Aggivessana, sẽ có (công đức) cho những người bố thí, đối với người đáng được cúng dường như Ông, dầu Ông không phải là không có tham, không phải là không có sân, không phải là không có si; sẽ có (công đức) cho Ông, này Aggivessana, đối với người đáng được cúng dường như Ta, và Ta là người không có tham, không có sân, không có si. Ḥa thượng Thích Minh Châu dịch Việt -------------------------------------------------------------------------------- Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đă có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (B́nh Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ "The Middle Length Discourses of the Buddha", Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12-06-2004 |
Whatever perceptions,
in the past, future or present, internal or external, coarse or fine,
un-exalted or exalted, far or near, all perceptions are not mine. I’m not
that, it’s not my self. This should be seen with right wisdom, as it really
is, and the mind released without holdings. Whatever determinations, in the
past, future or present, internal or external, coarse or fine, un-exalted or
exalted, far or near, all determinations are not mine. I’m not that, it’s
not my self. This should be seen with right wisdom, as it really is, and the
mind released without holdings. Whatever consciousness, in the past, future
or present, internal or external, coarse or fine, un-exalted or exalted, far
or near, all consciousness is not mine. I’m not that, it’s not my self.
This should be seen with right wisdom, as it really is, and the mind released without holdings. Aggivessana, when this much is done the bhikkhu is perfect with desires destroyed, the holy life lived, what should be done, done, the weight put down, come to the highest good, the desires ‘to be’ destroyed, and rightly knowing is released. Aggivessana, the mind of the
bhikkhu so released is endowed with three nobilities: The nobility of
vision, the nobility of method, and the nobility of release. Aggivessana,
the bhikkhu so released honours, reveres, and esteems the Thus Gone One: The
Blessed One is enlightened, preaches for enlightenment, the Blessed One
tamed preaches for taming, the Blessed One appeased preaches for
appeasement. The Blessed One crossed over, preaches for crossing over, the
Blessed One extinguished preaches for extinguishing. |
|
Trung Bộ Kinh Majjhima Nikaya 36. Đại kinh Saccaka (Mahàsaccaka sutta) |
Majjhima Nikaya 36 Mahasaccaka Sutta The Longer Discourse to Saccaka (excerpt) |
| Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Vesali, rừng Đại Lâm, tại giảng đường Trùng Các. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đắp y thật đầy đủ, cầm y bát, muốn vào Vesali để khất thực. Rồi Niganthaputta Saccaka tánh hay ngao du thiên hạ, trong khi đi khắp đó đây, đến tại Đại Lâm, giảng đường Trùng Các. Tôn giả Ananda thấy Niganthaputta Saccaka từ xa đi lại, liền bạch Thế Tôn: -- Bạch Thế Tôn, Niganthaputta Saccaka đang đến, tánh ưa luận chiến, biện luận thiện xảo, được số đông tôn kính. Bạch Thế Tôn, vị này ưa chỉ trích Phật, ưa chỉ trích Pháp, ưa chỉ trích Tăng. Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn v́ ḷng từ mẫn ngồi lại một lát. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đă soạn sẵn. Rồi Niganthaputta Saccaka đi đến chỗ Thế Tôn ở, nói lên những lời hỏi thăm, chúc tụng, xă giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Niganthaputta Saccaka nói với Thế Tôn: -- Tôn giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn sống chuyên lo tu tập về thân, không tu tập về tâm. Tôn giả Gotama, những vị này cảm khổ thọ về thân. Sự t́nh này đă xảy ra, này Tôn giả Gotama, do cảm khổ về thân, chân sẽ bị tê liệt, quả tim có thể tức bể, máu nóng có thể trào ra từ miệng, có thể bị điên cuồng loạn tâm. Tôn giả Gotama, sự t́nh này xảy ra đối với người mà tâm tùy thuộc thân, khi tâm chịu sự điều khiển của thân. V́ sao vậy? V́ tâm không được tu tập. Tôn giả Gotama, nhưng có một số Sa-môn, Bà-la-môn, sống chuyên lo tu tập về tâm, không tu tập về thân. Tôn giả Gotama, những vị này cảm khổ thọ về tâm. Sự t́nh này đă xảy ra, này Tôn giả Gotama; do cảm khổ thọ về tâm, chân sẽ bị tê liệt, quả tim có thể tức bể, máu có thể trào ra từ miệng, có thể bị điên cuồng loạn tâm. Tôn giả Gotama, sự t́nh này xảy ra đối với người mà thân tùy thuộc tâm, khi thân chịu sự điều khiển của tâm. V́ sao vậy? V́ thân không được tu tập. Này Tôn giả Gotama, rồi tôi suy nghĩ: "Thật sự, Thanh văn đệ tử của Tôn giả Gotama sống chuyên lo tu tập về tâm không tu tập về thân?" -- Này Aggivessana, Ông nghe tu tập về thân như thế nào? -- Như Nanda Vaccha, Kisa Sankicca, Makkhàli Gosàla, những vị này, này Tôn giả Gotama, sống lơa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho ḿnh, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nồi chảo, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giă gạo, không nhận đồ ăn từ hai người, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ ruồi bu, không ăn cá thịt, không uống rượu nấu, rượu men, cháo trấu. Những vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại bảy nhà, vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy các vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. -- Này Aggivessana, họ có thể tự nuôi sống với mức độ như vậy chăng? -- Không phải vậy, này Tôn giả Gotama. Thỉnh thoảng, này Tôn giả Gotama, họ ăn những món ăn thù thắng loại cứng, họ ăn những món ăn thù thắng loại mềm, họ nếm những vị ăn thù thắng, họ uống những đồ uống thù thắng. Họ nhờ các món ăn ấy gầy dựng thân lực, làm cho thân to lớn, làm cho thân béo mập. -- Này Aggivessana, như vậy những ǵ ban đầu họ từ bỏ, về sau họ lại thọ dụng. Như vậy có tụ, có tán (có được, có mất) cho thân này. Này Aggivessana, Ông nghe tu tập về tâm như thế nào? Niganthaputta Saccaka, được Thế Tôn hỏi tu tập về tâm, không có thể trả lời được. Rồi Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka: -- Này Aggivessana, thân tu tập mà Ông vừa mới nói đầu tiên ấy không phải là thân tu tập đúng pháp trong giới luật của bậc Thánh. Này Aggivessana, Ông c̣n không hiểu thân tu tập, làm sao Ông có thể hiểu tâm tu tập. Và này Aggivessana, như thế nào là thân không tu tập, tâm không tu tập; như thế nào là thân tu tập, tâm tu tập? Hăy nghe và khéo tác ư, Ta sẽ giảng. -- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Niganthaputta Saccaka trả lời Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau: -- Này Aggivessana, thế nào là thân không tu tập và thế nào là tâm không tu tập? Ở đây, này Aggivessana, kẻ vô văn phàm phu khởi lên lạc thọ. Người này được cảm giác lạc thọ, liền tham đắm lạc thọ và rơi vào sự tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi lên khổ thọ. Người ấy, do cảm giác khổ thọ, nên sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh. Này Aggivessana, lạc thọ ấy khởi lên cho người kia, chi phối tâm và an trú, do thân không tu tập. Khổ thọ ấy khởi lên chi phối tâm và an trú, do tâm không tu tập. Này Aggivessana, không luận người nào mà cả hai phương tiện đều có lạc thọ khởi lên, chi phối tâm và an trú, do thân không tu tập; khổ thọ khởi lên, chi phối tâm và an trú, do tâm không tu tập. Như vậy, này Aggivessana, người ấy là người có thân không tu tập và tâm không tu tập. Và này Aggivessana, thế nào là thân tu tập và tâm tu tập? Ở đây, này Aggivessana, lạc thọ khởi lên cho vị Thánh đệ tử nghe nhiều. Vị này được cảm giác lạc thọ, nhưng không tham đắm lạc thọ, không rơi vào sự tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi lên khổ thọ, vị ấy cảm giác khổ thọ nhưng không sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh. Này Aggivessana, lạc thọ ấy khởi lên cho vị kia, không chi phối tâm và không an trú, do thân có tu tập; khổ thọ ấy khởi lên cho vị kia, không chi phối tâm và không an trú, do tâm có tu tập. Này Aggivessana, không luận người nào mà cả hai phương tiện đều có lạc thọ khởi lên, không chi phối tâm và không an trú, do thân có tu tập; khổ thọ khởi lên, không chi phối tâm và không an trú, do tâm có tu tập, như vậy này Aggivessana, người ấy là người có thân tu tập, có tâm tu tập. -- Như vậy, tôi có ḷng tin tưởng với Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama là vị có thân tu tập và có tâm tu tập. -- Này Aggivessana, dầu cho lời nói của Ông có vẻ trịch thượng và khiêu khích, nhưng Ta sẽ trả lời cho Ông. Này Aggivessana, v́ Ta đă cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, lạc thọ thật sự khởi lên nơi Ta, chi phối tâm và an trú, hay khổ thọ thật sự khởi lên nơi Ta, chi phối tâm và an trú, sự t́nh như vậy không thể xảy ra. -- Phải chăng, một lạc thọ không khởi lên nơi Tôn giả Gotama một cách khiến cho lạc thọ ấy không thể chi phối tâm và an trú, phải chăng một khổ thọ khởi lên nơi Tôn giả Gotama một cách khiến cho khổ thọ ấy không thể chi phối tâm và an trú? (Contents) |
|
| -- Này Aggivessana,
sao có thể không như vậy được? Ở đây, này Aggivessana, trước khi Ta giác
ngộ, chưa chứng Chánh Đẳng Giác, khi c̣n là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau:
"Đời sống gia đ́nh bị g̣ bó, con đường đầy những bụi đời. Đời sống xuất gia
như sống giữa hư không. Thật rất khó sống tại gia đ́nh mà có thể sống hoàn
toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh đời sống phạm hạnh thuần tịnh. Hăy cạo bỏ
râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh". Rồi này Aggivessana, sau một thời gian, khi Ta c̣n trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng ḷng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh. Ta xuất gia như vậy, một người đi t́m cái ǵ chí thiện, t́m cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đến chỗ Alara Kalama ở, khi đến xong liền thưa với Alara Kalama: "Hiền giả Kalama, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này". Này Aggivessana, được nghe nói vậy, Alara Kalama nói với Ta: "Này Tôn giả, hăy sống (và an trú). Pháp này là như vậy, khiến kẻ có trí, không bao lâu như vị Bổn sư của ḿnh (chỉ dạy), tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú". Này Aggivessana, và không bao lâu Ta đă thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này Aggivessana, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lư của kẻ trí và giáo lư của bậc Trưởng lăo (Thượng tọa), và Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy. Này Aggivessana, Ta suy nghĩ như sau: "Alara Kalama tuyên bố pháp này không phải chỉ v́ ḷng tin: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an trú". Chắc chắn Alara Kalama biết pháp này, thấy pháp này rồi mới an trú". Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến Ta nói với Alara Kalama: "Hiền giả Kalama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố pháp này?" Này Aggivessana, được nói vậy, Alara Kalama tuyên bố về Vô sở hữu xứ. Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Alara Kalama có ḷng tin, Ta cũng có ḷng tin. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hăy cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú". Rồi này Aggivessana, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến, Ta nói với Alara Kalama: "Này Hiền giả Kalama, có phải Hiền giả đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?" --"Vâng, Hiền giả, tôi đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Này Hiền giả, tôi cũng tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hăy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hăy chăm sóc hội chúng này!" Như vậy, này Aggivessana, Alara Kalama là Đạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với ḿnh, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này Aggivessana, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy, này Aggivessana, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi. Rồi này Aggivessana, Ta, kẻ đi t́m cái ǵ chí thiện, t́m cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi đến xong Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Hiền giả, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này". Được nói vậy, này Aggivessana, Uddaka Ramaputta nói với Ta: "Này Tôn giả, hăy sống (và an trú), pháp này là như vậy, khiến người có trí không bao lâu như vị Bổn sư của ḿnh (chỉ dạy) tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú". Này Aggivessana, Ta đă thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này Aggivessana, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lư của kẻ trí, và giáo lư của bậc Trưởng lăo (Thượng Tọa), và Ta tự cho rằng Ta như người khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy. Này Aggivessana, Ta suy nghĩ như sau: "Rama tuyên bố pháp này không phải v́ ḷng tin: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú". Chắc chắn Rama thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú". Này Aggivessana, rồi Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Hiền giả Rama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này?" Này Aggivessana, được nghe nói vậy, Uddaka Ramaputta tuyên bố về Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Rama mới có ḷng tin. Ta cũng có ḷng tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Rama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Rama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy ta hăy cố gắng chứng cho được pháp mà Rama tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, tự an trú". Rồi này Aggivessana, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này Aggivessana, Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Này Hiền giả Rama, có phải Hiền giả đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?" --"Vâng Hiền giả, tôi đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Này Hiền giả, tôi cũng đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy." Thật lợi ích thay cho chúng tôi! Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự tri tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, Tôi là như vậy. Nay hăy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hăy chăm sóc hội chúng này!" Như vậy, này Aggivessana, Uddaka Ramaputta là Đạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với ḿnh, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ". Như vậy, này Aggivessana, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi. |
[The Buddha is
speaking to Saccaka Aggivessana:] "Before my Awakening, when I was still an unawakened Bodhisatta, the thought occurred to me: 'The household life is crowded, a dusty road. Life gone forth is the open air. It isn't easy, living in a home, to lead the holy life that is totally perfect, totally pure, a polished shell. What if I, having shaved off my hair & beard and putting on the ochre robe, were to go forth from the home life into homelessness?' "So at a later time, when I was still young, black-haired, endowed with the blessings of youth in the first stage of life, having shaved off my hair & beard -- though my parents wished otherwise and were grieving with tears on their faces -- I put on the ochre robe and went forth from the home life into homelessness. "Having gone forth in search of what might be skillful, seeking the unexcelled state of sublime peace, I went to Alara Kalama and, on arrival, said to him: 'Friend Kalama, I want to practice in this doctrine & discipline.' "When this was said, he replied to me, 'You may stay here, my friend. This doctrine is such that a wise person can soon enter & dwell in his own teacher's knowledge, having realized it for himself through direct knowledge.' "It was not long before I learned the doctrine. As far as mere lip-reciting & repetition, I could speak the words of knowledge, the words of the elders, and I could affirm that I knew & saw -- I, along with others. "I thought: 'It isn't through mere conviction alone that Alara Kalama declares, "I have entered & dwell in this Dhamma, having realized it for myself through direct knowledge." Certainly he dwells knowing & seeing this Dhamma.' So I went to him and said, 'To what extent do you declare that you have entered & dwell in this Dhamma?' When this was said, he declared the sphere of nothingness. "I thought: 'Not only does Alara Kalama have conviction, persistence, mindfulness, concentration, & discernment. I, too, have conviction, persistence, mindfulness, concentration, & discernment. What if I were to endeavor to realize for myself the Dhamma that Alara Kalama declares he has entered & dwells in, having realized it for himself through direct knowledge.' So it was not long before I quickly entered & dwelled in that Dhamma, having realized it for myself through direct knowledge. I went to him and said, 'Friend Kalama, is this the extent to which you have entered & dwell in this Dhamma, having realized it for yourself through direct knowledge?' "'Yes, my friend...' "'This, friend, is the extent to which I, too, have entered & dwell in this Dhamma, having realized it for myself through direct knowledge.' "'It is a gain for us, my friend, a great gain for us, that we have such a companion in the holy life. So the Dhamma I declare I have entered & dwell in, having realized it for myself through direct knowledge, is the Dhamma you declare you have entered & dwell in, having realized it for yourself through direct knowledge. And the Dhamma you declare you have entered & dwell in, having realized it for yourself through direct knowledge, is the Dhamma I declare I have entered & dwell in, having realized it for myself through direct knowledge. The Dhamma I know is the Dhamma you know; the Dhamma you know is the Dhamma I know. As I am, so are you; as you are, so am I. Come friend, let us now lead this community together.' "In this way did Alara Kalama, my teacher, place me, his pupil, on the same level with himself and pay me great honor. But the thought occurred to me, 'This Dhamma leads not to disenchantment, to dispassion, to cessation, to stilling, to direct knowledge, to Awakening, nor to Unbinding, but only to reappearance in the sphere of nothingness.' So, dissatisfied with that Dhamma, I left. "In search of what might be skillful, seeking the unexcelled state of sublime peace, I went to Uddaka Ramaputta and, on arrival, said to him: 'Friend Uddaka, I want to practice in this doctrine & discipline.' "When this was said, he replied to me, 'You may stay here, my friend. This doctrine is such that a wise person can soon enter & dwell in his own teacher's knowledge, having realized it for himself through direct knowledge.' "It was not long before I quickly learned the doctrine. As far as mere lip-reciting & repetition, I could speak the words of knowledge, the words of the elders, and I could affirm that I knew & saw -- I, along with others. "I thought: 'It wasn't through mere conviction alone that Rama declared, "I have entered & dwell in this Dhamma, having realized it for myself through direct knowledge." Certainly he dwelled knowing & seeing this Dhamma.' So I went to Uddaka and said, 'To what extent did Rama declare that he had entered & dwelled in this Dhamma?' When