CHUYỆN LIÊN QUAN ĐẾN NỮ NHÂN
3 Tiểu Bộ Kinh -
The Jataka **
|
|
NỮ NHÂN 1 |
NỮ NHÂN 2 | NỮ NHÂN 3 210. Chớ gần gũi người yêu, Trọn đời xa kẻ ghét. Yêu không gặp là khổ, Oán phải gặp cũng đau. 211. Do vậy chớ yêu ai, Ái biệt ly là ác; Những ai không yêu ghét, Không thể có buộc ràng. 212. Do ái sinh sầu ưu, Do ái sinh sợ hăi, Ai thoát khỏi tham ái, Không sầu, đâu sợ hăi? 213. Ái luyến sinh sầu ưu, Ái luyến sinh sợ hăi. Ai giải thoát ái luyến Không sầu, đâu sợ hăi? 214. Hỷ ái sinh sầu ưu, Hỷ ái sinh sợ hăi. Ai giải thoát hỷ ái, Không sầu, đâu sợ hăi? 215. Dục ái sinh sầu ưu, Dục ái sinh sợ hăi, Ai thoát khỏi dục ái, Không sầu, đâu sợ hăi? 216. Tham ái sinh sầu ưu, Tham ái sinh sợ hăi. Ai giải thoát tham ái, Không sầu, đâu sợ hăi? XVI- Piyavagga |
210. Don't consort with dear ones XVI- Piyavagga |
|
http://www.thuvienhoasen.org/ Audio sources: http://suoitumedia1.net/ |
http://www.sacred-texts.com/
|
|
|
|
| 391. Chuyện Vị
Tà Thuật Sư (Tiền thân Dhajavihetha) Dung mạo thanh cao, lại cúi đầu ..., Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc Ngài xuất gia v́ lợi lạc của quần sinh. Hoàn cảnh của câu chuyện sẽ xuất hiện trong Tiền thân Mahàkanha, số 469. Lúc ấy, bậc Đạo Sư bảo: - Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu Như Lai xuất gia v́ ích lợi cho cả cơi đời. Và Ngài kể một chuyện quá khứ. * Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh làm Sakka Thiên chủ. Thời ấy có một tà thuật sư dùng thần lực nửa đêm xâm phạm tiết hạnh của chánh cung hoàng hậu ở Ba-la-nại. Các cung nữ của bà đều biết chuyện này. Chính hoàng hậu đến yết kiến vua và tŕnh: - Tâu Chúa thượng, có kẻ lạ mặt đột nhập cung thất và xúc phạm thần thiếp. - Thế hoàng hậu có thể làm một dấu hiệu nào đó lên kẻ ấy chăng? - Tâu vâng, thiếp có thể. Do đó bà bảo lấy chén son đỏ thắm, khi kẻ ấy đến nửa đêm và ra đi sau cuộc truy hoan, bà hoàng liền in năm dấu ngón tay bà vào lưng y và sáng hôm sau tŕnh vua. Ngài ra lệnh đám vệ sĩ đi t́m khắp nơi mang về kẻ nào có dấu son đỏ trên lưng. Bấy giờ, sau khi phạm tà hạnh ban đêm, tà thuật sư đứng giữa ban ngày ở nghĩa địa thờ phụng mặt trời, quân nhà vua thấy được, bao vây y, song y tưởng rằng hành động của y đă bị mọi người phát giác, liền dùng tà thuật bay lên không. Vua hỏi đám vệ sĩ sau khi chứng kiến việc ấy trở về: - Các ngươi thấy y chăng? - Tâu Chúa thượng, chúng thần có thấy. - Y là ai? - Tâu Chúa thượng, một đạo sĩ. Sau khi phạm tà hạnh ban đêm, y giả dạng làm đạo sĩ ban ngày. Vua nghĩ thầm: "Những kẻ này ban ngày đi quanh quẩn trong chiếc y khổ hạnh, c̣n ban đêm lại phạm tà dục". Do đó vua đâm ra phẫn nộ với các đạo sĩ và chấp thủ tà kiến liền truyền công bố khắp kinh thành bằng trống lệnh rằng mọi đạo sĩ đều phải rời vương quốc, và sẽ bị quân sĩ trừng phạt nếu bị bắt gặp bất kỳ ở đâu. Mọi đạo sĩ khổ hạnh đều chạy trốn khỏi vương quốc Kàsi rộng ba trăm dặm và đến trú ở các kinh thành khác. Do đó không có Sa-môn hay Bà-la-môn chân chánh nào thuyết Pháp cho dân chúng Kàsi, và v́ không nghe được Chánh Pháp, họ trở nên tàn bạo, ghét bỏ bố thí và tŕ giới, phần lớn phải tái sinh vào đọa xứ lúc mạng chung và không được sinh thiên. Sakka Thiên chủ không thấy một vị Thiên tử mới nào xuất hiện, liền xem xét lư do ǵ và thấy chính v́ việc tống xuất các Sa-môn, Bà-la-môn ra khỏi vương quốc do vua Ba-la-nại chấp thủ tà kiến trong lúc phẫn nộ vị tà sư. Sau đó ngài suy nghĩ: "Trừ ta không ai có thể phá hủy tà kiến này của vua. Ta muốn cứu giúp vua và thần dân của nước này". V́ vậy ngài đến gặp các Độc Giác Phật tại động Nandamùla và bảo: - Này các Tôn giả, hăy cho ta một vị Độc Giác Phật Trưởng lăo, ta muốn đi cảm hóa quốc độ Kàsi vào đạo. Ngài mời một vị Trưởng lăo trong các vị ấy ra đi. Khi ngài đă cầm y bát của vị ấy, Thiên chủ Sakka mời vị ấy đi trước, ngài theo sau với dáng điệu cung kính đảnh lễ vị Độc Giáo Phật, ngài biến ḿnh thành một Sa-môn trẻ tuổi, tươi đẹp đi ba ṿng quanh thành phố từ đầu đến cuối, rồi đến trước cổng hoàng cung, ngài đứng trên không. Quân canh đến tŕnh với vua: - Tâu Hoàng thượng, có một Sa-môn trẻ đầy hảo tướng cùng với một Sa-môn đang đứng trên không trung tại hoàng môn. Vua từ bảo tọa đi ra và đứng ở lầu thượng hỏi: - Này đạo sĩ trẻ, tại sao ông tuấn tú như vậy lại cung kính cầm y bát cho một Sa-môn dị tướng thế kia? Rồi vua ngâm vần kệ đầu nói chuyện với ngài: Dung mạo thanh cao, lại cúi đầu, Sau người dị tướng, bước theo hầu, Người này hơn, kém, hay b́nh đẳng, Xin nói tánh danh, trẫm thỉnh cầu. Thiên chủ đáp: - Tâu Đại vương, các Sa-môn ở địa vị của bậc Đạo Sư, vậy nếu ta nêu danh tánh ngài th́ thất lễ, nhưng ta sẽ nói cho Đại vương biết tên ta. Rồi ngài ngâm vần kệ thứ hai: Chư Thiên không nói họ cùng tên Của thiện nhân toàn hảo, Thánh hiền, Riêng chỉ phần ta nêu tước hiệu Sak-ka Thiên chủ của chư Thiên. Vua nghe vậy, liền ngâm vần kệ thứ ba hỏi phước đức ǵ trong sự tôn sùng Đạo Sư: Người kính yêu hiền Thánh vẹn toàn Sau ngài, tiến bước dáng nghiêm trang, Phần ǵ thừa hưởng, này Thiên chủ, Phước đức đời sau sẽ phát ban? Thiên chủ đáp lại vần kệ thứ tư: Người kính yêu hiền Thánh vẹn toàn, Sau ngài, cất bước dáng nghiêm trang, Tiếng khen trần thế nay thừa hưởng, Thiên giới đời sau lúc mạng chung. Vua nghe ḷi Thiên chủ liền dứt bỏ mọi tà kiến và hoan hỷ ngâm vần kệ thứ năm: Mặt trời số phận chiếu hôm nay, Mắt trẫm nh́n Thiên chủ hiển bày Bậc Thánh xuất trần, này Đế Thích, Trẫm làm thiện sự kể từ rày. Sakka Thiên chủ nghe vua tán thán vị Đạo sĩ của ngài, liền ngâm vần kệ thứ sáu: Chân chánh thay sùng bái Thánh nhân, Tâm tư hướng đến trí cao thâm, Giờ đây long nhăn đă chiêm ngưỡng Thiên chủ Sak-ka với Thánh nhân, Mong ước từ nay nhiều phước nghiệp Sẽ là phận sự của minh quân. Nghe vầy, vua ngâm vần kệ cuối cùng: Tư tưởng mang đầy đủ phước ân, Từ nay ḷng dạ trẫm ly sân, Lắng tai nghe ngoại nhân cầu thỉnh, Trẫm nhận lời khuyên nhủ chánh chân, Trẫm sẽ diệt tan ḷng ngă mạn, Phụng thờ Thiên chủ, dạ tôn sùng. Sau khi nói xong, vua từ thượng lầu bước xuống, đảnh lễ vị Độc Giáo Phật và đứng một bên. Vị Độc Giáo Phật ngồi bắt chéo chân trên không và nói: - Thưa Đại vương, tà thuật sư không phải là đạo sĩ. Từ rày phải nhận thức người đời không phải toàn giả dối, c̣n có các Sa-môn Bà-la-môn chân thiện, do vậy hăy bố thí, tuân thủ Giới luật và thành tŕ các ngày trai giới (Bố-tát). Ngài thuyết Pháp cho vua như vậy, c̣n Sakka Thiên chủ cũng dùng thần lực đứng trên không thuyết Pháp cho quần chúng: - Từ nay về sau, hăy nhiệt tâm tinh cần. Ngài truyền ban hồi trống ra lệnh khắp kinh thành cho các Sa-môn, và Bà-la-môn đă đi trốn phải hồi hương. Sau đó cả hai vị trở về cơi của ḿnh. C̣n vua tuân thủ lời khuyến giáo và thực hành các phước nghiệp. * Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật và nhận diện Tiền thân: - Thời ấy, vị Độc Giáo Phật đắc Niết-bàn, vua là Ànanda và Ta chính là Sakka Thiên chủ. -ooOoo- (Contents) |
|
| 392. Chuyện Củ
và Hoa Sen (Tiền thân Bhisapuppha) Ngài không được phép ngửi hương hoa..., Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo. Chuyện kể rằng vị Tỷ-kheo ấy đă rời Kỳ Viên và trú tại quốc độ Kosala gần một khu rừng. Một hôm ông xuống hồ sen, khi thấy một hoa sen, ông đứng tránh gió và ngửi mùi hương sen. Vị nữ Thần ở trong khu rừng ấy đe dọa ông: - Này Tôn giả, ngài ngửi trộm hương, đây là một h́nh thức trộm cắp. Ông hoảng sợ trở về Kỳ Viên, đến vái chào bậc Đạo Sư và ngồi xuống một bên. - Này Tỷ-kheo, lâu nay ông ở đâu? - Bạch Thế Tôn, ở trong rừng nọ, và vị nữ Thần đe dọa con như vậy. Bậc Đạo Sư bảo: - Ông không phải là người đầu tiên bị nữ Thần đe dọa khi ngửi hương hoa. Các bậc trí ngày xưa cũng đă từng bị đe dọa như vậy. Và theo lời thỉnh cầu của vị Tỷ-kheo, ngài kể một chuyện quá khứ. * Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh vào một gia đ́nh Bà-la-môn ở Kàsi. Khi lớn lên, ngài học các nghệ thuật ở Đại học Takkasilà và sau đó trở thành nhà khổ hạnh sống gần một ao sen. Một hôm ngài bước xuống ao và đứng ngửi một đóa hoa đang nở, một nữ Thần ở trong hốc cây gần đó ngâm vần kệ đầu đe dọa ngài: Ngài không được phép ngửi hương hoa, Dù chỉ một hoa mới nở ra, Đó thật là h́nh thức đạo tặc, Sa-môn, ngài trộm ngửi hương hoa. Bồ-tát liền ngâm vần kệ thứ hai: Ta chẳng hái, không bẻ găy hoa, Mùi hương ta ngửi tự đằng xa, Ta không thể bảo nào duyên cớ Nàng nói ta đang ngửi trộm hoa. Cùng lúc ấy, có một người đang đào bới ngó sen và củ sen, làm găy nát thân cây sen. Bồ-tát thấy thế, liền nói: - Nàng gọi một người ngửi mùi hương từ đàng xa là ăn trộm. Sao nàng không nói vậy với người kia? Thế là ngài ngâm vần kệ thứ ba để nói chuyện này: Kẻ nọ đang đào bới củ sen, Phá thân cây găy, đó nh́n xem, Sao nàng không bảo cách hành động Kẻ ấy là bừa băi, thấp hèn? Nữ Thần liền ngâm vần kệ thứ năm và thứ sáu giải thích tại sao nàng không nói với kẻ kia: Những người phóng túng sống buông lơi, Như áo vú em, đáng chán rồi, Ta chẳng nói năng ǵ kẻ ấy, Song ta chiếu cố nói ngài thôi. Khi bỏ dục tham của thế nhân, Và đi t́m cách tịnh thân tâm, Tội dù chỉ nhỏ như đầu tóc Chẳng khác trên trời đám hắc vân! Nghe nữ Thần cảnh báo như vậy, Bồ-tát xúc động ngâm vần kệ thứ sáu: Hiển nhiên Thần nữ hiểu tinh tường, Nên với ta, nàng đă đoái thương, Nếu thấy ta rày c̣n tái phạm, Xin nàng nói nữa, khẩn cầu nàng. Sau đó, nữ Thần ngâm vần kệ thứ bảy: Ta chẳng sống đây phụng sự ngài, Chúng ta không ở mướn cho ai, Xin ngài tự kiếm đường đi tới Hạnh phúc tối cao giữa cơi đời. Khích lệ ngài như thế xong, nữ Thần trở về nơi cư trú của nàng. C̣n Bồ-tát nhiệt tâm nhập đại định về sau tái sinh lên cơi Phạm thiên. * Pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo đă được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện Tiền thân: - Thời ấy, nữ Thần là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) và vị khổ hạnh chính là Ta. -ooOoo- (Contents) |
|
| 401. Chuyện
Người Nuốt Lưỡi Kiếm (Tiền thân Dasanaka) Bảo kiếm Da-san thích máu hồng..., Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về âm mưu quyến rủ một Tỷ-kheo do người vợ cũ gây ra. Tỷ-kheo ấy thú nhận đă thối thất v́ lư do này. Bậc Đạo Sư bảo: - Nữ nhân ấy đă làm hại ông. Thời xưa ông cũng đă suưt chết v́ tương tư kẻ ấy. Về sau nhờ các bậc trí ông được cứu sống lại. Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa. * Ngày xưa, khi Đại vương Maddava trị v́ Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh làm con một gia đ́nh Bà-la-môn. Cha mẹ đặt tên ngài là nam tử Senaka. Khi lớn lên, ngài đi học mọi nghệ thuật tại Takkasilà, và khi về Ba-la-nại Ngài trở thành quốc sư của vua Maddava về thế sự cũng như thánh sự. Ngài được danh hiệu bậc Hiền trí Senaka và được cả kinh thành sùng kính như mặt trăng, mặt trời. Thời ấy con trai của vị tế sư hoàng gia đến yết kiến vua, thấy bà chánh hậu trang điểm ngọc vàng cực kỳ diễm lệ, đâm ra si t́nh, khi về nhà chẳng chịu ăn uống ǵ cả, cứ nằm dài ra. Bạn hữu liền hỏi thăm và chàng trai kể hết mọi chuyện. Vua hỏi: - Con trai của vị tế sư hoàng gia không đến, việc này là thế nào? Khi nghe duyên cớ, vua cho gọi chàng trai vào và bảo: - Trẫm trao hoàng hậu cho cậu trong bảy ngày, cứ ở nhà cậu bảy ngày ấy xong, qua ngày thứ tám, cậu trả lại nàng cho ta. - Thế th́ tốt lắm, tâu Đại vương. Chàng trai đáp rồi đem hoàng hậu về nhà thọ hưởng lạc thú với nàng. Hai người đâm ra say mê nhau, và bí mật trốn khỏi nhà chạy sang một xứ khác, không ai biết họ đi đâu và đường đi của họ chẳng khác nào đường của con tàu trên biển cả. Vua truyền đánh trống thông báo khắp kinh thành, nhưng dù đă t́m mọi nơi, họ vẫn không thấy nàng đă đến đâu cả. Sau đó nỗi đau buồn khủng khiếp v́ thiếu nàng xâm chiếm trọn tâm can vua. Tim ông bừng nóng rực và trào máu ra ngoài! Tiếp theo đó, máu từ ruột gan chảy ra khiến bệnh trầm trọng thêm. Các ngự y tài danh đều không thể chữa trị được đành bó tay. Bồ-tát suy nghĩ: "Bệnh này không phải do nội thân vua, mà do vua mắc tương tư v́ không thấy hoàng hậu. Ta thử dùng vài phương cách chữa trị xem sao. "Ngài liền gọi hai quốc sư hiền trí của vua là Àyura và Pukkusa vào bảo: - Đức vua không có bệnh ǵ, ngoại trừ tâm bệnh chỉ v́ ngài không thấy hoàng hậu đó thôi. Giờ đây ngài là bậc cứu hộ cao cả đối với thần dân. Ta quyết t́m mọi cách trị bệnh ngài. Ta muốn triệu tập một đám quần chúng vào sân chầu và bảo một người biết xảo thuật nuốt lưỡi kiếm sắc biểu diễn việc này. Ta sẽ đưa Hoàng thượng ra cửa sổ nh́n xuống đám đông. Ngài sẽ nh́n người nuốt lưỡi kiếm và hỏi: "Có việc ǵ khó hơn thế chăng?". Lúc ấy, này Tôn giả Àyura, xin hăy đáp: "Nói: Ta sẽ từ bỏ vật này vật kia, c̣n khó hơn nữa". Sau đó ngài sẽ hỏi Tôn giả Pukkusa, và Tôn giả cần phải trả lời: Tâu Đại vương, nếu một người nói: "Ta từ bỏ vật này vật kia", rồi lại không bỏ nó được, th́ lời nói đó sẽ vô ích thôi. Không ai sống hay uống ăn bằng những lời như vậy, nhưng người nào hành động theo lời nói và đem cho một vật đúng theo lời hứa th́ chính họ làm được một việc khó hơn việc kia nữa đấy". Sau đó ta sẽ t́m cách tiến hành mọi sự tiếp theo. Thế là ngài bảo tập họp một đám đông. Rồi ba bậc trí nhân ấy vào tŕnh vua: - Tâu Đại vương, có đám đông trong sân chầu. Nếu ai nh́n xuống đó đổi sầu làm vui. Vậy xin Đại vương hăy cùng chúng thần đến đó xem sao. Ba vị rước vua đến hé mở cửa sổ cho vua nh́n thấy đám đông. Nhiều người lần lượt biểu diễn các xảo thuật mà ḿnh biết. Sau cùng có một người nuốt lưỡi kiếm sắc cạnh dài ba mươi ba phân (33 phân Anh: khoảng 80 cm). Vua thấy vậy suy nghĩ: "Người này đang nuốt lưỡi kiếm, ta muốn hỏi các bậc trí nhân này xem có việc ǵ khó hơn không?" Rồi vua ngâm vần kệ đầu hỏi Àyura: 1. Bảo kiếm Da-san thích máu hồng, Cạnh đều sắc nhọn thật hoàn toàn, Giữa đông người, nó ăn thanh kiếm, Chẳng có việc nào khó nữa chăng? Ta hỏi có ǵ đem sánh được Nhờ khanh giải đáp, hởi hiền nhân. Àyura ngâm vần kệ thứ hai đáp lời: 2. Ḷng tham dụ kẻ nuốt thanh gươm, Cho dẫu lưỡi gươm bén thập toàn, Song nói: "Ta cho, ḷng tự nguyện" Là điều khó thực hiện vô cùng, Mọi điều ǵ khác đều không khó, Đại đế Kiệt-đà, tôi giải phân. Khi vua nghe lời Àyura, ông liền suy nghĩ: "Thế th́ bảo: "Ta cho vật này" c̣n khó hơn nuốt thanh kiếm. Vậy ta đă nói: "Ta ban hoàng hậu cho con trai tế sư", tức là ta đă làm một việc rất khó". Nhờ thế nỗi đau buồn trong tâm vua lắng dịu được một chút. Rồi suy nghĩ: "Có ǵ khó hơn nói: "Ta cho người khác vật này" chăng?", ông lại ngâm vần kệ thứ ba nói chuyện với Trí giả Pukkusa: 3. Ày-ra đă giải đáp lời ta, Trí tuệ cao siêu quả thật là, Ta hỏi giờ đây câu nữa nhé: C̣n ǵ khó nữa hỡi, Pusk-sa, Nếu đem so sánh điều trên ấy, Hiền giả, xin mời giải đáp ta. Trí giả Pukkusa ngâm vần kệ thứ tư đáp lại: 4. Người ta không sống được bằng lời, Lời nói thốt ra uổng phí thôi, Song nếu đem cho không tiếc nuối, Việc này c̣n khó bội hơn rồi. Mọi điều ǵ khác đều không khó, Đại đế, đây lời đáp của tôi. Vua nghe vầy, suy nghĩ: "Trước tiên ta nói: "Ta sẽ đem hoàng hậu ban cho con trai tế sư", rồi ta đă làm theo lời hứa và đem cho nàng. Hiển nhiên ta đă làm một việc rất khó". Do vậy, nỗi sầu của vua giảm bớt phần nào. Rồi ông chợt nghĩ: "Không có ai thông thái hơn Trí giả Senaka. Ta muốn hỏi vị ấy câu này". Ông liền ngâm vần kệ thứ năm hỏi ngài: 5. Puk-sa đă giải đáp lời ta, Trí tuệ cao siêu quả thật là. Ta hỏi giờ đây câu nữa nhé: C̣n ǵ khó nữa, hỡi Sen-ka, Nếu đem so sánh điều trên ấy, Hiền giả xin mời giải đáp ta. Senaka ngâm vần kệ thứ sáu đáp lời vua: 6. Nếu người có của đă đem cho Bất luận là ǵ, dẫu nhỏ to, Đừng tiếc nuối sau khi bố thí, Việc này quả thật khó hơn mà, Mọi điều ǵ khác đều không khó, Xin đáp Đại vương Ma-kiệt-đà. Vua nghe lời Bồ-tát, lại suy nghĩ: "Ta đă đem hoàng hậu ban cho con trai tế sư do ta tự nguyện, nay ta lại không kiềm nỗi ưu tư, ta sinh phiền năo, héo ṃn: thật không xứng đáng với ta. Nếu nàng thương yêu ta th́ nàng đă không bỏ vương quốc mà chạy trốn như vậy. Ta c̣n phải liên hệ ǵ với nàng đă không yêu thương ta và bỏ trốn đi?". Trong lúc vua suy nghĩ như vậy, mọi sầu năo đều rơi rụng hết như giọt nước đổ trên lá sen, lập tức tâm vua được b́nh an. Ông hồi phục sức khỏe và an lạc ngâm vần kệ cuối cùng tán thán Bồ-tát: 7. Ày-ra giải đáp lời ta, Thế rồi Hiền giả Puk-sa cũng vầy, Lời Sen-ka quả thật hay, Trong ba lời giải lời này tối ưu. Sau khi tán thán, vua hoan hỷ ban thưởng ngài nhiều vàng bạc châu báu. * Khi pháp thoại chấm dứt, Bậc Đạo Sư tuyên thuyết các sự thật. Khi các sự thật kết thúc, vị Tỷ-kheo thối thất đă được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện tiền thân: - Thời ấy, hoàng hậu là người vợ cũ, vua là là Tỷ-kheo thối thất, Àyura là Moggallàna, Pukkusa là Sàriputta và Hiền giả Senaka chính là Ta. -ooOoo- (Contents) |
|
| 402. Chuyện Túi
Da Đựng Bánh (Tiền thân Sattubhasta) Tâm tư lăo rối loạn, ưu phiền..., Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự Viên măn của Trí tuệ Tối thắng. Hoàn cảnh chuyện này sẽ xuất hiện trong tiền thân Mahà-Ummagga, số 546. * Ngày xưa có vị vua tên là Janaka trị v́ ở Ba-la-nại. Thời ấy Bồ-tát được sinh vào một gia đ́nh Bà-la-môn, cha mẹ đặt tên ngài là nam tử Senaka. Khi lớn lên, ngài theo học các nghệ thuật tại Takkasilà rồi trở về Ba-la-nại yết kiến vua. Vua phong cho ngài chức vụ đại thần và ban cho ngài đại vinh hiển. Ngài dạy vua về thế sự lẫn thánh sự. Là người thuyết Pháp khả ái, ngài an trú vua vào Ngũ giới, bố thí và hành tŕ trai giới và Thập thiện đạo, như vậy tức là an trú vua vào chánh hạnh. Toàn quốc độ được ở cảnh như thời có chư Phật xuất hiện. Vào các ngày trai giới nửa tháng một lần, nhà vua, các phó vương, cận thần đều tụ tập và trang hoàng pḥng họp. Bồ-tát thuyết Pháp trong một giảng đường tôn nghiêm trên bảo tọa bọc da nai, với uy lực của một vị Phật, lời ngài dạy chẳng khác ǵ lời dạy của chư Phật. Thời ấy có một Bà-la-môn già nua, xin tiền bố thí được một ngàn đồng, để dành trong một gia đ́nh Bà-la-môn, rồi lại làm hành khất thêm nữa. Khi ông ra đi, gia đ́nh nọ tiêu hết cả tiền. Sau đó ông trở lại đ̣i số tiền. V́ gia chủ không có tiền trả, nên gả con gái cho ông làm vợ. Vị Bà-la-môn già đem nàng về cư ngụ trong một làng Bà-la-môn không xa Ba-la-nại. V́ cô vợ c̣n trẻ nên không thỏa măn- tham dục và phạm tà hạnh với một Bà-la-môn trẻ. |
http://books.google.com/books?i&hl=en
|
| Ở đời có mười sáu việc không thể nào thỏa măn. Đó là mười sáu việc ǵ? - 1) Biển không thỏa măn với
các ḍng sông,
|
http://books.google.com/books?i&hl=en
There are sixteen things that cannot be satisfied; and what are these sixteen? 1) The sea is not satisfied with all rivers |
| 411. Chuyện Vua
Suśma (Tiền thân Suśma) Tóc ta đen nhánh từ ngày xưa..., Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về Đại sự Xuất thế. Tăng chúng lúc ấy đang ngồi trong Chánh pháp đường tán thán Đại sự Xuất thế của đức Phật. Khi thấy đây là chủ đề của các vị, Ngài bảo: - Này các Tỷ-kheo, không lạ ǵ ngày nay ta lại làm Đại sự Xuất thế và giă từ thế tục, khi Ta đă thực hành các công hạnh viên măn (Ba-la-mật) trong hàng trăm ngàn kiếp, mà ngày xưa Ta cũng từ bỏ ngai vàng tại quốc độ Kàsi rộng ba trăm dặm và làm Đại sự Xuất thế. Và v́ vậy Ngài kể câu chuyện đời xưa. * Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát nhập mẫu thai của bà vợ vị tế sư hoàng gia. Trong ngày sinh ra ngài, hoàng hậu cũng sinh một con trai. Vào ngày lễ đặt tên, bậc Đại Sĩ được gọi là Nam tử Suśma, và hoàng nam được đặt tên Vương tử Brahmadatta. Vua thấy đôi trẻ cùng sinh ra một ngày nên truyền đưa Bồ-tát giao cho nhũ mẫu cùng nuôi chung với vương tử. Cả hai trẻ lớn lên tươi đẹp như các Thiên tử trên trời. Cả hai đều học đủ mọi ngành nghệ thuật ở Takkasilà và trở về nhà. Vương tử trở thành phó vương, cùng ăn uống, sống chung với Bồ-tát. Lúc vua cha băng hà, hoàng tử lên làm vua, ban cho Bồ-tát mọi vinh hiển và phong chức tế sư hoàng gia. Một hôm tân vương truyền trang hoàng cả kinh thành, rồi được tô điểm rực rỡ như Sakka Thiên chủ, vua tham dự đám rước quanh kinh thành, ngự trên vai vương tượng chẳng khác nào bảo tượng Eràvana của Thiên chủ, trong niềm tự hào cùng với Bồ-tát ngồi phía sau trên lưng voi. Mẫu hậu nh́n ra từ cửa sổ trông thấy hoàng nam và chợt thấy vị tế sư sau lưng vua khi ngài từ đám rước trở về. Bà đâm ra si t́nh ngài, liền đi vào hậu cung nghĩ thầm: "Nếu ta không chiếm được chàng, ta sẽ chết tại đây". V́ thế bà bỏ ăn uống và cứ nằm tại đó. Vua không thấy mẹ liền hỏi thăm, khi nghe bà bị bệnh, vua đến hỏi thăm và cung kính hỏi bà bị bệnh ǵ. Bà không nói v́ hổ thẹn. Vua liền ngự lên ngai, truyền chánh cung hoàng hậu đi t́m hiểu xem thái hậu bị bệnh ǵ. Hoàng hậu đến, vừa hỏi thăm, vừa vuốt ve lưng mẫu hậu. Nữ nhân thường không dấu nhau các chuyện bí mật, v́ thế chuyện bí mật kia được tiết lộ. Hoàng hậu liền đi tŕnh vua. Vua bảo: - Được rồi, ái khanh đi an ủi mẫu hậu, ta sẽ tôn vị tế sư lên làm vua và mẫu hậu lên làm chánh hậu của ngài. Hoàng hậu liền đến an ủi thái hậu. Vua truyền mời vị tế sư đến kể lại vấn đề: - Này Hiền hữu, hăy cứu mạng mẹ ta, khanh sẽ làm vua và mẹ ta sẽ lên làm chánh hậu, c̣n ta sẽ làm phó vương. Vị tế sư đáp: - Không thể được. Song cứ bị khẩn cầu măi, ngài bằng ḷng và vua tôn ngài lên làm vua, mẫu hậu làm chánh hậu và chính ḿnh làm phó vương. Tất cả mọi người đều sống ḥa hợp, song Bồ-tát khô héo dần giữa cuộc sống tại gia. Ngài từ bỏ mọi dục lạc và hướng về đời tu hành. Chẳng c̣n màng các lạc thú trần gian, ngài đi đứng nằm ngồi như tù nhân bị giam lỏng hay con gà trống trong ḷng son. Chánh hậu suy nghĩ: "Hoàng thượng tránh mặt ta, ngài đi đứng nằm ngồi một ḿnh, giờ đây ngài vẫn tươi trẻ, c̣n ta đă già và có tóc bạc. Giả sử ta kể cho ngài nghe chuyện ngài đă có tóc bạc, khiến cho ngài tin chuyện ấy và đến bầu bạn với ta chăng?" Một hôm, làm như thể lau đầu vua, bà nói: - Hoàng thượng sắp già rồi đấy, có sợi tóc bạc trên đầu hoàng thượng! - Hăy nhổ nó ra và đặt vào tay trẫm. Hoàng hậu nhổ một sợi tóc, nhưng lại ném nó đi và đặt vào tay ngài một sợi tóc bạc của bà. Khi thấy nó, nỗi sợ chết khiến mồ hôi đổ ra chảy xuống trán ngài, dù vầng trán bóng láng như một phiến vàng, ngài tự nhủ ḿnh: "Này Suśma, ngươi đă già cỗi ngay tuổi thanh xuân, suốt bấy lâu nay ngươi ch́m sâu vào vũng bùn dục lạc như thể con heo vùng quê lặn lội trong đầm lầy dơ bẩn, ngươi không thể xa rời bùn nhơ được. Hăy rời bỏ tham dục, và sống đời khổ hạnh ở vùng Tuyết Sơn. Nay đă đến thời xuất gia rồi". Cùng với ư tưởng này, ngài ngâm vần kệ đầu: 1. Tóc ta đen nhánh tự ngày xưa Vẫn mọc quanh vần trán của ta, Bạc trắng giờ đây, lưu ư nhé: Đến thời tu tập giă từ nhà. Như thế Bồ-tát ca tụng đời tu hành, nhưng hoàng hậu thấy bà đă làm cho ngài rời bỏ bà chứ không phải yêu thương bà, nên ḷng sợ hăi, bà muốn cản trở ngài sống đời xuất gia, bằng cách ngâm hai vần kệ ca tụng dung sắc ngài: 2. Tóc bạc thiếp đây, chẳng phải chàng, Từ trên đầu thiếp mới đưa sang, V́ chàng, thiếp nói điều hư vọng, Xin lượng thứ cho lỗi thiếp làm. 3. Trông chàng tươi đẹp, dáng thanh tân Như một cây non trẻ giữa xuân, Hăy trị nước nhà, cười với thiếp, Đừng t́m việc của tuổi thu đông! Nhưng Bồ-tát đáp: - Này hoàng hậu, bà đang nói đến những việc phải xảy đến: Khi tuổi tác chín muồi, tóc đen này phải ngă màu bạc như vôi, ta thấy sự biến hoại của xác thân theo năm tháng lúc đến tuổi lăo thành, từ công nương cho đến mọi người khác, dù có dịu mềm như tràng hoa sen xanh, sáng đẹp như vàng ṛng, và say sưa với niềm kiêu hănh về tuổi xuân rực rỡ của ḿnh. Này hoàng hậu, đó là kết thúc đáng sợ của mọi loài hữu t́nh. Hơn nữa, muốn tŕnh bày chân lư với oai lực của một vị Phật, ngài ngâm hai vần kệ: 4. Ta thường trông thiếu nữ xuân th́, Uyển chuyển như cành lả lướt kia, Kiêu mạn v́ h́nh dung diễm lệ, Mọi người say ngắm bước chân đi. 5. Cũng chính nàng kia, ta ngắm trông (Trải qua đă tám, chín mươi năm) Run run chân bước, tay cầm gậy, Thân thể c̣ng như ngọn liễu rung. Trong vần kệ này bậc Đại Sĩ nêu rơ nỗi khổ đau của dung sắc và giờ đây ngài tuyên bố nỗi bất măn của ngài với đời tại gia: 6. Những ư tưởng này ta xét luôn, Tư duy vẫn đến giữa đêm đơn, Đời người thế tục ta không chuộng, Đúng lúc tu hành phải bước chân. 7. Dục lạc trong đời sống thế nhân Là nơi hèn yếu để nương thân, Trí nhân cắt đứt, theo đường khác, Bỏ dục lạc đầy đủ lực hùng. Như vậy trong khi tuyên bố các lạc thú lẫn khổ đau của tham dục, ngài giảng bày chân lư với vẻ kỳ diệu của bậc Giác Ngộ, rồi ngài truyền đi mời thân hữu của ngài đến nhận lại vương quốc: ngài từ giă vinh quang và quyền lực giữa tiếng than khóc vang rền của thân bằng quyến thuộc, rồi trở thành bậc hiền nhân khổ hạnh ở vùng Tuyết Sơn, và về sau chứng đắc Thiên định, ngài được tái sinh lên cơi Phạm thiên. * Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự thật và đem lại nguồn nước bất tử cho nhiều người, rồi Ngài nhận diện tiền thân: - Thời ấy, chánh hậu là mẫu thân Ràhula, vua là Ánanda và vua Suśma chính là Ta. -ooOoo- (Contents) |
|
| 416.