this was said, Uddaka declared the sphere of neither perception nor non-perception. "I thought: 'Not only did Rama have conviction, persistence, mindfulness, concentration, & discernment. I, too, have conviction, persistence, mindfulness, concentration, & discernment. What if I were to endeavor to realize for myself the Dhamma that Rama declared he entered & dwelled in, having realized it for himself through direct knowledge.' So it was not long before I quickly entered & dwelled in that Dhamma, having realized it for myself through direct knowledge. I went to Uddaka and said, 'Friend Uddaka, is this the extent to which Rama entered & dwelled in this Dhamma, having realized it for himself through direct knowledge?' "'Yes, my friend...' "'This, friend, is the extent to which I, too, have entered & dwell in this Dhamma, having realized it for myself through direct knowledge.' "'It is a gain for us, my friend, a great gain for us, that we have such a companion in the holy life. So the Dhamma Rama declared he entered & dwelled in, having realized it for himself through direct knowledge, is the Dhamma you declare you have entered & dwell in, having realized it for yourself through direct knowledge. And the Dhamma you declare you have entered & dwell in, having realized it for yourself through direct knowledge, is the Dhamma Rama declared he entered & dwelled in, having realized it for himself through direct knowledge. The Dhamma he knew is the Dhamma you know; the Dhamma you know is the Dhamma he knew. As he was, so are you; as you are, so was he. Come friend, lead this community.' "In this way did Uddaka Ramaputta, my companion in the holy life, place me in the position of teacher and pay me great honor. But the thought occurred to me, 'This Dhamma leads not to disenchantment, to dispassion, to cessation, to stilling, to direct knowledge, to Awakening, nor to Unbinding, but only to reappearance in the sphere of neither perception nor non-perception.' So, dissatisfied with that Dhamma, I left. (Contents) |
| Này Aggivessana, Ta,
kẻ đi t́m cái ǵ chí thiện, t́m cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tuần
tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu
tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có
con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung
quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này Aggivessana, rồi Ta tự
nghĩ: "Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông
trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có
làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện
nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn". Và này các Tỷ-kheo, Ta ngồi
xuống tại chỗ ấy và nghĩ rằng: "Thật đáng cố gắng tinh tấn ở nơi đây". Rồi này Aggivessana, ba ví dụ khởi lên nơi Ta, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe: Này Aggivessana, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống và đặt trong nước. Có một người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ư nghĩ: "Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra". Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống đặt trong nước ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa th́ có thể nhen lửa, khiến lửa nóng hiện ra được không? -- Thưa không, Tôn giả Gotama. V́ sao vậy? Này Tôn giả Gotama, v́ cành cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống lại bị ngâm trong nước, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội. -- Cũng vậy, này Aggivessana, những Sa-môn hay những Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân, những ǵ đối với chúng thuộc các dục như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khát vọng, dục nhiệt năo, về nội tâm chưa được khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt, nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Đẳng Giác, và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Đẳng Giác. Này Aggivessana, đó là ví dụ thứ nhất, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Aggivessana, rồi một ví dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Aggivessana, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ư nghĩ: "Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra". Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen lửa, khiến hơi nóng hiện ra được không? -- Thưa không, Tôn giả Gotama. V́ sao vậy? Này Tôn giả Gotama, v́ khúc cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống, dầu được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội. -- Cũng vậy, này Aggivessana, những Sa-môn hay Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân, những ǵ đối với các vị ấy thuộc các dục như dục tham, dục ái, dục hôm ám, dục khát vọng, dục nhiệt năo, về nội tâm chưa được khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt. Nếu những Tôn giả Sa-môn, hay Bà-la-môn này th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Đẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Đẳng Giác. Này Aggivessana, đó là ví dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Aggivessana, rồi một ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Aggivessana, ví như có một khúc cây khô, không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến cầm dụng cụ làm lửa với ư nghĩ: "Ta sẽ nhen lửa, lửa nóng sẽ hiện ra". Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây khô, không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen lửa, khiến nơi nóng hiện ra được không? -- Thưa được, Tôn giả Gotama. V́ sao vậy? Này Tôn giả Gotama, v́ khúc cây ấy khô, không nhựa, lại được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. -- Cũng vậy, này Aggivessana, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn sống xả ly các dục về thân, những ǵ đối với các vị ấy thuộc các dục, như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khát vọng, dục nhiệt năo, về nội tâm được khéo đoạn trừ. Nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Đẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị này cũng có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Đẳng Giác. Này Aggivessana, đó là ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. |
"In search of what
might be skillful, seeking the unexcelled state of sublime peace, I wandered
by stages in the Magadhan country and came to the military town of Uruvela.