Chuyện Cận Thần Parantapa (Tiền thân Parantapa) Lo sợ kinh hoàng trong trí ta..., Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Trúc Lâm về âm mưu của Tỷ-kheo Devadatta định giết Ngài. Tăng chúng bàn luận tại Chánh pháp đường: - Này các Hiền giả, Tỷ-kheo Devadatta dự định giết đức Như Lai, vị ấy đă thuê bọn xạ thủ, ném đá trên núi xuống, thả voi say Nàgàgiri và dùng nhiều phương tiện diệt đức Như Lai. Bậc Đạo Sư bước vào hỏi đề tài thảo luận của các vị lúc ngồi đây. Khi các vị tŕnh bày xong, Ngài bảo: - Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu các kẻ ấy dự định mưu sát ta. Song kẻ ấy không đủ khả năng thậm chí làm ta lo sợ, mà chỉ tạo khổ đau cho bản thân ḿnh thôi. Và do vậy Ngài kể câu chuyện đời xưa. * Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị v́ tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh làm vương tử của chánh hậu. Khi lớn lên, ngài học tập đủ mọi nghệ thuật ở Takkasilà và biết được thần chú hiểu tiếng kêu của súa vật. Sau khi lời thầy dạy đầy đủ, ngài trở về Ba-la-nại. Phụ vương phong ngài chức phó vương, nhưng dù vua đă làm như vậy, vua lại mong mỏi giết hại ngài và thậm chí không muốn nh́n thấy ngài nữa. Thời ấy, một chó rừng cái đem hai chó con vào kinh thành theo một đường cống ban đêm, lúc mọi người đều nghỉ ngơi. Trong cung của Bồ Tát cạnh tư thất ngài, có căn pḥng dành cho một người khách, kẻ ấy đă cởi giầy ra và đặt trên sàn nhà bên chân ḿnh rồi nằm trên tấm ván, nhưng chưa ngủ. Bầy chó con đói và kêu khóc. Mẹ chúng bảo theo giọng chó rừng: - Này các con đừng làm ồn, có một người trong pḥng kia, có một người trong pḥng kia đă cởi giầy ra và đặt trên sàn nhà. Ông ta đang nằm trên tấm ván nhưng chưa ngủ. Khi ông ta ngủ rồi, mẹ sẽ đến lấy đôi giầy cho các con ăn. Nhờ thần chú, Bồ-tát hiểu tiếng chó rừng và rời pḥng ḿnh, mở cửa sổ gọi: - Ai ở trên đó? - Tâu Điện hạ, thần là một lữ khách. - Thế giày của ông đâu? - Tâu, ở trên sàn. - Hăy lấy giày treo lên. Nghe lời này, chó mẹ nổi giận với Bồ-tát. Một hôm nó lại vào thành theo cách trên. Hôm ấy có kẻ say rượu bước xuống nước trong một hồ sen, rồi té vào đó chết ch́m. Kẻ ấy có hai chiếc áo đang mặc trên người, một ngàn đồng tiền để ở áo trong và một chiếc nhẫn trên ngón tay. Bầy chó con lại kêu khóc đ̣i ăn. Mẹ chúng bảo: - Im đi các con, có một người chết trong hồ sen này, ông ta có nhiều của cải như vậy mà đang nằm trong hồ sen, mẹ sẽ cho các con ăn thịt ông ta. Bồ-tát nghe tiếng chó, mở cửa sổ ra hỏi: - Ai trong pḥng kia? Một người thức dậy thưa: - Chính tiểu thần. - Hăy đi lấy bộ áo, ngàn đồng tiền và chiếc nhẫn trên người đang nằm chết ở hồ sen đằng kia và làm cho xác ch́m xuống để nó khỏi nổi lên mặt nước. Người kia tuân lệnh làm theo. Chó rừng liền tức giận ngài: - Hôm trước ngài cản trở các con tôi ăn đôi giày, hôm nay ngài lại cản chúng tôi ăn xác chết. Được lắm, vào ngày thứ ba kể từ đây, một địch vương sẽ đến bao vây kinh thành, phụ vương ngài sẽ truyền ngài ra trận, họ sẽ chặt đầu ngài. Tôi sẽ uống máu từ cổ ngài cho hả giận: ngài tự biến ḿnh thành kẻ thù của tôi, vậy tôi quyết chí trả thù. Như vậy chó cái vừa sủa vừa nhục mạ Bồ-tát. Rồi nó đem các con đi. Vào ngày thứ ba, vị địch vương đến bao vây kinh thành. Vua bảo Bồ-tát: - Này con thân yêu, hăy ra trận. - Tâu phụ vương, con đă thấy trước một điềm báo hiệu. Con không thể đi v́ sợ rằng con sẽ mất mạng. - Ngươi sống chết có nghĩa ǵ đối với ta? Đi ngay! Bậc Đại Sĩ tuân lệnh. Cùng đem đám gia nhân theo, ngài tránh cổng thành nơi địch vương đang đón quân và đi ra bằng một cổng khác ngài đă mở sẵn. Khi ngài ra đi, cả kinh thành như thể bị bỏ trống v́ mọi người cùng theo ngài. Ngài đóng quân ở một khoảng đất rộng và chờ đợi. Vua suy nghĩ: "Phó vương của ta đă bỏ trống kinh thành và chạy trốn với tất cả quân sĩ của ta, c̣n kẻ thù đang nằm quanh kinh thành. Ta chỉ là kẻ chết rồi". Nghe vua cha đă đào tẩu, Bồ-tát vào thành, đánh bại địch vương và chiếm lại quốc độ. Vua cha lúc ấy dựng lều lá bên bờ sông, sống bằng củ quả rừng. Vua và tế sư thường đi t́m trái cây. C̣n cận thần Parantapa ở lại với hoàng hậu trong lều. Hoàng hậu lúc ấy đang có thai với vua, nhưng v́ thường sống chung với Parantapa nên bà phạm tà hạnh với y. Một hôm bà bảo với y: - Nếu đức vua biết, chàng và thiếp đều không sống được đâu. Vậy hăy giết ngài đi. - Bằng cách nào chứ? - Ngài thường bảo chàng mang kiếm và áo tắm lúc ngài đi tắm, vậy hăy đem ngài đi xa người hộ vệ tại nơi tắm, rồi chặt đầu ngài và lấy kiếm chặt thân ngài thành nhiều khúc xong chôn xuống đất. Y đồng ư. Một hôm vị tế sư đă đi ra t́m quả rừng, ông đă trèo lên một cây to gần nơi vua tắm và đang hái trái. C̣n vua muốn tắm nên ra bờ suối cùng Parantapa mang thanh kiếm và áo tắm của vua. Lúc vua sắp tắm, Parantapa muốn giết vua nhân dịp vua không có người hộ vệ, liền nắm cổ vua và nhấc kiếm lên. Vua sợ chết thét lớn. Vị tế sư nghe tiếng kêu và từ trên cây ông thấy rơ Parantapa đang ám sát vua, nhưng ông cũng quá kinh hoàng vội từ cành cây trụt xuống ẩn ḿnh vào bụi rậm. Parantapa nghe tiếng sột soạt lúc ông trụt xuống, nên sau khi giết vua và chôn xác xong, y suy nghĩ: "Có tiếng ǵ sột soạt từ cành cây trụt xuống gần đây, kẻ nào vậy?". Nhưng không thấy ai, y tắm rửa và ra về. Sau đó vị tế sư bước ra khỏi chỗ ẩn. Nay biết vua đă bị chặt khúc và chôn trong cái hố, ông tắm rửa và v́ lo cho sinh mạng của ḿnh, ông giả mù khi trở về lều. Parantapa thấy ông, liền hỏi việc ǵ đă xảy ra cho ông. Ông giả vờ không nhận biết y và nói: - Tâu Đại vương, tiểu thần trở về với đôi mắt đă mù. Tiểu nhân đă đứng cạnh một tổ kiến trong rừng đầy rắn và hơi thở của một con rắn độc nào đó đă xông vào người tiểu thần. Parantapa nghĩ vị tế sư đang nói chuyện với y như thể nói với vua v́ ông không biết ǵ nữa, nên yên tâm bảo: - Này vị Bà-la-môn, đừng lo, ta sẽ chăm sóc ngài. Rồi y vừa an ủi ông vừa cho ông nhiều quả rừng. Từ đó chính Parantapa đi kiếm trái cây. Về sau hoàng hậu sinh được một hoàng tử. Khi hoàng tử lớn lên, một hôm bà nói chuyện với Parantapa vào lúc tảng sáng nhân dịp ngồi nhàn nhă: - Có ai thấy chàng lúc giết vua chăng? - Không ai thấy ta cả, nhưng ta nghe tiếng động của vật ǵ trụt xuống từ bụi cây nọ, ta không biết đó là người hay vật. Tuy thế, bất cứ lúc nào trong ḷng ta nổi lên mối lo sợ cũng đều do duyên cớ bụi cây sột soạt kia. Rồi y ngâm vần kệ đầu nói chuyện với bà: 1. Lo sợ, kinh hoàng trong trí ta Phát sinh ngay cả chính bây giờ Đều do thuở ấy người hay vật Lay động bụi cây ở chốn kia. Hai người ấy tưởng vị tế sư đă ngủ, nhưng ông đang thức và nghe họ nói chuyện. Một hôm, khi Parantapa đă đi vào rừng hái trái, vị tế sư nhớ đến bà vợ Bà-la-môn của ḿnh, lại ngâm vần kệ thứ hai để than thân: 2. Nhà vợ thân yêu ở cạnh đây, Nhớ thương làm dạ tái tê thay, Như Pa-ran hiện đang gầy ốm V́ sợ lá cành rung động cây. Hoàng hậu hỏi ông đang nói ǵ thế. Ông đáp: - Thần chỉ suy nghĩ trong dạ mà thôi. Nhưng một ngày khác, ông lại ngâm vần kệ thứ ba: 3. Nhà vợ ở Ba-la-nại thành, Thiếu nàng, ta héo hắt thân ḿnh, Như Pa-ran hiện đang xanh tái V́ sợ bụi cây rúng rẩy cành. Một ngày khác nữa ông lại ngâm vần kệ thứ tư: 4. Mắt nàng đen nhánh sáng long lanh, Giọng nói, nụ cười mỉm tuyệt xinh, Hồi tưởng làm ta tê tái dạ Như Pa-ran sợ động cây cành. Theo thời gian, hoàng tử ấu thơ lớn dần đến mười sáu tuổi. Lúc ấy vị Bà-la-môn làm một cây gậy, cùng đi với cậu đến chỗ tắm và mở mắt ra nh́n. Hoàng tử hỏi: - Này vị Bà-la-môn, ông không mù à? - Ta không mù, nhưng nhờ cách này ta đă cứu mạng ḿnh. Thế cậu có biết ai là thân phụ cậu không? - Ta biết chứ. - Người kia không phải là cha cậu đâu. Cha cậu là vua ở Ba-la-nại, người kia chỉ là kẻ hầu cận của hoàng gia, y đă thông gian với mẹ cậu và giết cha cậu tại chỗ này, rồi chôn xác đây. Nói vậy xong, ông kéo bộ xương lên chỉ cho hoàng tử thấy. Hoàng tử tức giận hỏi: - Thế ta phải làm ǵ bây giờ? - Cứ đối xử với kẻ kia như cách y đối xử với cha cậu. Rồi ông tŕnh bày mọi việc cho hoàng tử và trong vài ngày, dạy cho hoàng tử cách dùng kiếm. Sau đó, một hôm hoàng tử cầm kiếm và áo tắm, rồi bảo: - Cha ơi, chúng ta đi tắm nhé. Parantapa đồng ư ra đi với cậu. Khi y bước xuống nước, hoàng tử cầm chỏm tóc y bằng tay trái và kiếm trong tay phải, bảo: - Ngay tại đây, ngươi đă nắm chỏm tóc cha ta và giết ngài trong lúc ngài thét lên. Vậy ta cũng sẽ làm thế với ngươi. Parantapa sợ chết, gào thét lên và ngâm hai vần kệ: 5. Chắc tiếng động kia đến với ngươi Kể cho ngươi những chuyện xưa rồi: Chắc người thuở nọ rung cành lá Đă đến kể ngươi chuyện thiếu thời. 6. Ư tưởng điên rồ đến với ta Đă cho ngươi biết chuyện bây giờ: Ngày xưa làm chứng, người hay vật, Ở đó và rung cổ thụ mà. Kế tiếp, hoàng tử ngâm vần kệ cuối cùng: 7. Chính ngươi đă giết phụ vương thân Cùng với lời lừa phản dối gian, Ngươi dấu thây ngài trong bụi ấy, Giờ đây ngươi phải chịu kinh hoàng. Nói vậy xong, cậu đâm y chết tại chỗ, vùi thây vào đó và lấy cành cây phủ lên. Sau đó rửa sạch kiếm và tắm xong, cậu trở lại lều lá. Cậu kể cho vị tế sư nghe cách cậu đă giết Parantapa và khiển trách mẹ cậu xong, cậu lại hỏi khi cả ba trở về Ba-la-nại: - Chúng ta sẽ phải làm ǵ bây giờ? Bồ-tát phong hoàng đệ làm phó vương, rồi thực hành bố thí và nhiều thiện sự khác, về sau mạng chung ngài tái sinh lên Thiên giới. * Khi pháp thoại chấm dứt, Bậc Đạo sư nhận diện Tiền thân: - Thời ấy, Devadatta là vua cha và Ta chính là vua con. |
|
| 417. Chuyện
Hiền Mẫu Kaccàni (Tiền thân Kaccàni) Mặc áo trắng và tóc xơa vai..., Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một người phụng dưỡng mẹ ḿnh. Chuyện kể rằng đó là một thiện gia nam tử ở Savatth́ (Xá-vệ). Khi cha mất, chàng chuyên tâm săn sóc mẹ, hầu hạ mẹ các công việc súc miệng đánh răng, tắm rửa v.v... và đem cháo cơm thức ăn cho mẹ. Bà mẹ bảo: "Này con, có nhiều phận sự khác trong đời gia chủ, con phải cưới một cô gái nhà đàng hoàng, cô ấy sẽ săn sóc mẹ, để rồi con đi làm công việc khác thích hợp hơn". - "Mẹ ơi, chính v́ lợi ích và niềm vui của con mà con hầu hạ mẹ, chứ ai khác có thể hầu để tăng gia sản của ta chứ". - "Con không màng đến đời sống gia đ́nh. Con muốn phụng sự mẹ, sau khi mẹ qua đời, con sẽ làm ẩn sĩ khổ hạnh." Bà mẹ cố nài ép con măi, và cuối cùng không cần thuyết phục con hay được con chấp thuận, bà cứ đưa về một cô gái con nhà tử tế. Chàng cưới vợ và sống với nàng v́ chàng không muốn trái ư mẹ, nên muốn bắt chước, nàng cũng chăm nom mẹ chồng chu đáo. Nhận thấy ḷng tận tụy của vợ, chàng đem về cho nàng mọi thức ăn ngon lành mà vị ấy có thể kiếm được. Theo thời gian, nàng dâu suy nghĩ ngu xuẩn theo kiểu kiêu hănh của nàng: "Chàng cho ta mọi thức ăn ngon lành chàng kiếm được, chắc hẳn chàng mong muốn tống mẹ đi cho rảnh, vậy ta sẽ t́m cách làm việc đó". Một hôm nàng bảo: - Chàng ơi, mẹ mắng tôi lúc chàng đi vắng. Người chồng không nói ǵ. Nàng suy nghĩ: "Ta sẽ chọc tức bà già và làm cho con trai bà ấy không chịu nổi mẹ nữa". Từ đó nàng đem cháo cho bà hoặc quá nóng hoặc quá lạnh, hoặc quá mặn hoặc quá nhạt. Khi bà lăo than phiền cháo quá nóng hay quá mặn, nàng đổ thêm nước lạnh đầy dĩa, rồi khi nghe cháo quá lạnh hoặc quá nhạt, nàng thường kêu to: - Mới đây mẹ bảo quá nóng và quá mặn, ai chiều chuộng bà cho được. Lúc