There I saw some delightful countryside, with an inspiring forest grove, a
clear-flowing river with fine, delightful banks, and villages for alms-going
on all sides. The thought occurred to me: 'How delightful is this
countryside, with its inspiring forest grove, clear-flowing river with fine,
delightful banks, and villages for alms-going on all sides. This is just
right for the striving of a clansman intent on striving.' So I sat down
right there, thinking, 'This is just right for striving.' "Then these three similes -- spontaneous, never before heard -- appeared to me. Suppose there were a wet, sappy piece of timber lying in the water, and a man were to come along with an upper fire-stick, thinking, 'I'll light a fire. I'll produce heat.' Now what do you think? Would he be able to light a fire and produce heat by rubbing the upper fire-stick in the wet, sappy timber lying in the water?" "No, master Gotama. Why is that? Because the timber is wet & sappy, and besides it is lying in the water. Eventually the man would reap only his share of weariness & disappointment." "So it is with any priest or contemplative who does not live withdrawn from sensuality in body & mind, and whose desire, infatuation, urge, thirst, & fever for sensuality is not relinquished & stilled within him: Whether or not he feels painful, racking, piercing feelings due to his striving [for Awakening], he is incapable of knowledge, vision, & unexcelled self-awakening. This was the first simile -- spontaneous, never before heard -- that appeared to me. "Then a second simile -- spontaneous, never before heard -- appeared to me. Suppose there were a wet, sappy piece of timber lying on land far from water, and a man were to come along with an upper fire-stick, thinking, 'I'll light a fire. I'll produce heat.' Now what do you think? Would he be able to light a fire and produce heat by rubbing the upper fire-stick in the wet, sappy timber lying on land far from water?" "No, master Gotama. Why is that? Because the timber is wet & sappy, even though it is lying on land far from water. Eventually the man would reap only his share of weariness & disappointment." "So it is with any priest or contemplative who lives withdrawn from sensuality in body only, but whose desire, infatuation, urge, thirst, & fever for sensuality is not relinquished & stilled within him: Whether or not he feels painful, racking, piercing feelings due to his striving, he is incapable of knowledge, vision, & unexcelled self-awakening. This was the second simile -- spontaneous, never before heard -- that appeared to me. "Then a third simile -- spontaneous, never before heard -- appeared to me. Suppose there were a dry, sapless piece of timber lying on land far from water, and a man were to come along with an upper fire-stick, thinking, 'I'll light a fire. I'll produce heat.' Now what do you think? Would he be able to light a fire and produce heat by rubbing the upper fire-stick in the dry, sapless timber lying on land?" "Yes, master Gotama. Why is that? Because the timber is dry & sapless, and besides it is lying on land far from water." "So it is with any priest or contemplative who lives withdrawn from sensuality in body & mind, and whose desire, infatuation, urge, thirst, & fever for sensuality is relinquished & stilled within him: Whether or not he feels painful, racking, piercing feelings due to his striving, he is capable of knowledge, vision, & unexcelled self-awakening. This was the third simile -- spontaneous, never before heard -- that appeared to me. (Contents) |
| Này Aggivessana, rồi
Ta suy nghĩ: "Ta hăy nghiến răng, dán chặt lên lưỡi lên nóc họng, lấy tâm
chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm!" Này Aggivessana, rồi Ta nghiến
răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh
bại tâm. Khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế
ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ nơi nách của Ta.
Này Aggivessana, như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu hay nắm
lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục và đánh bại người ấy. Này Aggivessana,
khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm,
nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ nơi nách của Ta, này
Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm
được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được
khinh an, v́ Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ
ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng
không chi phối tâm Ta. Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta hăy tu Thiền nín thở". Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi, th́ một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này Aggivessana, ví như tiếng kinh khủng phát ra từ ống thổi bệ đang thổi của người thợ rèn. Cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi, thời một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị kích động, không được khinh an, v́ Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta hăy tu thêm Thiền nín thở". Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi, và ngang qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, th́ có ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Aggivessana, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc, cũng vậy, này Aggivessana, khi ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, th́ có ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, v́ Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau : "Ta hăy tu thêm Thiền nín thở". Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu, một cách kinh khủng. Này Aggivessana, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tṛn quanh đầu rồi xiết mạnh; cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi, và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu một cách kinh khủng. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, v́ Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta hăy tu thêm Thiền nín thở". Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Aggivessana, ví như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt ḅ sắc bén. Cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dẫu cho niệm được an trú, không dao động nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, v́ Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại, nhưng không chi phối tâm Ta. Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta hăy tu thêm Thiền nín thở". Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, th́ có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân Ta. Này Aggivessana, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm cánh tay một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai th́ có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân Ta. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú, không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, v́ Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Lại nữa, này Aggivessana, chư Thiên thấy vậy nói như sau: "Sa-môn Gotama đă chết rồi". Một số chư Thiên nói như sau: "Sa-môn Gotama chưa chết, nhưng Sa-môn Gotama sắp sửa chết". Một số chư Thiên nói như sau: "Sa-môn Gotama chưa chết. Sa-môn Gotama, cũng không phải sắp chết. Sa-môn Gotama là bậc A-la-hán, đời sống của một A-la-hán là như vậy". Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta hăy hoàn toàn tuyệt thực". Rồi này Aggivessana, chư Thiên đến Ta và nói như sau: "Này Thiện hữu, Hiền giả chớ có hoàn toàn tuyệt thực. Này Thiện hữu, nếu Hiền giả có hoàn toàn tuyệt thực, chúng tôi sẽ đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Hiền giả, và nhờ vậy Hiền giả vẫn sống". Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu Ta hoàn toàn tuyệt thực và chư Thiên này đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Ta và nhờ vậy Ta vẫn sống, thời như vậy Ta tự dối Ta". Này Aggivessana, Ta bác bỏ chư Thiên ấy và nói: "Như vậy là đủ". Này Aggivessana, rồi Ta tự suy nghĩ như sau: "Ta hăy giảm thiểu tối đa ăn uống, ăn ít từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu nhỏ". Và này Aggivessana, trong khi Ta giảm thiểu tối đa sự ăn uống, ăn từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu nhỏ, thân của Ta trở thành hết sức gầy yếu. V́ Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những gọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo; v́ Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà; v́ Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh; v́ Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy ṃn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát; v́ Ta ăn quá ít, nên con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu; v́ Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nhiu khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nhíu khô cằn. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: "Ta hăy rờ da bụng", th́ chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hăy rờ xương sống", th́ chính da bụng bị Ta nắm lấy. V́ Ta ăn quá ít, nên này Aggivessana, da bụng của Ta đến bám chặt xương sống. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện, hay đi tiểu tiện" th́ Ta ngă qu? úp mặt xuống đất, v́ Ta ăn quá ít. Này Aggivessana, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, th́ này Aggivessana, trong khi Ta xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, v́ Ta ăn quá ít. Lại nữa, này Aggivessana, có người thấy vậy nói như sau: "Sa-môn Gotama có da đen". Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama, da không đen, Sa-môn Gotama có da màu xám". Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama da không đen, da không xám." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama da không đen, da không xám, Sa-môn Gotama có da màu vàng sẫm". Cho đến mức độ như vậy, này Aggivessana, da của Ta vốn thanh tịnh, trong sáng bị hư hoại v́ Ta ăn quá ít. (Contents) |
"I thought: 'Suppose
that I, clenching my teeth and pressing my tongue against the roof of my
mouth, were to beat down, constrain, & crush my mind with my awareness.' So,
clenching my teeth and pressing my tongue against the roof of my mouth, I
beat down, constrained, & crushed by mind with my awareness. Just as a
strong man, seizing a weaker man by the head or the throat or the shoulders,
would beat him down, constrain, & crush him, in the same way I beat down,
constrained, & crushed my mind with my awareness. As I did so, sweat poured
from my armpits. And although tireless persistence was aroused in me, and
unmuddled mindfulness established, my body was aroused & uncalm because of
the painful exertion. But the painful feeling that arose in this way did not
invade my mind or remain. "I thought: 'Suppose I were to become absorbed in the trance of non-breathing.' So I stopped the in-breaths & out-breaths in my nose & mouth. As I did so, there was a loud roaring of winds coming out my earholes, just like the loud roar of winds coming out of a smith's bellows...So I stopped the in-breaths & out-breaths in my nose & mouth & ears. As I did so, extreme forces sliced through my head, just as if a strong man were slicing my head open with a sharp sword...Extreme pains arose in my head, just as if a strong man were tightening a turban made of tough leather straps around my head...Extreme forces carved up my stomach cavity, just as if a butcher or his apprentice were to carve up the stomach cavity of an ox...There was an extreme burning in my body, just as if two strong men, grabbing a weaker man by the arms, were to roast & broil him over a pit of hot embers. And although tireless persistence was aroused in me, and unmuddled mindfulness established, my body was aroused & uncalm because of the painful exertion. But the painful feeling that arose in this way did not invade my mind or remain. "Devas, on seeing me, said, 'Gotama the contemplative is dead.' Other devas said, 'He isn't dead, he's dying.' Others said, 'He's neither dead nor dying, he's an arahant, for this is the way arahants live.' "I thought: 'Suppose I were to practice going altogether without food.' Then devas came to me and said, 'Dear sir, please don't practice going altogether without food. If you go altogether without food, we'll infuse divine nourishment in through your pores, and you will survive on that.' I thought, 'If I were to claim to be completely fasting while these devas are infusing divine nourishment in through my pores, I would be lying.' So I dismissed them, saying, 'Enough.' "I thought: 'Suppose I were to take only a little food at a time, only a handful at a time of bean soup, lentil soup, vetch soup, or pea soup.' So I took only a little food at a time, only handful at a time of bean soup, lentil soup, vetch soup, or pea soup. My body became extremely emaciated. Simply from my eating so little, my limbs became like the jointed segments of vine stems or bamboo stems...My backside became like a camel's hoof...My spine stood out like a string of beads...My ribs jutted out like the jutting rafters of an old, run-down barn...The gleam of my eyes appeared to be sunk deep in my eye sockets like the gleam of water deep in a well...My scalp shriveled & withered like a green bitter gourd, shriveled & withered in the heat & the wind...The skin of my belly became so stuck to my spine that when I thought of touching my belly, I grabbed hold of my spine as well; and when I thought of touching my spine, I grabbed hold of the skin of my belly as well...If I urinated or defecated, I fell over on my face right there...Simply from my eating so little, if I tried to ease my body by rubbing my limbs with my hands, the hair -- rotted at its roots -- fell from my body as I rubbed, simply from eating so little. "People on seeing me would say, 'Gotama the contemplative is black. Other people would say, 'Gotama the contemplative isn't black, he's brown.' Others would say, 'Gotama the contemplative is neither black nor brown, he's golden-skinned. So much had the clear, bright color of my skin deteriorated, simply from eating so little. (Contents) |
| Này Aggivessana, rồi
Ta suy nghĩ như sau: "Thuở xưa có những Sa-môn hay Bà-la-môn th́nh ĺnh cảm
thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ
này là tối thượng, không thể có ǵ hơn nữa. Về tương lai, có những Sa-môn
hay Bà-la-môn th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch
liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng không thể có ǵ hơn nữa.