tắm rửa, nàng thường dội nước quá nóng lên lưng bà già, nghe bà bảo: - Con ơi, lưng mẹ bỏng rồi đấy! Nàng liền dội nước thật lạnh lên bà mẹ, rồi khi nghe bà than phiền, nàng bịa chuyện với hàng xóm: - Bà già này khi th́ bảo nước quá nóng, khi th́ bảo nước quá lạnh, ai c̣n chịu đựng được sự trơ tráo của bà ấy nữa? Nếu bà già than phiền giường bà đầy rệp, nàng sẽ đem giường ấy ra, và giũ mạnh vạt giường của nàng lên đó rồi mang nó về chỗ cũ, bảo bà: - Tôi đă giũ nó rồi. Bà già hiền lành lại bị rận rệp cắn nhiều gấp đôi trước kia, nên phải ngồi suốt đêm và than phiền bị rệp cắn suốt đêm, nàng đáp lại: - Giường mẹ mới được giũ hôm qua và hôm kia nữa, ai có thể chiều chuộng mọi yêu sách của bà già này chứ? Muốn làm cho con trai bà phản đối mẹ, nàng lại rải đờm dăi, tóc bạc khắp nơi, rồi khi chàng hỏi ai làm cho nhà cửa bừa băi dơ bẩn như vậy, nàng thường bảo: - Mẹ chàng làm đấy, nhưng nếu tôi bảo mẹ đừng làm vậy, th́ mẹ lại la lối lên. Tôi không thể ở chung nhà với một bà chằn như vậy, chàng phải quyết định hoặc mẹ hoặc tôi ở lại đây thôi. Chàng nghe nàng nói vậy liền bảo vợ: - Nàng ơi, nàng c̣n trẻ và có thể ở nơi nào tùy ư, muốn đi đâu th́ đi nhưng mẹ tôi già yếu, tôi là chỗ tựa của bà. Vậy nàng hăy đi về với người thân thuộc. Khi nghe vậy nàng sợ hăi nghĩ thầm: "Chàng không thể xa cách người mẹ rất thân yêu đối với chàng. C̣n nếu ta về nhà cũ, ta sẽ sống cuộc đời cô đơn khổ sở. Vậy ta muốn ḥa giải với chồng và chăm sóc bà như xưa". Từ đó nàng làm đúng như thời trước. Một hôm vị cư sĩ này đến Kỳ Viên nghe Pháp, đảnh lễ bậc Đạo Sư xong, chàng đứng một bên. Bậc Đạo Sư hỏi xem có phải chàng vẫn không xao nhăng bổn phận cũ, và vẫn tận tụy chăm sóc mẹ già chăng. Chàng đáp: - Thưa vâng, Bạch Thế Tôn. Mẹ con đem về cho con một cô gái để làm vợ trái ư con, nàng ấy đă làm nhiều việc không xứng đáng như vậy. Rồi chàng kể hết mọi việc cho Ngài nghe: - Song nàng ấy không thể ly gián mẹ con với con được, nên bây giờ nàng ấy lại chăm sóc bà hết sức cung kính. Bậc Đạo Sư nghe chuyện và bảo: - Ngày nay ông không nghe theo lời vợ, nhưng ngày xưa ông đă bỏ mẹ v́ nghe lời vợ xúi giục và nhờ ta đưa bà ấy về lại cho ông chăm nom. Rồi theo lời thỉnh cầu của chàng, Ngài kể câu chuyện đời xưa. * Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, có một thanh niên trong gia đ́nh nọ hết ḷng chăm sóc mẹ già khi cha cậu từ trần, giống như phần duyên khởi chuyện này, các chi tiết cũng được nêu ra đầy đủ như trên. Nhưng trong trường hợp này, khi người vợ bảo nàng không thể sống với bà chằn kia và chàng phải quyết định một trong hai người phải ra đi, th́ chàng theo lời vợ cho rằng mẹ ḿnh có lỗi và bảo: - Mẹ ơi, mẹ luôn gây chiến trong nhà này, từ nay mẹ đi sống nơi khác tùy ư mẹ. Bà mẹ nghe vậy, vừa khóc vừa đi đến nhà bạn đâu đó, làm thuê chật vật để sống qua ngày. Sau khi bà ra đi, con dâu bà mang thai sinh con trai, nên thường rêu rao với chồng và hàng xóm rằng việc sinh con ấy chưa hề xảy ra trước kia, khi c̣n có bà chằn ở trong nhà. Sau khi sinh con, nàng bảo chồng: - Tôi chưa bao giờ sinh con lúc mẹ chàng c̣n ở trong nhà, nay tôi đă có con: như thế chàng có thể thấy rơ bà ấy đúng là bà già chằn thuở trước rồi đó. Bà già nghe chuyện sinh con trai được dâu bà xem là do bà ra khỏi nhà, liền suy nghĩ: "Chắc chắn thần Công chánh đă chết trên đời này, v́ nếu không phải như vậy, những kẻ này đă không sinh con trai và sống sung sướng sau khi đánh đuổi mẹ ḿnh: Ta muốn làm lễ cúng tế thần Công chánh đă chết". V́ vậy một ngày kia, bà đem mè xay, gạo cùng một cái nồi và muỗng nhỏ, bà ra nghĩa địa đốt lửa trong cái ḷ làm bằng ba sọ người, rồi bà xuống suối tắm rửa đầu ḿnh, giặt áo quần xong trở lại nơi ḷ lửa, xơa tóc ra và bắt đầu vo gạo. Thuở ấy Bồ-tát là Thiên chủ Sakka, và các Bồ-tát luôn chú tâm cảnh giác. Ngay lúc ấy ngài nh́n xuống trần gian và thấy bà già khốn khổ kia đang làm lễ tống táng thần Công chánh như thể thần Công chánh đă chết. Muốn chứng tỏ uy lực của ngài trong sự cứu giúp bà, ngài giáng trần giả dạng một Bà-la-môn du hành trên đường, khi nh́n thấy bà, ngài rời đường cái đến đứng bên bà, bắt đầu câu chuyện bằng cách hỏi: - Mẹ ơi, người ta thường không nấu cơm trong nghĩa địa. Mẹ định làm ǵ với cơm và mè này khi nấu xong? Rồi ngài ngâm vần kệ đầu: 1. Mặc áo trắng và tóc xơa vai, Kac-cà-ni lại nấu nồi sôi, Gạo mè bà rửa đằng kia đó, Bà có dùng không lúc chín rồi? Bà ngâm vần kệ thứ hai nói cho ngài biết: 2. Đạo sĩ ơi, tôi chẳng muốn ăn Mè xay và cả món cơm hầm: Giờ đây đă chết thần Công chánh, Tôi muốn cúng dâng lễ tế thần. Thiên chủ, hiện thân của thần Công chánh, đáp vần kệ thứ ba: 3. Khi quyết định, bà phải nghĩ suy: Bà nghe ai nói vọng ngôn kia? Ngài ngàn mắt ấy đầy uy lực, Công chánh Thần không thể chết đi. Nghe ngài nói, bà già ngâm đôi vần kệ tiếp theo: 4. La-môn, tôi chứng kiến rành rành, "Công lư chết rồi." Tôi phải tin: Tất cả kẻ nào theo ác hạnh Hiện giờ hưởng đại phồn vinh. 5. Dâu của tôi ngày trước hiếm hoi, Đánh tôi, rồi lại đẻ con trai, Nó thành bà chủ trong nhà ấy, Tôi bị lăng quên, bị bỏ rơi. Thiên chủ Sakka liền ngâm vần kệ thứ sáu: 6. Không phải đâu, ta sống măi mà, Nay ta giáng thế, chính v́ bà, Dâu bà đánh mẹ, song dâu cháu, Sẽ hóa tro trong lửa của ta. Nghe thể bà lăo kêu to: - Than ôi, ngài vừa nói ǵ thế? Tôi sẽ cố sức giúp cháu tôi khỏi chết. Rồi bà ngâm vần kệ thứ bảy: 7. Thiên chủ, mong sao hợp ư ngài, V́ tôi, ngài đến tự trên trời, Ước mong đôi trẻ và thằng cháu Được sống đời ḥa thuận với tôi. Sau đó Thiên chủ Sakka ngâm vần kệ thứ tám: 8. Ka-ti sẽ măn nguyện, v́ bà Bị đánh, song bà tin tưởng ta Công chánh, vậy cùng con, cháu nội Sống đời ḥa thuận ở trong nhà. Bấy giờ sau khi nói xong, Sakka Thiên chủ hiện ra đủ mọi vẻ uy nghi của ngài, dùng thần lực đứng trên không và nói: - Kaccàni, bà đừng sợ, thần lực của ta, con và dâu bà sẽ đến đây đem bà về nhà, hăy sống ḥa thuận với chúng. Rồi ngài trở về cơi của ngài. Nhờ uy lực của Thiên chủ, con và dâu bà nghĩ đến mọi tính tốt của bà trước kia và đi t́m khắp thôn làng, họ thấy bà đă đi về phía nghĩa địa. Họ theo con đường ấy và gọi bà, khi gặp lại bà, họ quỳ xuống chân bà xin lỗi và được bà tha thứ lỗi lầm cũ. Bà vui mừng chào đón cháu nội. V́ vậy cả bọn họ cũng hoan hỷ trở về nhà và từ đó sống chung với nhau. 9. Với con dâu thảo lại vui mừng Bà lăo Ka-ti đă sống chung, Thiên chủ giải ḥa xung đột cũ, Cháu con săn sóc thật ân cần. Vần kệ này được cảm tác do Trí tuệ Tối thắng của đức Phật. * Sau pháp thoại, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Khi kết thúc các Sự Thật, vị cư sĩ được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện tiền thân: - Thời ấy, người cư sĩ phụng dưỡng mẹ ḿnh là người đang phụng dưỡng mẹ ngày nay, người vợ thời ấy là người vợ thời nay và Sakka Thiên chủ chính là Ta. -ooOoo- (Contents) |
|
| 421. Chuyện
Người Hớt Tóc Gangamàla (Tiền thân Gangamàla) Địa cầu ṇng rực như than.., Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc thực hành các ngày trai giới. Một hôm bậc Đạo Sư dạy các cư sĩ đang giữ ngày trai giới và bảo: Này các cư sĩ, giới hạnh của các ông thật tốt lành, khi giữ ngày trai giới, các vị phải bố thí, tŕ giới không sân hận, khởi tâm từ và thực hành mọi phận sự trong ngày ấy. Các bậc trí nhân ngày xưa đạt đại vinh hiển dầu chỉ nhờ giữ được một phần các ngày trai giới. Và theo lời thỉnh cầu của họ, Ngài kể câu chuyện đời xưa * Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị v́ Ba-la-nại, có một phú thương trong kinh thành tên là Suciparivàra, gia sản lên tới tám trăm triệu đồng, chuyên tâm bố thí và làm các thiện sự khác. Vợ con, toàn thể gia nhân của ông cho đến bọn chăn trâu ḅ đều giữ sáu ngày trai giới mỗi tháng. Thời ấy Bồ-tát được sinh vào một nhà nghèo kiếm kế sinh nhai chật vật bằng cách làm thuê. V́ mong có việc làm, ngài đến nhà phú thương Suciparivàra, khi chào chủ xong, ngồi xuống một bên, và được hỏi đến đây có việc ǵ, ngài đáp: - Tôi đến để xin việc làm công trong nhà ông. Thời ấy, khi những người làm công đến, vị phú thương thường bảo họ: - Trong nhà này mọi công nhân đều giữ ngày trai giới, nếu chú có thể giữ giới th́ chú mới có thể làm việc cho ta. Song đối với Bồ-tát, vị ấy không tỏ vẻ muốn nói đến chuyện giữ giới mà chỉ bảo: - Tốt lắm, này thiện nam, chú có thể làm việc cho ta và trù liệu tiền lương của chú. Từ đó Bồ-tát làm mọi công việc của phú thương một cách nhẫn nại nhiệt t́nh, không hề nghĩ đến nỗi mệt nhọc riêng ḿnh, ngài đi làm từ sáng sớm đến chiều tối trở về. Một hôm dân chúng làm lễ hội ở kinh thành, vị phú thương bảo người tỳ nữ: - Hôm nay là ngày hội, cô phải nấu cơm cho công nhân thật sớm. Họ sẽ ăn sớm và giữ giới kiêng ăn từ đó đến hết ngày. Bồ-tát dậy sớm và đi làm việc. Trước đó không ai bảo ngài phải giữ giới kiêng ăn hôm ấy. Các công nhân kia ăn từ sớm và kiêng ăn. Vị phú thương cùng vợ con, gia nhân đều giữ giới kiêng ăn, mọi người đều trở về nhà riêng ngồi suy tư về các giới điều. Bồ-tát làm việc suốt ngày xong trở về nhà lúc trời tối. Người nữ tỳ đầu bếp đưa cho ngài nước rửa tay và một dĩa cơm lấy từ trong nồi. Bồ-tát bảo: - Vào giờ này ngày thường rất ồn ào, thế mọi người đi đâu cả hôm nay? - Họ đang giữ giới kiêng ăn và mỗi người đều về nhà riêng rồi. Ngài suy nghĩ: "Ta không muốn làm người duy nhất phạm giới giữa nhiều người giữ giới như vậy". V́ thế ngài đi hỏi vị phú thương xem có thể giữ giới kiêng ăn bằng cách thi hành mọi phận sự vào giờ đó không. Ông bảo ngài không thể thực hành mọi phận sự, bởi v́ việc đó đă không được làm từ sáng sớm nhưng một nửa phận sự th́ có thể làm được. Ngài đáp: - Mong được như vậy. Và thực hành phận sự ngay trước mặt chủ nhân, ngài bắt đầu giữ giới kiêng ăn, rồi về nhà nằm suy nghĩ về các giới điều. V́ ngài không ăn ǵ suốt ngày, nên vào canh cuối ngài cảm thấy đau nhói như dao đâm. Vị phú thương mang cho ngài một số thuốc giảm đói và bảo ngài dùng chúng, nhưng ngài bảo: - Tôi sẽ quyết không phá giới kiêng ăn, tôi đă nguyện tŕ giới dù phải thiệt mạng. Cơn đau đớn trở nên mănh liệt và đến tảng sáng ngài bất tỉnh. Họ bảo ngài sắp chết nên đem ngài ra ngoài, đặt vào một nơi an nghỉ. Ngay lúc lấy, vua Ba-la-nại trên chiếc vương xa cùng đoàn hộ tống đông đảo đến nơi ấy trong lúc diễu quanh kinh thành. Bồ-tát thấy vẻ huy hoàng của vua, sinh ḷng ao ước làm vua và cầu nguyện điều ấy. Khi mạng chung, do kết quả việc giữ nửa ngày trai giới trên, ngài được nhập mẫu thai vị chánh hậu. Bà trải qua đủ mọi nghi lễ của thời kỳ thụ thai rồi sinh một hoàng nam sau mười tháng. Hài nhi được đặt tên là Udaya. Khi lớn lên, vương tử trở nên hoàn hảo trong mọi ngành học thuật, nhờ trí hồi tưởng các đời trước, ngài nhớ lại các công hạnh thuở xưa và nghĩ rằng chính nhờ một thiện nghiệp nhỏ tạo nên một phước báo lớn, ngài thường hát khúc ca hoan lạc nhiều lần. Khi vua cha băng hà, ngài được trao cả vương quốc và nhận thấy cảnh đại vinh quang của ḿnh, ngài lại hát khúc ca hoan lạc cũ. Một hôm dân chúng chuẩn bị lễ hội trong kinh thành. Một đám đông định tụ tập nhau định bày tṛ vui chơi giải trí. Một người gánh nước sống gần cổng Bắc thành Ba-la-nại đă dấu nửa đồng xu trong viên gạch ở bức tường bao quanh thành. Y sống chung với một người đàn bà nghèo khổ cũng làm nghề gánh nước. Vợ y bảo: - Chàng ơi, hôm nay có lễ hội trong thành phố, nếu chàng có tiền, ta hăy đi vui chơi nhé. - Nàng ơi, ta có tiền đấy. - Bao nhiêu? - Nửa xu. - Ở đâu? - Trong viên gạch bên cổng Bắc, cách đây mười hai do-tuần (dặm), ta chôn tiền tại đó. Song nàng có ǵ trong tay chăng? - Thiếp có đấy. - Bao nhiêu? - Nửa xu. - Vậy nửa xu của nàng và của ta hợp thành một xu. Ta sẽ đi mua một tràng hoa với một phần ba số tiền ấy, hương liệu với một phần ba và rượu nồng với một phần ba. Nàng hăy đi t́m nửa xu ở nơi cất tiền đem đến đây. Y thích thú với ư tưởng do lời vợ gợi lên, liền bảo: - Nàng ơi, đừng lo ǵ, ta sẽ đi t́m nửa xu về đây. Rồi y ra đi. Y mạnh như voi, vừa đi khoảng hơn sáu dặm, và mặc dù trời giữa trưa, y vẫn rảo bước trên cát nóng như thể được rải than vừa tắt lửa v́ y rất thích thú với nỗi ham muốn được bạc. Trong bộ y phục cũ màu vàng điểm thêm lá thốt nốt giắt bên tai, y vừa đi ngang sân chầu để theo đuổi mục đích của ḿnh vừa ca hát. Vua Udaya đứng bên cửa sổ mở, thấy y đi đến, không biết y là ai mà lại coi thường nắng gió như vầy, vừa đi vừa hát, liền bảo nô tỳ đi gọi y vào. Y được lệnh: - Hoàng thượng truyền gọi chú vào. Nhưng y đáp: - Hoàng thượng có nghĩa ǵ với ta chứ? Ta không biết hoàng thượng! Y liền bị lôi vào và đứng chầu một bên. Sau đó, vua ngâm hai vần kệ hỏi y: 1. Địa cầu nóng rực như than, Đất đai như đống tro than nóng bừng, Song ngươi ca hát vang lừng, Khí trời gay gắt chẳng nung ngươi nào! 2. Mặt trời kia ở trên cao, Dưới này cát nóng khác nào ḷ than, Song ngươi ca hát lừng vang, Khí trời nắng gắt chẳng làm cháy ngươi. Nghe lời vua, y liền ngâm vần kệ thứ ba: 3. Chính v́ tham dục đốt tôi, Chứ không phải ánh mặt trời nấu nung, Chính v́ phận sự trong ḷng Thúc tôi vội vă làm xong mọi phần. Vua hỏi y có việc ǵ. Y đáp: - Tâu Đại vương, hạ thần sống gần cổng Nam với một người vợ nghèo. Vợ thần tỏ ư muốn chúng thần cùng vui chơi lễ hội nên hỏi thử thần có ǵ trong tay không. Thần bảo thần có tiền của chôn dấu trong bức tường cạnh cổng Bắc. Vợ thần bảo thần đi lầy tiền về để vui chơi . Những lời nói của vợ thần không rời tâm hồn thần và trong khi thần suy nghĩ măi về chúng, tham dục cứ đốt cháy ḷng thần. Công việc của thần là thế đấy. - Vậy điều ǵ khiến ngươi thích thú nhiều đến độ ngươi xem thường nắng gió và vừa đi vừa hát? - Tâu Đại vương, thần hát v́ nghĩ rằng khi t́m được của chôn dấu, thần sẽ vui chơi thích thú với vợ. - Này thiện nam, thế của ngươi chôn dấu bên cổng Bắc được một trăm ngàn đồng tiền chăng? - Tâu Đại vương, không phải. Sau đó vua hỏi liên tiếp có phải năm mươi ngàn, bốn mươi, ba mươi, hai mươi, mười, năm, bốn ba, hai, một đồng tiền, nửa đồng tiền, bốn xu, ba xu, hai xu, một xu. Chàng trai đều đáp: "Không" trước các câu hỏi trên và nói: - Chỉ nửa xu. Quả thực, tâu Đại vương, đó là tất cả gia sản của thần. Nhưng thần đang hy vọng t́m ra nó rồi đi vui chơi với vợ, và trong niềm ước vọng thích thú kia, nắng gió không làm thần khó chịu. Vua bảo: - Này thiện nam, thôi đừng đi đến đó dưới nắng gắt này nữa. Ta sẽ cho ngươi nửa xu. - Tâu Đại vương, thần sẽ nhận lời hứa của Đại vương và lấy tiền, nhưng thần sẽ không bỏ nửa xu kia đâu. Thần không bỏ việc đi đến đó đem nó về đâu. - Này thiện nam, hăy ở lại đây. Trẫm sẽ cho ngươi một xu, hai xu. Rồi cứ đề nghị thêm nữa, vua tiếp tục nói mười triệu, một ngàn triệu, vô số vàng bạc, nếu chàng trai chịu ở lại. Nhưng y vẫn đáp: - Tâu Đại vương, thần sẽ nhận tiền của, nhưng thần vẫn đi kiếm nửa xu kia! Sau đó y được chiêu dụ bằng những lời vua hứa ban chức thủ kho, và nhiều chức vụ khác nữa, và cả chức vị phó vương. Cuối cùng y được đề nghị chia nửa vương quốc nếu y chịu ở lại. Khi ấy y mới chấp thuận! Vua bảo các Đại thần: - Này các khanh, hăy đưa hiền hữu của trẫm đi cạo râu, tắm rửa và trang điểm rồi đem người trở lại đây. Họ tuân lệnh. Vua chia đôi giang sơn và tặng chàng trai một nửa. Song chuyện kể rằng y chọn phần nửa ở phía Bắc do ḷng yêu thích nửa đồng xu cũ! Y được gọi là vua Nửa Xu. Hai vị vua đồng cai trị đất nước trong t́nh thân hữu ḥa hợp. Một hôm, hai vị cùng đi đến ngự viên. Sau khi vui chơi, vua Udaya nằm xuống kề đầu vào ḷng vua Nửa Xu. Ngài ngủ thiếp, trong lúc đám hầu cận đi quanh quẩn vui chơi. Vua Nửa Xu suy nghĩ: "Tại sao ta chỉ được nửa vương quốc măi thôi? Ta muốn giết vua này và làm vị vua độc nhất." V́ thế Vua Nửa Xu rút kiếm ra, nhưng khi nghĩ đến việc đâm vua này, vua Nửa Xu nhớ lại ngài đă đưa bạn ḿnh từ chỗ nghèo hèn thành người đồng trị nước với ngài và ban cho bạn đại quyền lực. Nhận thức tư tưởng vừa khởi lên trong trí dự định giết một ân nhân như thế là vô cùng độc ác, vua Nửa Xu liền tra kiếm vào bao. Lần thứ hai, rồi lần thứ ba, ư tưởng lại khởi lên. Cảm thấy tư tưởng này khởi lên măi sẽ đưa ḿnh đến cái ác nghiệp, vua Nửa Xu vứt kiếm xuống đất và thức vua kia dậy, vừa nói vừa quỳ xuống chân ngài: - Tâu Đại vương, xin hăy tha tội cho tôi. - Này Hiền hữu, bạn có làm ǵ sai trái với ta đâu. - Tâu Đại vương, tôi đă làm một việc như vậy. - Này Hiền hữu, thế th́ ta tha thứ cho bạn. Nếu như bạn muốn th́ cứ làm vua một ḿnh và ta sẽ làm phó vương phụng sự bạn. Vua Nửa Xu đáp: - Tâu Đại vương, tôi không cần vương quốc, tham vọng ấy sẽ khiến tôi tái sinh vào cơi dữ. Quốc độ này của Đại vương, xin nhận lấy nó, tôi muốn trở thành người khổ hạnh. Tôi đă lấy gốc rễ của dục tham, nó phát xuất từ ước vọng của con người. Vậy từ nay tôi không c̣n ước vọng như thế nữa. Rồi ông ngâm vần kệ thứ tư trong niềm hoan lạc: 4. Nhận ra tham dục, nguồn căn Ở trong ước vọng tiềm tàng khắp nơi, Ta không muốn nữa v́ ngươi, Vậy ngươi, Tham dục, phải rời xa đi! Nói vậy xong, ông ngâm vần kệ thứ năm thuyết Pháp cho quần chúng đang đắm say tham dục: 5. Dục tham ít ỏi chẳng vừa, Dục tham nhiều chỉ mang ta khổ buồn. Này, luôn thiếu, ngu nhân, Nếu ngươi muốn đắc trí thông, bạn hiền! Thuyết Pháp như vậy với quần chúng xong, ông giao quốc độ cho vua Udaya. Rời bỏ quần chúng đang khóc than với nước mắt đầm đ́a, ông đến vùng Tuyết Sơn, trở thành ẩn sĩ khổ hạnh và đạt Thắng trí. Trong thời gian vị ấy làm nhà khổ hạnh, vua Udaya ngâm vần kệ thứ sáu bày tỏ nỗi hoan lạc trọn vẹn: 6. Thiểu dục đem ta mọi quả thành, U-da-ya đạt đại quang vinh, Người tinh cần được nhiều an lạc, Làm ẩn sĩ, buông bỏ dục t́nh. Không ai biết ư nghĩa vần kệ này. Một hôm, chánh hậu hỏi ngài ư nghĩa trên. Vua không muốn nói. Thời ấy có người thợ hớt tóc trong triều tên là Gangamàla mỗi khi vào chầu vua thường dùng dao cạo trước, rồi sau kẹp tóc vua bằng cái nhíp. Vua thích việc trước, nhưng việc thứ hai làm vua đau. Về việc đầu, vua muốn thưởng cho y một đặc ân. C̣n việc thứ hai, vua chỉ muốn chém đầu y thôi! Một hôm vua nói chuyện với hoàng hậu, ngài bảo rằng người thợ hớt tóc trong triều là một tên ngu xuẩn. Khi hoàng hậu hỏi y phải làm ǵ trước, ngài bảo: - Hăy dùng nhíp trước, rồi dùng dao cạo sau. Hoàng hậu truyền gọi thợ hớt tóc vào và bảo: - Này thiện nam, khi người tỉa râu đức vua, ngươi nên dùng cái nhíp kẹp râu tóc ngài trước, rồi dùng dao cạo sau. Nếu đức vua ban cho ngươi một điều ước, ngươi phải tâu rằng ngươi không cần ǵ cả, mà ngươi chỉ muốn biết ư nghĩa khúc ca của ngài thôi. Nếu ngươi làm vậy, ta sẽ cho ngươi nhiều tiền. Y đồng ư ngay. Hôm sau, khi y tỉa râu vua, y cầm cái nhíp trước. Vua hỏi: - Gangamàla, đây là kiểu mới của ngươi ư? - Tâu Đại vương, phải - y đáp - thợ hớt tóc thường có kiểu mới. Rồi y kẹp tóc vua với cái nhíp trước và dùng dao cạo sau. Vua liền ban cho y một điều ước. - Tâu Đại vương, thần không muốn ǵ cả. Xin Đại vương cho thần biết ư nghĩ khúc ca ấy. Vua hổ thẹn khi phải nói đến nghề nghiệp của ḿnh trong thuở hàn vi đời trước, liền bảo: - Này thiện nam, điều ước kia có ích lợi ǵ cho ngươi đâu? Hăy chọn điều khác. Nhưng người hớt tóc cứ van xin điều ấy. Vua sợ thất hứa nên đồng ư. Như đă tả trong Tiền thân Kummàsapinda, số 415, vua truyền chuẩn bị mọi sự rất trọng thể rồi ngồi trên bảo tọa bằng ngọc, kể tất cả chuyện công đức trong đời vừa qua tại kinh thành này. Rồi ngài bảo: - Điều ấy giải thích nửa vần kệ, c̣n nửa vần kia kể chuyện hiền hữu ta trở thành nhà khổ hạnh trong lúc ta làm vị vua độc nhất trong niềm tự hào, điều ấy giải thích phần thứ hai của ca khúc hoan lạc ấy. Nghe vậy, người hớt tóc suy nghĩ: "Như vậy, đức vua được hưởng cả vinh quang này v́ đă giữ nửa ngày trai gới. Đức hạnh quả thật là chánh đạo. Giả sử ta cũng trở thành nhà khổ hạnh và t́m đường giải thoát cho ta được chăng?" Người hớt tóc liền từ giă đám thân thuộc, tài vật thế gian, rồi xin phép vua trở thành nhà tu hành đi về vùng Tuyết Sơn làm vị khổ hạnh. Khi nhận thức được ba đặc tính của các pháp hữu h́nh (vô thường, khổ, vô ngă), vị ấy đạt Thắng trí và trở thành vị Độc Giác Phật. Vị ấy có đủ các y bát nhờ thần lực. Sau độ năm sáu năm ở trên núi Gandhamàdana (Hương Sơn), vị ấy muốn về thăm vua Ba-la-nại, liền bay qua không trung đến ngự viên, rồi ngồi trên vương tọa. Người giữ vườn tŕnh nhà vua rằng Gangamàla nay là vị Độc Giác Phật, đă phi hành trên không và đang ngồi trong ngự viên. Vua lập tức đến chào vị Độc Giác Phật và hoàng thái hậu cũng ra đi với con. Vua vào ngự viên, kính chào vị ấy và ngồi xuống một bên cùng đoàn tùy tùng. Vị Độc Giác Phật thân mật đàm đạo với vua và gọi ngài bằng tộc tánh: - Này Brahmadatta, Hiền hữu có chuyên tâm tinh cầu, cai trị nước nhà đúng Pháp, thực hành bố thí cùng các thiện sự khác chăng? Hoàng thái hậu liền nổi giận: - Đứa con nhà hớt tóc hạ tiện này không biết phận ḿnh. Nó dám gọi hoàng nhi quư tộc của ta là "Brahmadatta". Rồi bà ngâm vần kệ thứ bảy: 7. Khổ hạnh xả ly hết lỗi lầm, Thợ ghè, hớt tóc, mọi phàm nhân, Gan-ga nhờ đó thành vinh hiển, Liền gọi "Brah-ma" đấng quốc vương! Vua vội ngăn cản mẫu hậu và tuyên bố mọi đặc tính của vị Độc Giác Phật, ngài ngâm vần kệ thứ tám: 8. Nh́n xem! Vào lúc phải vong thân, Khổ hạnh cho ta hưởng phước phần, Người lễ bái ta trong kiếp trước, Giờ đây vua chúa phải chào mừng. Mặc dù vua đă ngăn cản thái hậu, cả đám quần thần đều đứng lên bảo: Một người hạ tiện thế này dám xưng hô với Hoàng thượng bằng tên tộc như vậy là không đúng phép tắc. Vua lại quở trách quần thần và ngâm vần kệ cuối tuyên bố các đức tính cuả vị Độc Giác Phật: 9. Chớ trách Gan-ga nói thế này Bước đường đạo hạnh thiện toàn thay! Ngài đà vượt đại dương phiền năo, Giải thoát khổ sầu chính tại đây. Nói vậy xong, vua vái chào vị Độc Giác Phật và xin ngài tha lỗi cho thái hậu. Vị Độc Giác Phật đồng ư và đám quần thần của vua cũng được tha thứ luôn. Vua ước mong Ngài hứa về sau sẽ ở lại trong vùng lân cận, nhưng Ngài từ chối, rồi đứng trên không trước mắt đám triều thần, Ngài khuyến giáo vua xong trở về Hương Sơn. * Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư bảo: - Này các cư sĩ, các vị ấy giữ trai giới là việc cần phải làm. Rồi Ngài nhận diện Tiền thân: - Thời ấy, vị Độc Giác Phật đắc Niết-bàn vô dư y, vua Nửa Xu là Ànanda, chánh hậu là mẫu thân Ràhula và vua Udaya chính là Ta. (Contents) |
|
| 423. Chuyện Uy