Trong hiện tại, có những Sa-môn hay Bà-la-môn th́nh ĺnh cảm thọ những cảm
giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối
thượng, không thể có ǵ hơn nữa. Nhưng Ta, với sự khổ hạnh khốc liệt như thế
này, vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc
Thánh. Hay là có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?" Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc gịng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ". Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: "Đạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?" Và này Aggivessana, tiếp theo ư niệm ấy, ư thức này khởi lên nơi Ta: "Đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ". Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Ta có sợ chăng lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện?" Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Ta không sợ lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện". Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ: "Nay thật không dễ ǵ chứng đạt lạc thọ ấy, với thân thể ốm yếu kinh khủng như thế này. Ta hăy ăn thô thực, ăn cơm chua". Rồi này Aggivessana, Ta ăn thô thực, ăn cơm chua. Này Aggivessana, lúc bấy giờ, năm Tỷ-kheo đang hầu hạ Ta suy nghĩ: "Khi nào Sa-môn Gotama chứng pháp, vị ấy sẽ nói cho chúng ta biết". Này Aggivessana, khi thấy Ta ăn thô thực, ăn cơm chua, các vị ấy chán ghét Ta, bỏ đi và nói: "Sa-môn Gotama nay sống đầy đủ vật chất, từ bỏ tinh tấn, trở lui đời sống sung túc". Và này Aggivessana, sau khi ăn thô thực và được sức lực trở lại, Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đă cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, b́nh tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, ḍng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, ḍng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này". Như vậy, Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Aggivessana, đó là minh thứ nhất Ta đă chứng được trong đêm canh một, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, b́nh tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Ta với thiên nhăn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rơ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ư, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. C̣n những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ư, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những vị này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cơi trời, trên đời này. Như vậy Ta với thiên nhăn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta biết rơ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Aggivessana, đó là minh thứ hai Ta đă chứng được trong đêm canh giữa, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, b́nh tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Ta biết như thật: "Đây là Khổ", biết như thật: "Đây là Nguyên nhân của khổ", biết như thật: "Đây là sự Diệt khổ", biết như thật: "Đây là Con đường đưa đến diệt khổ", biết như thật: "Đây là những lậu hoặc", biết như thật: "Đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật: "Đây là sự diệt trừ các lậu hoặc", biết như thật: "Đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc". Nhờ biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đă giải thoát như vậy, Ta khởi lên sự hiểu biết: "Ta đă giải thoát." Ta đă biết: "Sanh đă diệt, phạm hạnh đă thành, việc cần làm đă làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa". Này Aggivessana, đó là minh thứ ba mà Ta đă chứng được trong canh cuối, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Này Aggivessana, Ta biết rằng khi Ta thuyết pháp cho đại chúng gồm hàng trăm người, mỗi người nghĩ như thế này về Ta: "Đặc biệt cho ta, Sa-môn Gotama thuyết pháp". Này Aggivessana, chớ có hiểu như vậy. Khi Như Lai thuyết pháp cho đại chúng, th́ đó chỉ v́ mục đích giảng dạy. Và Ta, này Aggivessana, sau khi chấm dứt một buổi thuyết giảng như vậy, Ta an trú nội tâm, làm cho tịnh chỉ, làm cho nhất tâm, làm cho định tĩnh trên định tướng thứ nhất ấy, và như vậy Ta sống an trú, trường cửu, vĩnh viễn. -- Như vậy, Tôn giả Gotama thật đáng tin cậy, v́ Ngài là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có cho phép ngủ ban ngày không? -- Này Aggivessana, Ta có cho phép, vào cuối tháng hạ, sau khi khất thực về, sau khi xếp áo sanghati (đại y) thành bốn, chánh niệm tỉnh giác, Ta nằm xuống ngủ, nằm phía tay mặt. -- Này Tôn giả Gotama, như vậy một số Sa-môn, Bà-la-môn gọi là an trú nơi si ám. -- Này Aggivessana, như vậy không phải là si ám hay không si ám. Này Aggivessana, như thế nào là si ám và như thế nào là không si ám? Hăy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói. -- Thưa vâng, Tôn giả. Niganthaputta Saccaka trả lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: -- Đối với ai, các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền năo, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hăi, liên hệ đến phiền năo, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hăi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, vị ấy Ta gọi là c̣n si ám. Này Aggivessana, đối với ai các lậu hoặc đă được đoạn trừ, những lậu hoặc, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, vị ấy Ta gọi là không si ám. Này Aggivessana, sự đoạn trừ lậu hoặc là không si ám. Này Aggivessana, đối với Như Lai, các lậu hoặc đă được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền năo, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hăi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, chúng bị cắt tận gốc, được làm như cây ta-la bị chặt đầu, khiến cho không thể tái sanh, không thể sanh lại trong tương lai. Này Aggivessana, ví như cây ta-la bị chặt đứt đầu, không lớn lên; cũng vậy, này Aggivessana, đối với Như Lai, các lậu hoặc đă được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền năo, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hăi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, chúng bị cắt tận gốc, được làm như cây ta-la bị chặt đầu, khiến cho không thể tái sanh, không thể sanh lại trong tương lai. Khi được nghe nói vậy, Niganthaputta Saccaka bạch Thế Tôn: -- Thật kỳ diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Dầu cho Tôn giả Gotama bị chống đối một cách mỉa mai, dầu cho bị công kích với những lời lẽ buộc tội trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ, như một A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này Tôn giả Gotama, tôi xác nhận tôi cùng với Purana Kassapa biện luận, vị này khi bị tôi dùng lời nói chất vấn, liền tránh né với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, và tỏ lộ sự phẫn nộ, sân hận, tức tối. C̣n Tôn giả Gotama, dầu bị chống đối một cách mỉa mai, dầu bị công kích với những lời lẽ buộc tội trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ như một A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này Tôn giả Gotama, tôi xác nhận tôi cùng với Makkhali Gosala... Ajita Kesakambala... Pakudha Kaccayana... Sanjaya Belatthiputta... cùng với Nigantha Nataputta biện luận, vị này khi bị tôi dùng lời nói chất vấn liền tránh né với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề và tỏ lộ sự phẫn nộ, sân hận và tức tối. C̣n Tôn giả Gotama, dầu bị chống đối một cách mỉa mai, dầu bị công kích với những lời lẽ buộc tội, trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ như một A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Và này Tôn giả Gotama, chúng tôi nay phải đi, chúng tôi có nhiều công việc, có nhiều việc phải làm. -- Này Aggivessana, Ông hăy làm những ǵ Ông nghĩ là hợp thời. Rồi Niganthaputta Saccaka hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt. Ḥa thượng Thích Minh Châu dịch Việt -------------------------------------------------------------------------------- Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đă có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (B́nh Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ "The Middle Length Discourses of the Buddha", Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12-06-2004 -------------------------------------------------------------------------------- http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung36.htm |
"I thought: 'Whatever
priests or contemplatives in the past have felt painful, racking, piercing
feelings due to their striving, this is the utmost. None have been greater
than this. Whatever priests or contemplatives in the future will feel
painful, racking, piercing feelings due to their striving, this is the
utmost. None will be greater than this. Whatever priests or contemplatives
in the present are feeling painful, racking, piercing feelings due to their
striving, this is the utmost. None is greater than this. But with this
racking practice of austerities I haven't attained any superior human state,
any distinction in knowledge or vision worthy of the noble ones. Could
there be another path to Awakening?' "I thought: 'I recall once, when my father the Sakyan was working, and I was sitting in the cool shade of a rose-apple tree, then -- quite withdrawn from sensuality, withdrawn from unskillful mental qualities -- I entered & remained in the first jhana: rapture & pleasure born from withdrawal, accompanied by directed thought & evaluation. Could that be the path to Awakening?' Then, following on that memory, came the realization: 'That is the path to Awakening. I thought: 'So why am I afraid of that pleasure that has nothing to do with sensuality, nothing to do with unskillful mental qualities?' I thought: 'I am no longer afraid of that pleasure that has nothing to do
with sensuality, nothing to do with unskillful mental qualities, but it is
not easy to achieve that pleasure with a body so extremely emaciated.
Suppose I were to take some solid food: some rice & porridge.' So I took
some solid food: some rice & porridge. Now five monks had been attending on
me, thinking, 'If Gotama, our contemplative, achieves some higher state, he
will tell us.' But when they saw me taking some solid food -- some rice &
porridge -- they were disgusted and left me, thinking, 'Gotama the
contemplative is living luxuriously. He has abandoned his exertion and is
backsliding into abundance.' With the stilling of directed thought & evaluation, I entered & remained in the second jhana: rapture & pleasure born of composure, unification of awareness free from directed thought & evaluation -- internal assurance. But the pleasant feeling that arose in this way did not invade my mind or remain. With the fading of rapture I remained in equanimity, mindful & alert, and physically sensitive of pleasure. I entered & remained in the third jhana, of which the Noble Ones declare, 'Equanimous & mindful, he has a pleasurable abiding.' But the pleasant feeling that arose in this way did not invade my mind or remain. With the abandoning of pleasure & pain -- as with the earlier
disappearance of elation & distress -- I entered & remained in the fourth
jhana: purity of equanimity & mindfulness, neither pleasure nor pain.
But the pleasant feeling that arose in this way did not invade my mind or
remain. I recollected my manifold past lives, i.e., one birth, two...five,
ten...fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand, many eons of cosmic
contraction, many eons of cosmic expansion, many eons of cosmic contraction
& expansion: 'There I had such a name, belonged to such a clan, had such an
appearance. Such was my food, such my experience of pleasure & pain, such
the end of my life. Passing away from that state, I re-arose there. There
too I had such a name, belonged to such a clan, had such an appearance. Such
was my food, such my experience of pleasure & pain, such the end of my life.
Passing away from that state, I re-arose here.' Thus I remembered my
manifold past lives in their modes & details. |
| (Contents) | |
|
List
Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam) KINH VIÊN GIÁC
(THE SUTRA OF COMPLETE ENLIGHTENMENT ) Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra)
Phẩm nữ giới
KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna
sutta) Kahlil Gibran Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra) 1) Phẩm nữ giới Trung Bộ Kinh 6) trungbokinh6.htm ( Nikaya 35 thru 40)
KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna sutta)
Thiền Sư Và Triết Gia YouTube: Video Kinh Lang Nghiem (audio)
KINH LĂNG NGHIÊM
(Shurangama Sutra) Kinh Hoa Nghiem (audio)
|
|
|
Home | 81 BCND | Freedom4Vietnam | Vietnamese Songs | Vietnamese Students | Our Sponsor
Since 06-27-01
Home |
u2 |
u3 |
u4 |
u5 |
u6 | Big html
|
|