Lực Dục Tham (Tiền thân Indriya) Người nào tuân lệnh dục tham..., Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự quyến rủ của người vợ cũ đối với một Tỷ-kheo. Chuyện kể rằng một thiện gia nam tử ở Sàvatthi (Xá-vệ) nghe giáo pháp của bậc Đạo Sư và nghĩ rằng thật khó cho một người tại gia có thể sống đời Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh, nên ông quyết định xuất gia tu hành theo giáo lư cứu độ để diệt tận khổ ưu. V́ thế ông để lại tài sản, nhà cửa cho vợ con, và thỉnh cầu bậc Đại Sư truyền giới xuất gia cho ḿnh. Bậc Đạo Sư chấp thuận. V́ ông chỉ là Sa-di trẻ tuổi lúc khất thực cùng các vị giáo thọ, sư trưởng và Tăng chúng lại đông, nên ông không có được ghế ngồi trong nhà cư sĩ hoặc trong trai đường, mà chỉ có một ghế thấp nhỏ hoặc ngồi ở dăy ghế dài cuối chỗ các Sa-di. Thức ăn chỉ được múc vội vă cho ông bằng cái muỗng lớn: ông nhận món cháo tấm, các món cứng th́ hôi hám hoặc hư nát, hoặc các cọng rau đă khô héo, cháy sém và phần ăn này không đủ nuôi sống ông. Ông liền đem các món ăn nhận được về cho người vợ cũ mà ông đă rời bỏ. Nàng cầm lấy b́nh bát, kính chào ông, đổ hết các thứ ấy ra và thay vào món cháo nấu thật ngon và cơm trộn sốt cà-ri. Vị Tỷ kheo bị ḷng ham thích các huơng vị ấy lôi cuốn nên không thể rời vợ. Nàng suy nghĩ rằng nàng sẽ thử thách t́nh cảm của ông. Một hôm, nàng bảo một trai làng chải chuốt sạch sẽ và đến nhà nàng ngồi cùng một đám người nhà của y mà nàng đă mời, và nàng cho cả bọn ăn uống vài thứ . Cả bọn ngồi ăn chơi thỏa thích. Nàng lại bảo buộc đôi ḅ vào xe và chiếc xe đợi sẵn sàng ở cửa nhà. C̣n chính nàng ngồi ở nhà sau nấu nướng bánh mứt. Chồng nàng đi đến đứng ở cửa. Thấy vậy, một lăo bộc tŕnh bà chủ rằng có một Tỷ-kheo ở cửa. Nàng bảo: - Hăy ra chào vị ấy và bảo vị ấy qua nhà khác. Nhưng dù y đă làm vậy nhiều lần, y thấy vị Tỷ-kheo vẫn đứng yên nên y lại tŕnh bà chủ. Nàng bước ra, vén tấm rèm lên nh́n và kêu lớn: - Đây là cha bầy trẻ con tôi. Nàng bước ra chào ông, vừa cầm lấy b́nh bát vừa mời ông bước vào, nàng đem thực phẩm cúng dường. Khi ông đă ăn xong, nàng lại kính lễ và nói: - Thưa Tôn giả, nay Tôn giả là một bậc Thánh, trước kia chúng ta đă luôn chung sống cùng nhau trong ngôi nhà này. Song giờ đây, cuộc sống tại gia lại không thể thiếu người chủ nhà, v́ vậy chúng ta sắp dời qua nhà khác và đi xa về vùng quê. Xin Tôn giả hăy nhiệt tâm làm thiện sự và tha thứ cho thiếp nếu thiếp làm điều sai trái. Trong một lúc, chồng cũ của nàng cảm thấy như thể trái tim tan vỡ! Rồi ông đáp: - Ta không thể rời nàng, xin nàng đừng đi. Ta sẽ trở lại đời thế tục. Hăy đưa cho ta y phục của người cư sĩ tại chỗ nọ, ta sẽ bỏ y bát và trở về với nàng. Nàng đồng ư ngay. Khi vị Tỷ-kheo về tinh xá, trả bộ y bát lại cho vị giám hộ và giáo thọ, và khi được hỏi lư do, ông giải thích là ông không thể rời vợ và sắp trở lại đời thế tục. Dù ông không muốn, các vị ấy vẫn dẫn ông đến bậc Đạo Sư và kể cho ngài nghe rằng ông thối thất và muốn trở về đời thế tục. Bậc Đạo Sư hỏi: - Chuyện này có thật chăng? - Thưa vâng, bạch Thế Tôn. - Ai làm cho ông thối thất? - Vợ cũ của con. Này Tỷ-kheo, nữ nhân ấy là nguyên nhân gây tác nghiệp của ông. Chính v́ kẻ ấy mà ngày xưa ông đă sa đọa khỏi bốn cảnh giới Thiền định, và rất khốn khổ. Sau nhờ ta, ông được giải thoát cảnh khổ và tái tạo công năng Thiền định mà ông đă mất. Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa. * Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị v́ Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh làm con trai vị tế sư hoàng gia và bà vợ vị ấy cũng là nữ nhân Bà-la-môn. Vào ngày ngài ra đời, có làn ánh sáng của binh khí lóe sáng khắp kinh thành v́ thế ngài được đặt tên Jotipàla (người hộ tŕ ánh sáng hay Hộ Minh). Khi lớn lên, ngài học đủ mọi ngành nghề nghệ thuật tại Takkasilà và chứng tỏ tài năng trước vua. Nhưng ngài lại từ giă địa vị của ngài không báo cho ai biết, ngài ra đi bằng cổng sau, vào rừng trở thành vị khổ hạnh ở thảo am Kavitthaka, được gọi là Sakkadatiya. Ngài chứng đắc Thiền định viên măn. Trong khi trú tại đó, hàng trăm vị trí giả đến tham kiến hầu cận ngài. Ngài được một hội chúng đông đảo theo học và bảy đệ tử. Trong số ấy, trí giả Sàlissara rời thảo am Kavitthaka để đến xứ Surrattha và trú bên bờ sông Sàtodikà cùng hội chúng vài ngàn trí giả khác. Mendissara cùng vài ngàn trí giả sống gần thị trấn Lambacùlaka trong quốc độ của vua Pajaka. Pabbata cùng vài ngàn trí giả sống trong một xứ ở miền rừng núi. Kàladevala cùng vài ngàn trí giả sống trong núi rừng ở Avanti và Decan. Kisavaccha sống độc cư ở gần kinh thành Kumbhavati, trong ngự viên của vua Dandaki. Anusissa là thị giả của Bồ-tát ở chung với ngài. Nàrada, em của Kàladevala độc cư trong thạch thất giữa quốc độ Aranjara có nhiều núi non ở vùng Trung thổ. Bấy giờ không xa nước Aranjara có một thị trấn rất trù phú. Thị trấn này có con sông cả, nơi nhiều đàn ông đến tắm. Dọc theo bờ, các kỹ nữ xinh đẹp thường ngồi quyến rủ đám mày râu. Vị khổ hạnh Nàrada thấy một nàng kỹ nữ, đâm ra si t́nh, mất hết Thiền lực và héo ṃn v́ không ăn uống ǵ cả, cứ nằm dài trong lưới t́nh trói buộc suốt bảy ngày liền. Vị huynh trưởng Kàladevata nhờ quan sát biết nguyên nhân việc kia, liền phi hành qua không gian, vào biến động. Nàrada thấy vị ấy liền hỏi tại sao đến đây. Vị ấy đáp: - Ta biết Hiền đệ bị bệnh nên đến chăm sóc đệ đây. Nàrada giả dối bảo vị ấy đi về: - Đại huynh chỉ nói chuyện không đâu, toàn là hư vọng, hăo huyền. Nhưng vị kia từ chối ra đi và c̣n đem theo ba vị Sàlissara, Mendissara và Pabbatissara đến đó nữa. Nàrada lại bảo tất cả ra về theo cách trên. Kàladevala liền bay đi t́m Đạo Sư Sarabhanga và dẫn thầy đến đó. Khi bậc Đạo sư đến, ngài thấy Nàrada đă rơi vào lưới kềm tỏa của tham dục và hỏi có đúng vậy không. Nàrada đứng lên nghe lời ngài, kính lễ thầy và thú nhận sự việc. Bậc Đạo Sư bảo: - Này Nàrada, ai rơi vào lưới tham dục sẽ suy tàn trong khổ đau ở đời này và đời kế bị tái sinh vào địa ngục. Rồi Ngài ngâm vần kệ đầu: 1. Người nào tuân lệnh dục tham, Mất hai thế giới, đời tàn về sau. Nghe vậy, Nàrada đáp: - Bạch Tôn sư, mưu cầu tham dục là hạnh phúc. Tại sao Tôn sư lại gọi hạnh phúc ấy là khổ đau? Đạo Sư Sarabhanya đáp: - Vậy hăy nghe đây. Rồi Ngài ngâm vần kệ thứ hai: 2. Hân hoan cùng với khổ đau Vẫn thường dẫm bước lên nhau chẳng ngừng, Con từng thấy chúng chuyển luân, Hăy t́m hạnh phúc thật chân nhiệm mầu. Nàrada đáp: - Bạch Tôn sư, khổ đau này thật khó chịu đựng. Con không thể kham nhẫn nó được. Bậc Đại sĩ bảo: - Này Nàrada, khi khổ đau đến cần phải chịu đựng. Rồi Ngài ngâm vần kệ thứ ba: 3. Người nào kham nhẫn đối đầu Gian lao nhiếp phục khổ sầu bao phen, Là người vững mạnh tiến lên Niết-bàn, cực lạc, dứt phiền năo xưa. Song Nàrada vẫn đáp: - Bạch Tôn sư, hạnh phúc của dục t́nh là hạnh phúc tối cao, con không thể nào rời bỏ nó được. Bậc Đạo Sĩ bảo: - Không thể v́ bất cứ lư do ǵ mà ta từ bỏ Giới hạnh. Rồi ngài ngâm vần kệ thứ tư: 4. Con đừng phá hủy tiêu ma Quăng đời Thanh hạnh, sa đà công năng, Chỉ v́ dục vọng tham sân Cầu mong lợi dưỡng, đau buồn nhỏ, to. Sau khi Đạo Sư Sarabhanga đă tuyên thuyết Chánh pháp qua bốn vần kệ, trí giả Làladevala muốn khuyến giáo tiểu đệ liền ngâm vần kệ thứ năm: 5. Biết đời phiền lụy lo âu, Thức ăn uống phải phát cho nhiều người. Chẳng ham tích trữ tiền tài, Chẳng sầu khi chúng hết thời tiêu tan. Vần kệ thứ sáu do bậc Đạo Sư ngâm phát xuất từ Trí tuệ Tối Thắng của Ngài liên hệ đến lời khuyến giáo của Devala đối với Nàrada: 6. De-va Trí giả Hắc nhan Giờ đây khuyên nhủ khôn ngoan nhất đời: Ta không hề thấy có người Kém hơn kẻ chịu vâng lời dục tham. Sau đó Thánh giả Sarabhanga cảnh báo: Này Nàrada hăy nghe đấy: kẻ nào trước tiên không muốn làm những ǵ đáng làm, về sau sẽ kêu khóc than van như chàng trai đi vào rừng thuở xưa. Rồi Ngài kể một câu chuyện quá khứ. Ngày xưa trong một thị trấn ở thành Kàsi có một thanh niên Bà-la-môn, đẹp trai, mạnh khỏe, lực lưỡng như voi. Chàng suy nghĩ: "Tại sao ta phải nuôi cha mẹ bằng cách làm ruộng, hoặc phải lấy vợ sinh con, hoặc làm các thiện sự nọ kia? Ta chẳng muốn nuôi ai hoặc làm thiện sự ǵ cả, mà ta chỉ muốn vào rừng nuôi bản thân bằng cách săn nai". Thề rồi với năm thứ vũ khí, chàng vào Tuyết Sơn giết nai ăn thịt rất nhiều. Ở vùng Tuyết Sơn chàng thấy một thung lũng rộng lớn tứ bề có núi bao bọc, bên cạnh bờ sông Vidhavà, chàng liền sống ở đó với thịt thú săn được và nấu trên than hồng. Chàng lại suy nghĩ: "Ta sẽ không được khỏe mạnh măi đâu, khi ta già yếu, ta sẽ không phiêu bạc trong rừng. Nay ta muốn bắt nhiều loại thú hoang vào trong thung lũng này, làm cổng rào lại và chẳng cần phải lang thang trong rừng nữa, ta cũng sẽ giết chúng và ăn thỏa thích". Và chàng đă làm như vậy. Thời gian trôi qua, chính điều ấy phải xảy ra, mọi thực tế của cuộc đời xuất hiện, chàng không c̣n sức điều khiển nổi tay chân, chàng không thể đi lại tự do đây đó, chàng không thể t́m được thức ăn uống, thân thể gầy g̣ khô héo như một bóng ma, lộ rơ mọi nếp nhăn nheo khắp ḿnh như mặt đất mùa nắng. Chàng trở nên dị tướng, nhăn nheo, ră rời và vô cùng khổ sở. Cũng như chàng kia, theo thời gian, vua nước Śvi, mệnh danh là Śvi, ước mong hưởng món thịt rừng nướng trên than hồng trong rừng già, liền giao phó quốc độ cho các đại thần, đem theo năm món vũ khí, đi vào rừng săn thịt nai để ăn. Vừa lúc vua đến chỗ ấy liền thấy người kia. Dù sợ hăi, vua cũng cố thu hết can đảm hỏi người kia là ai. Chàng đáp: - Tâu Chúa công, tôi là một bóng ma đang hưởng nghiệp quả do tôi đă tạo. Thế Chúa công là ai? - Ta là vua nước Śvi. - Tại sao Chúa công đến đây? - Để ăn thịt nai. - Tâu Đại vương, tôi đă trở thành con ma trên đất v́ tôi đă đến đây với mục đích ấy. Rồi chàng kể đầy đủ chi tiết câu chuyện của chàng và để giải thích nỗi bất hạnh của ḿnh, chàng ngâm các vần kệ cuối cùng: 7. Chính tôi đây, hỡi Quân vương, Khác nào giữa chốn đấu trường địch quân, Công lao, nghề nghiệp, tài năng, Vợ con, nhà ở b́nh an một thời, Đă tiêu tan hết cả rồi, Tôi mang nghiệp quả ngay đời thế gian. 8. Giờ tôi tồi tệ muôn vàn Không người quyến thuuộc, lang thang không nhà. Từ đời chân chánh lạc xa, Tôi như một cái bóng ma đọa đày. 9. Nay tôi phải sống cảnh này V́ tôi tạo khổ năo thay vui mừng. Quanh tôi như đám lửa bừng, Tôi không cảm thấy trong ḷng hân hoan. Cùng với các vần kệ ấy, chàng nói thêm: - Tâu Đại vương, do ham muốn dục lạc tôi đă tạo khổ đau cho nhiều loài khác và trở thành bóng ma ngay tại đời này. Xin Đại vương đừng gây ác nghiệp, xin hăy trở về kinh đô của Đại vương và thực hành thiện sự, bố thí cùng các phước nghiệp khác. Nhà vua làm theo lời ấy và hoàn thành con đường lên Thiên giới. Vị khổ hạnh xúc động v́ lời tường thuật của Đạo Sư Sarabhanga về câu chuyện trên. Vị ấy được cảm hóa, rồi sau khi kính lễ Tôn sư và được ngài tha thứ, nhờ các pháp môn chân chánh, vị ấy tái tạo năng lực Thiền định đă mất. Đạo sư Sarabhanga không cho phép đệ tử ở lại đó nữa và đưa vị ấy cùng ngài về thảo am xưa. * Sau Pháp thoại, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo thối thất đă được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện tiền thân: - Thời ấy Nàrada là Tỷ-kheo thối thất này, Sàlissara là Sàriputta (Xá-lợi-phất), Mendissara là Kassapa (Ca-diếp), Kaccàna (Ca-chiên-diên), Anusissa là Ànanda (A-nan), Kisavaccha là Moggallàna (Mục-kiền-liên) và Đạo Sư Sarabhanga chính là Ta. -ooOoo- (Contents) |
|
| 431.
Chuyện Nam Tử Hàrita (Tiền thân Hàrita) Hà-ri Hiền hữu, trẫm nghe rằng..., Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo bất măn. Bấy giờ Tỷ-kheo này trở nên bất măn sau khi nh́n thấy một nữ nhân phục sức lộng lẫy nên cứ để cho lông tóc, móng tay chân dài ra, và muốn hoàn tục. Khi ông miễn cưỡng bị các vị giáo thọ và giám hộ đưa đi yết kiến bậc Đạo Sư, và được Ngài hỏi xem có đúng là ông thối thất chăng, và tại sao như vậy, ông đáp: - Thưa vâng, bạch Thế Tôn, chính v́ uy lực của dục tham, sau khi nh́n thấy một nữ nhân xinh đẹp. Bậc Đạo Sư bảo: - Này Tỷ-kheo, tham dục huỷ hoại công đức, hơn nữa, rất đáng nhàm chán, nó làm cho con người tái sinh vào địa ngục; thế th́ sao tham dục này lại không đưa đến sự suy tàn của ông? Bởi v́ trận cuồng phong vùi dập đỉnh núi Sineru (Tu-di) vẫn không ngần ngại cuốn đi một ngọn lá khô héo. Chính v́ tham dục này, những người thực hành theo trí thức và trí tuệ, đă đắc năm Thắng trí và tám Thiền chứng, dẫu là Thánh nhân vĩ đại, vẫn không đủ khả năng ổn định tâm tư nên sa đoạ đánh mất Thiền lực vi diệu. Rồi ngài kể một chuyện quá khứ. * Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị v́ tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh ở một làng trong một gia đ́nh Bà-la-môn có tài sản đến tám triệu đồng, và do màu vàng ánh của ngài, cha mẹ đặt tên ngài là Harittacakumàra (Nam tử Kim sắc). Khi lớn khôn, và đă được giáo dục tại Takkasilà, ngài trở thành người gia chủ. Vừa khi cha mẹ từ trần, ngài đi thanh tra đủ các kho báu của ḿnh và suy nghĩ: "Tài sản kho báu tiếp tục tồn tại, c̣n những người tạo ra nó lại mất cả rồi. Ta cũng tan thành tro bụi khi chết". Như vậy do nỗi sợ chết báo động, ngài thực hành đại bố thí, rồi vào vùng Tuyết Sơn sống đời tu hành, đến ngày thứ bảy ngài thành tựu các Thắng trí và các Thiền chứng. Ngài sống ở đó một thời gian bằng củ quả rừng, rồi xuống núi t́m muối và dấm, dần dần ngài đến tận Ba-la-nại. Ngài sống trong ngự viên và ngày hôm sau, khi khất thực ngài đến cửa cung vua. Vua rất hoan hỷ khi thấy ngài nên đă truyền mời ngài vào ngồi trên vương toạ dưới bóng mát của chiếc Lọng trắng và cúng dường ngài đủ thứ cao lương mỹ vị. Khi lời nói lời tuỳ hỷ công đức, vua vô cùng đẹp ư hỏi: - Bạch Tôn giả, ngài sắp đi đâu? - Tâu Đại vương, chúng tôi t́m một nơi an cư mùa mưa. - Thế th́ tốt lắm, bạch tôn giả. Vua bảo. Rồi sau buổi điểm tâm, vua cùng đi với ngài đến ngự viên, truyền dựng am thất ban ngày lẫn ban đêm cho ngài ở, chỉ định người giữ ngự viên làm hầu cận của ngài, rồi vua kính chào ngài ra về. Từ đó bậc Đại Sĩ thường xuyên ăn uống ở cung vua và sống tại nơi ấy suốt mười hai năm liền. Một hôm, vua đi dẹp loạn ở biên giới, nên đă giao phó hoàng hậu chăm sóc Bồ-tát, và bảo bà: - Đừng xao lăng việc phụng sự "Phước điền" của chúng ta. Từ đó trở về sau, hoàng hậu tự tay phục vụ bậc Đại Sĩ rất chu đáo. |
http://www.sacred-texts.com/bud/j3/j3132.htm The Jataka, Vol. III, tr. by H.T. Francis and R.A. Neil, [1897], at sacred-texts.com Once upon a time when Brahmadatta was reigning in Benares, the
Bodhisatta was born in a certain village in a brahmin family worth eighty
crores, and from his golden complexion they called him Harittacakumāra
(Young Goldskin). When he was grown up, and had been educated at Takkasilā,
he set up as a householder, and on the death of his father and mother he
made inspection of his treasures and thought, "The treasure only continues
to exist, but they who produced it cease to exist: I too must be reduced to
atoms by means of death," and alarmed by the fear of death he gave great
gifts, and entering the Himālaya country he adopted the religious life, and
on the seventh day he entered upon the Faculties and Attainments. There for
a long time he lived on wild fruit and roots, and going down from the
mountain to procure salt and vinegar, he in due course reached Benares.
There he abode in the royal park, and on the next day in going his round for
alms he came to the door of the king's palace. The king was so glad to see
him that he sent for him and made him sit on the royal couch beneath the
shade of the white umbrella, and fed him on all manner of dainties, and on
his returning thanks the king being exceedingly pleased asked him, "Reverend
Sir, where are you going?" "Great king, we are looking out for a
dwelling-place for the rainy season." "Very well, Reverend Sir," he said,
and after the early meal he went with him to the park, and had quarters both
for the day and night built for him, and, assigning the keeper of the park
as his attendant, he saluted him and departed. The Great Being from that
time fed continually in the palace, and lived there twelve years. |
| Một hôm, hoàng hậu đă chuẩn bị thực phẩm của ngài xong, và v́ ngài đến muộn,
nên bà đi tắm nước hương thơm ngát, choàng chiếc y bằng lụa mỏng manh mềm
mại, rồi mở cửa thượng lầu nằm xuống một vương sàng nhỏ để cho gió lùa trên
thân thể bà. Sau đó, Bồ-tát đắp hạ y và thượng y, cầm b́nh bát, du hành qua không gian đi vào cửa sổ ấy. Khi hoàng hậu vội vàng đứng dậy v́ nghe tiếng sột soạt của các tấm y bằng vỏ cây trên thân ngài, chiếc y bằng lụa mỏng rơi khỏi người bà. Một đối tượng lạ thường đập vào mắt bậc Đại Sĩ. Rồi một dục tưởng đă ẩn trong tâm ngài từ vô lượng kiếp, chợt bừng dậy như một con rắn nằm trong hộp, xua tan thiền lực của ngài. Rồi không đủ khả năng ổn định tư tưởng, ngài đến chụp lấy hoàng hậu bằng đôi tay và hai vị lập tức kéo màn che phủ quanh người. Sau khi đă phạm tà dục với bà, ngài thọ thực và trở về ngự viên. Từ đó về sau, ngày nào ngài cũng đến làm như vậy. Tà hạnh của ngài vang dậy khắp kinh thành. Các cận thần của vua dâng sớ tâu tŕnh vua: "Nhà khổ hạnh Hàrita đang hành động như vậy như vậy". Vua suy nghĩ: "Họ nói như vậy để ly gián chúng ta" và vua không tin chuyện
ấy. - Có thật Thánh nhân khổ hạnh Hàrita đă phạm tà dục với ái hậu chăng? |
Now one day she had prepared his
food, and as he delayed his coming, she bathed in scented water, and put on
a soft tunic of fine cloth, and opening the lattice lay down on a small
couch, and let the wind play upon her body. And the Bodhisatta later on in
the day, dressed in a goodly inner and outer robe, took his alms-bowl and
walking through the air came to the window. As the queen rose up in haste,
at the rustling sound of his bark garments, her robe of fine cloth fell from
off her. An extraordinary object struck upon the eye of the Great Being.
Then the sinful feeling, that had been dwelling for countless aeons in his
heart, rose up like a snake lying in a box, and put to flight his mystic
meditation. Being unable to fix his thoughts he went and seized the queen by
the hand, and forthwith they drew a curtain round them. After misconducting
himself with her, he partook of some food and returned to the park. And
every day thenceforth he acted after the same manner. His misconduct was blazed abroad throughout the whole city. The king's ministers sent a letter to him, saying, "Hārita, the ascetic, is acting thus and thus."
|
|
Ngài suy nghĩ: "Nếu ta nói ta không phạm tội lỗi, vị vua này sẽ tin ta, nhưng trên thế gian này, không có một căn cứ nào vững chắc bằng nói sự thật. Người nào từ bỏ sự thật, dù ngồi trong Bồ-đề đạo tràng linh thiêng cũng không để đạt quả Phật. Vậy ta cần nói sự thật". Trong vài trường hợp, một vị Bồ-tát có thể sát sinh, lấy của không cho, phạm tà dục và uống rượu nồng, nhưng vị ấy không được nói dối đi kèm với sự lừa phỉnh vi phạm chân lư của vạn vật. V́ thế ngài ngâm vần kệ thứ hai chỉ nói lên sự thật: 2. Ta phạm ác hành, hỡi Đại vương, Đúng như Ngài đă được nghe rằng Mắc vào tà thuật trong trần thế, Ta đă đi sai lạc bước đường. Nghe vậy, vua ngâm vần kệ thứ ba: 3. Trí tuệ uyên thâm của thế nhân Hoài công vô ích, chẳng xua tan Dục tham bùng dậy trong ḷng dạ Của bậc trí nhân đă lạc đường. Sau đó Hàrita nêu rơ cho vua thấy uy lực của dục tham qua vần kệ thứ tư: 4. Bốn ác dục này ở thế gian Uy quyền lấn áp cứ lan tràn: Tham, sân, vô độ và si ám, Tri kiến không sao đứng vững vàng. Vua nghe liền ngâm vần kệ thứ năm: 5. Thánh hạnh tràn đầy với trí minh Hà-ri Hiền giả đáng tôn vinh! Hiền giả Hàrita ngâm tiếp vần kệ thứ sáu: 6. Ác tâm, tham dục, do liên kết, Huỷ hoại trí nhân hướng Thánh hành. Sau đó vua ngâm vần kệ thứ bảy khuyến nhủ vị ấy quẳng bỏ mọi tham dục: 7. Vẻ đẹp trong tâm tịnh sáng ngời Bị hư v́ ác dục sinh sôi, Quẳng ngay, hạnh phúc đang chờ đón, Quần chúng tuyên dương trí tuệ ngài. Khi ấy Bồ -tát đă phục hồi năng lực Thiền định và quán sát sự đau khổ của tham dục, ngài ngâm vần kệ thứ tám: 8. V́ tham dục trói buộc thân này, Sinh sản cho ta quả đắng cay, Ta quyết cắt sâu cho tận gốc Mọi mầm tham dục khởi lên đây. Nói vậy xong, ngài xin phép vua, rồi sau khi được chấp nhận, ngài về tham am tập trung nhăn lực vào đề tài và nhận định, sau đó bước ra khỏi am, ngồi bắt chéo chân trên không và giảng Chánh pháp cho vua, ngài bảo: - Tâu Đại vương, ta đă tạo nên sự chỉ trích của quần chúng v́ ta cư trú một nơi mà ta không nên cư trú. Nhưng giờ đây xin Đại vương hăy tỉnh giác hộ pḥng. C̣n ta sẽ trở về núi rừng thoát ly mọi ô nhiễm của nữ sắc. Rồi giữa những giọt nước mắt và tiếng than khóc của vua, ngài trở về Tuyết Sơn, rồi không gián đoạn Thiền định, ngài lên cơi Phạm thiên. Bậc Đạo Sư biết toàn thể câu chuyện và bảo: 9. Như vậy, Hà-ri bậc trí nhân Đấu tranh v́ Chánh pháp kiên cường, Vừa khi rời bỏ niềm tham dục, Hướng đến Phạm thiên tiến thẳng đường. * Sau khi ngâm vần kệ do Trí tuệ tối thắng, Ngài tuyên thuyết các Sự Thật. Vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo có tâm thế tục ấy đă đắc Thánh quả. Rồi Ngài nhận diện tiền thân: - Thời bấy giờ vua là Ànanda, và Hàrita chính là Ta. -ooOoo-
|
[499] He thought, "If I were to say I am not indulging in sin, this king would believe me, but in this world there is no sure ground like speaking the truth. They who forsake the truth, though they sit in the sacred enclosure of the Bo tree, cannot attain to Buddhahood. I must needs just speak the truth." In certain cases a Bodhisatta may destroy life, take what is not given him, commit adultery, drink strong drink, but he may not tell a lie, attended by deception that violates the reality of things. Therefore speaking the truth only he uttered the second stanza: In evil ways, great king, as thou hast heard, Caught by the world's delusive arts, I erred. p. 297 Hearing this the king spoke the third stanza: Vain is man's deepest wisdom to dispel The passions that within his bosom swell. Then Hārita pointed out to him the power of sin and spoke the fourth stanza: There are four passions in this world, great king, That in their power are over-mastering: Lust, hate, excess and ignorance their name; Knowledge can here no certain footing claim. [500] The king on hearing this spoke the fifth stanza: Endowed with holiness and intellect The saintly Hārita wins our respect. Then Hārita spoke the sixth stanza: Ill thoughts, with pleasant vices if combined, Corrupt the sage to saintliness inclined. Then the king, encouraging him to throw off sinful passion, spoke the seventh stanza: The beauty that from purest hearts doth shine Is marred by lust, born of this mortal frame; Away with it, and blessings shall be thine, And multitudes thy wisdom shall proclaim. Then the Bodhisatta recovered the power to concentrate his thoughts, and observing the misery of sinful desire, he spoke the eighth stanza: Since blinding passions yield a bitter fruit, All growth of lust I cut down to the root. [501] So saying he asked the king's leave, and having gained his consent he entered his hermit hut, and fixing his gaze on the mystic circle he entered into a trance, and came forth from the hut, and sitting cross-legged in the air he taught the king the true doctrine and said, "Great king, I have incurred censure in the midst of the people by reason of my dwelling in a place where I ought not. But be thou vigilant. Now will I return to some forest free from all taint of womankind." And amidst the tears and lamentations of the king he returned to the
Himālaya, and without falling away from mystic meditation he entered the
Brahma world. |
| 433. Chuyện Vị
Khổ Hạnh Ca- Diếp Nhiều Lông Tóc (Tiền thân Lomasa Kassapa) Đại vương sẽ giống hệt Ind-ra..., Bậc Đại Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo có tâm thế tục. Bậc Đạo Sư hỏi vị ấy có thật ông đang mơ tưởng chuyện thế tục chăng, và khi ông công nhận là đúng như vậy, bậc Đạo Sư bảo: - Này Tỷ-kheo, ngay cả người đạt danh vọng tối cao đôi khi cũng phạm vào một việc ô danh. Những tội lỗi như thế làm ô uế những vị thanh tịnh, huống nữa là một kẻ như ông. Rồi Ngài một chuyện quá khứ. * Ngày xưa vương tử Brahmadatta, con vua Brahmadatta ở Ba-la-nại, và con trai vị tế sư hoàng gia tên là Kassapa là đôi bạn đồng học mọi nghệ thuật tại nhà một giáo sư. Dần dần khi vua cha băng hà, thái tử lên trị v́ quốc độ. Kassapa nghĩ: "Hiền hữu ta đă lên làm vua và sẽ ban đại quyền lực cho ta. Song ta có cần ǵ quyền lực? Ta muốn giă từ đức vua cùng song thân và trở thành vị khổ hạnh". V́ vậy ngài vào vùng Tuyết Sơn sống đời tu hành, vào ngày thứ bảy ngài thành đạt các Thắng trí và các Thiền chứng và tự kiếm sống bằng những thứ nhặt được giữa đồng hoang. Quần chúng đặt cho ngài biệt danh nhà khổ hạnh Lomasa Kassapa (Ca-diếp có nhiều lông tóc). V́ hành hạ thân xác, và trở thành vị khổ hạnh khắc nghiệt cao độ. Do công năng khổ hạnh này, cung của Thiên chủ Sakka (Đế Thích) rúng động. Sakka suy xét duyên cớ, quan sát ngài và suy nghĩ: "Vị khổ hạnh này nhờ công năng toả nhiệt độ mănh liệt như thế, có thể khiến ta rớt khỏi ngai Đế Thích. Ta sẽ phá huỷ khổ hạnh của vị ấy sau khi bí mật hội kiến với vua Ba-la-nại". Nhờ thần lực của một vị Thiên chủ, Đế Thích vào cung của vua Ba-la-nại lúc nửa đêm và chiếu sáng toàn thể cung thất với hào quang trên thân, vừa đứng trên không trước mặt vua, Thiên chủ vừa thức vua dậy và nói: - Thưa Đại vương, dậy đi. Vua hỏi: - Ngài là ai? Vua hỏi. - Ta là Sakka. Thiên chủ đáp - Ngài đến đây v́ duyên cớ ǵ? - Thưa Đại vương, Đại vương có muốn quyền ngự trị duy nhất toàn cơi Diêm-phù-đề (Ấn Độ) này chăng? - Dĩ nhiên trẫm muốn. Nghe thế thiên chủ bảo: - Vậy hăy đưa Lomasa Kassapa về đây và ra lệnh cho vị ấy làm lễ tế đàn bằng cách giết thú vật, rồi Đại vương sẽ trở thành vĩ đại như Thiên chủ Sakka (tức Indra), thoát khỏi già chết, và cầm quyền khắp cơi Diêm- phù-đề. Rồi ngài ngâm vần kệ đầu: 1. Đại vương sẽ giống hệt Ind-ra, Sẽ chẳng chết đi, cũng chẳng già, Ví thử Kas-sa-pa nhận lệnh Tế đàn sinh vật tại cung vua. Nghe lời ngài, vua sẵn sàng chấp thuận. Sakka bảo: - Thế th́ đừng chậm trễ. Rồi ngài biến mất. Hôm sau, vua triệu vị quốc sư tên Sayha đến bảo: - Này Tôn giả, xin đến gặp thân hữu Lomasa Kasaspa của trẫm và nhân danh trẫm nói với người như vầy: "Nếu Đại vương khuyến dụ được ngài làm lễ hiến tế sinh vật, đại vương sẽ trở thành vị chúa độc nhất ở toàn cơi Diêm-phù-đề và sau đó ban ngài nhiều vùng lănh thổ như ư ngài muốn. Vậy xin ngài cùng đi với tôi về làm lễ tế đàn". Vị ấy đáp: - Tâu Đại vương, xin vâng. Sau đó dùng trống lệnh truyền t́m chỗ vị khổ hạnh cư trú, và khi có người kiểm lâm bảo: "Tiểu thần biết", Sayha liền đi theo sự hướng dẫn của y cùng một đoàn tuỳ tùng đông đảo, đến kính lễ vị hiền nhân và vừa cung kính ngồi một bên, vừa tŕnh thông điệp của vua. Vị hiền nhân liền bảo: - Này Sayha, Tôn giả nói ǵ vậy? Rồi Ngài ngâm bốn vần kệ từ chối vị này: 2. Không hải đảo nào giữa đại dương Được người canh giữ thật an toàn Ḥng mong lôi cuốn ta, Tôn giả, Vào việc bạo tàn đại bất lương. 3. Ḷng tham lợi dưỡng với vinh danh, Tội ác từ đây vẫn phát sinh, Đưa đến khổ ưu không gián đoạn Ác hành tai hại đáng chê khinh! 4. Thà làm kẻ khốn khó ly gia, Khất thực kiếm ăn khắp mọi nhà Hơn phải tạo nên điều tội lỗi Sẽ mang ô nhục trút đầu ta. 5. Thà cầm b́nh bát ở trong tay Để tránh thật xa tội lỗi này, Hơn chiếm được toàn quyền quốc độ Nhờ hành động ác độc như vầy. Sau khi nghe ngài nói, vị quốc sư ra về tŕnh vua. Vua suy nghĩ: "Nếu vị ấy không chịu đến đây th́ ta làm ǵ được?", rồi ngồi im lặng. Nhưng nửa đêm, Thiên chủ Sakka lại đến đứng trên không và bảo: - Thưa Đại vương, tại sao Đại vương không truyền gọi ẩn sĩ Lomasa Kassapa về và ra lệnh vị ấy làm lễ hiến tế súc vật? - Khi được lệnh truyền gọi, vị ấy đă từ chối về đây. - Thưa Đại vương, hăy trang điểm cho công chúa Candavat́ (Nguyệt Nương), ái nữ của Đại vương, và nhờ chính tay Sayha đưa nàng đi và bảo vị ấy: "Nếu Tôn giả muốn về dâng tế lễ, Chúa thượng sẽ ban thưởng công nương này làm vợ ngài". Rơ ràng vị ấy sẽ sinh ḷng say mê công chúa và về đây. Vua sẵn sàng chấp thuận và hôm sau nhờ chính tay Sayha đưa công chúa đi. Sayha đem công chúa đến đó, và sau lời chào hỏi thông thường cùng ca ngợi vị hiền giả, vị quốc sư bảo đưa đến tŕnh diện với ngài nàng công chúa diễm lệ khả ái như tiên nữ cung kính đứng xa xa. Vị khổ hạnh mất ngay trí đức khi nh́n thấy nàng và chỉ nh́n thế thôi, ngài đă tiêu tan hết Thiền lực. Vị quốc sư thấy ngài đă đắm say luyến ái nàng, liền bảo: - Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả muốn hiến tế, Chúa thượng sẽ ban công chúa này về làm vợ ngài. Ngài rung động v́ mănh lực của tham dục liền hỏi: - Chắc chắn Chúa thượng sẽ ban nàng cho ta chứ? - Đúng vậy, nếu ngài làm tế lễ, Chúa thượng sẽ ban nàng cho ngài. - Tốt lắm. Nếu ta được nàng, ta sẽ làm lễ hiến tế. Rồi đem nàng đi cùng ngài ngay lúc ấy với các cḥm tóc bện của một vị khổ hạnh và mọi thứ khác, ngài leo lên chiếc vương xa lộng lẫy đi về Ba-la-nại. C̣n vua, ngay khi nghe tin đang chắc chắn đến đó, liền chuẩn bị lễ đàn ở hố hiến tế sinh vật. Khi thấy ngài đă đến, vua bảo: - Nếu Hiền hữu dâng lễ hiến tế, trẫm sẽ sánh ngang với Thiên chủ Indra, và khi tế lễ hoàn tất, trẫm sẽ ban công chúa cho Hiền hữu. Vị khổ hạnh Kasapa sẵn sàng chấp thuận. V́ thế hôm sau vua cùng công chúa Candavat́ đi đến hố hiến tế sinh vật. Tại đó có đủ loại súc vật bốn chân như voi, ngựa, ḅ đực và các loài khác đặt thành một dăy. Ẩn sĩ Kasapa lănh việc hiến tế bằng cách giết chết tất cả bọn chúng. Lúc ấy thần dân tụ tập quanh đó bảo: - Hỡi Tôn giả Lomasa Kasapa, việc này không thích hợp cũng không xứng đáng với ngài, tại sao ngài làm như vậy? Và vừa than vừa khóc, họ vừa ngâm hai vần kệ: 6. Nhật, nguyệt đều mang đại lực thân, Thuỷ triều không nhượng lực phàm trần, La-môn, Đạo sĩ đầy oai lực, Song vẫn kém xa lực nữ nhân. 7. Nguyệt Nương cũng vậy, đă làm cho Ca-diếp Hiền nhân mắc tội to, Thúc giục ngài theo lời Chúa thượng Tế đàn sinh vật tại cung vua. Vào lúc này để bắt đầu tế lễ, Kasapa nhấc bảo kiếm lên để đánh vào cổ vương tượng. Con voi thấy thanh kiếm, kinh hoàng sợ chết, liền rống thật lớn. Khi nghe tiếng voi rống, các súc vật kia, cả bầy voi ngựa, ḅ đực v́ sợ chết, đồng rống lên thật lớn và quần chúng cũng kêu thét lên. Kasapa nghe các tiếng rống kia, ḷng xúc động và nghĩ lại các cḥm tóc bện của ḿnh. Lúc ấy ngài nhờ đến các cḥm tóc, râu và lông phủ khắp ngực và toàn thân. Đầy hối hận, ngài kêu lớn: - Than ôi, ta đă phạm ác nghiệp không xứng đáng với tính cách của ta. Rồi ngài ngâm vần kệ thứ tám bày tỏ xúc động của ḿnh: 8. Ác nghiệp này ta đă muốn làm, Chính là kết quả của ḷng tham, Cái mầm dục vọng đang tăng trưởng, Gốc rễ nó, ta quyết cắt ngang. Sau đó vua phán: - Này Hiền hữu, đừng sợ, hăy dâng tế lễ và ngay bây giờ trẫm sẽ ban cho Hiền hữu công chúa Candavat́, cùng với vương quốc của trẫm và cả một đống châu báu cao ngất nữa. Nghe thế, ẩn sĩ Kassapa đáp: -Tâu Đại vương, ta không muốn tội ác này tràn ngập tâm ta. Rồi ngâm vần kệ kết thúc: 9. Đáng ghét bao tham dục thế thường Thà theo khổ hạnh tốt lành hơn, Ta làm ẩn sĩ nguyền ly dục, Ngài giữ nước nhà với Nguyệt Nương. Cùng với những lời này, ngài tập trung vào một đối tượng Thiền quán. Khi phục hồi được định lực đă mất, ngài ngồi bắt chéo chân trên không, thuyết Pháp cho vua, khuyên nhủ vua tinh cần làm thiện sự và bảo vua huỷ bỏ tế đàn cùng ban lệnh ân xá cho quần chúng. Rồi thể theo lời thỉnh cầu của vua, ngài bay lên không trở về nơi an trú của ḿnh. Trong thời gian ngài c̣n sống, ngài tu tập các Phạm trú Viên măn (Tứ Vô lượng tâm ) và được sinh lên Phạm thiên giới. * Sau Pháp thoại, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo có tâm thế tục đă đắc Thánh quả (A-la-hán). Rồi Ngài nhận diện Tiền thân: - Thuở ấy vị đại quốc sư là Sàriputta và vị khổ hạnh Lomassa Kasapa chính là Ta. -ooOoo- (Contents) |
|
| 435. Chuyện Ước
Mơ Chóng Phai Tàn (Tiền thân Halidaràga) Trong chốn rừng hoang vắng một ḿnh..., Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một chàng thanh niên bị một thiếu nữ thô tục cám dỗ. Phần duyên khởi chuyện này sẽ xuất hiện trong Chương Mười ba, Tiền thân Cullàrada, số 477, tập IV. * Bấy giờ theo cổ tích này, cô thiếu nữ biết rằng nếu chàng thanh niên khổ hạnh phá huỷ giới đức, chàng sẽ rơi vào uy lực của nàng. Rồi nghĩ cách dụ dỗ chàng và đưa chàng trở lại cơi trần tục, nàng bảo: - Giới đức được hộ pḥng cẩn mật ở rừng sâu, nơi các đặc tính của dục lạc như sắc đẹp, tiếng hay và các thứ tương tự như thế không có mặt, nên giới đức ấy không mang lại nhiều kết quả; song nó sẽ mang kết quả sung măn trong cơi đời thế tục khi đối diện trực tiếp với sắc đẹp, cùng các thứ kia. Vậy chàng hăy đi cùng thiếp về hộ pḥng giới đức tại đó. Và nàng ngâm vần kệ đầu: 1. Trong chốn rừng hoang vắng một ḿnh Con người có thể giữ tâm lành, Dễ dàng chịu đựng tṛ lôi cuốn, Song ở thôn quê hoặc thị thành Đầy rẫy biết bao mùi cám dỗ Người vươn đến hạnh phúc tối cao minh. Khi nghe vậy, chàng khổ hạnh trẻ tuổi đáp: - Cha ta đă vào rừng. Khi người trở lại, ta sẽ xin phép người và đi theo nàng. Nàng suy nghĩ: "Có lẽ chàng c̣n thân phụ. Nếu vị ấy thấy ta ở đây, vị ấy sẽ lấy đầu mũi đ̣n gánh đánh chết ta. Ta phải chạy trốn trước". V́ thế nàng bảo chàng trai: - Thiếp sẽ ra đi lên đường về trước chàng và để lại dấu chân sau đó, chàng cần phải đi theo thiếp. Khi nàng đă đi rồi, chàng không đem củi về, cũng không lấy nước uống, mà chỉ ngồi thừ người suy nghĩ miên man, đến khi cha về, chàng cũng không ra đón. V́ thế cha chàng hiểu con ngài đă rơi vào uy lực của nữ nhân, liền bảo: - Này con, sao con chẳng t́m củi hay mang nước về uống, cũng chẳng có ǵ ăn, sao con chẳng làm ǵ cả mà chỉ ngồi người ra suy nghĩ? Chàng trai khổ hạnh đáp: - Thưa cha, người ta nói rằng giới đức được hộ pḥng trong rừng hoang không đem lại kết quả mấy, nhưng nó sẽ phát sinh nhiều kết quả giữa của đời. Con muốn đi hộ pḥng giới đức tại đó. Bạn đồng hành của con đă đi trước và bảo con theo sau. Vậy con muốn đi cùng bạn con. Nhưng khi sống tại đó, con phải cư xử theo cách nào? Vừa hỏi câu này, chàng vừa ngâm vần kệ thứ hai: 2. Thưa cha, xin giải toả nghi nan: Ví lỡ con đi lạc bước đường, Từ chốn rừng này vào xóm nọ, Người nào giữ đức độ hiền lương, Hay là môn phái nào tu tập Con phải noi theo thật chánh chơn? Sau đó thân phụ chàng ngâm các vần kệ c̣n lại: 3-4. Một kẻ nào con tín nhiệm luôn, Và con tạo được mối yêu thương, Người này tin cậy lời con nói, Tỏ với con kiên nhẫn nhịn nhường, Người ấy chẳng bao giờ phạm lỗi Về lời nói, ư tưởng hay thân, Hăy đem người ấy vào ḷng dạ Theo sát người kia tựa bạn vàng 5-6. Với hạng người thay đổi lạ lùng Như lời loài khỉ vượn nhảy lung tung, Tính t́nh bất định, th́ con nhớ Đừng hướng tâm giao kết bạn cùng, Dù số phần con quanh quẩn măi Một ḿnh trơ trọi ở trong rừng. 7. Hăy tránh xa đường hướng ác hành, Như con tránh rắn dữ cho nhanh, Hay như người lái xe xa lánh Một lối đi gai gốc gập ghềnh. 8-9. Các nỗi khổ đau vẫn ngập tràn Khi người hầu cận hạng si cuồng, Đừng giao kết bọn người ngu xuẩn, Lời nói của cha phải phục tuân, Làm bạn với phường vô trí ấy Chỉ làm mồi khổ năo đau buồn. Khi được cha khuyến giáo như vậy, chàng trai đáp: - Nếu con đi đến chỗ người đời, con không thể t́m được các bậc hiền trí như cha. Con sợ đến đó lắm rồi. Con muốn ở lại đây hầu cận bên cha. Sau đó phụ thân chàng lại khuyến giáo nhiều hơn nữa và dạy chàng các nghi thức tu tập đưa đến Thiền định vi diệu. Rồi chẳng bao lâu, chàng trai phát triển các Thắng Trí và các Thiền chứng và về sau chàng cùng cha đều được sinh lên cơi Phạm thiên. * Sau Pháp thoại, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo mơ tưởng thế tục đă đắc Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện Tiền thân: - Thời ấy vị khổ hạnh trẻ tuổi là Tỷ-kheo có tâm hướng về thế tục này, cô gái thuở ấy là cô gái ngày nay và cha chàng chính là Ta. -ooOoo- (Contents) |
|
| (Contents) | |
|
List
Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam) KINH VIÊN GIÁC
(THE SUTRA OF COMPLETE ENLIGHTENMENT ) Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra)
Phẩm nữ giới
KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna
sutta) Kahlil Gibran Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra) 1) Phẩm nữ giới Trung Bộ Kinh 6) trungbokinh6.htm ( Nikaya 35 thru 40)
KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna sutta)
Thiền Sư Và Triết Gia YouTube: Video A Quote by Siddhartha Gautama Buddha Kinh Lang Nghiem
(audio)
KINH LĂNG NGHIÊM
(Shurangama Sutra)
Kinh Hoa Nghiem (audio)
http://www.youtube.com/watch?v=e7w_GFjoy04&feature=related
http://www.youtube.com/user/etapasvi#p/u/2/L78K8T278aE LICH COLLECTION
http://www.lich-mc.com/vietnam/Collection/
** Tai sao sai pham cua Cong San qua nghiem trong ** V́ sao chúng ta chống đối tất cả các họat động của VC
|
|
|
Home | 81 BCND | Freedom4Vietnam | Vietnamese Songs | Vietnamese Students | Our Sponsor
Since 06-27-01
Home |
u2 |
u3 |
u4 |
u5 |
u6 | Big html
|
|