CHUYỆN LIÊN QUAN ĐẾN NỮ NHÂN  2
 

Tiểu Bộ Kinh -
Chuyện Tiền Thân Đức Phật (I) Jātaka)
Ḥa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

The Jataka **
tr. Robert Chalmers ** ed. E. B. Cowell

 

NỮ NHÂN 1 | NỮ NHÂN 2 | NỮ NHÂN 3

( Trich đọan từ Kinh Viên Giác)
-Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay do có đủ thứ tham dục ân ái nên có luân hồi. Tất cả chủng tánh nơi các thế giới như noăn sanh, thai sanh, thấp sanh, hoá sanh, đều lấy dâm dục làm chánh nhân mới thành có sinh mạng, nên biết ái dục là cội gốc của luân hồi. Do có các dục làm trợ duyên, phát khởi tánh ân ái, v́ thế khiến chúng sanh có sanh tử tương tục.

Dục do ái mà sanh, mạng do dục mới có, chúng sanh tham ái thân mạng là dựa theo cội gốc tham dục, vậy tham dục là nhân, tham ái thân mạng là quả. Do nơi cảnh dục mà sanh tâm yêu ghét; cảnh thuận với tâm ta th́ yêu, cảnh nghịch với tâm ta th́ ghét, nên theo đó tạo đủ thứ ác nghiệp th́ sanh vào đạo địa ngục, ngạ qủy.

( Trich đọan từ Kinh Viên Giác)

“Virtuous man, all sentient beings [experience illusory] cyclic existence due to all kinds of affection, love, craving, and desire [1] since beginningless time. The different types of births in the world - be they from egg, womb, humidity, or by transformation - are created by sexual desire. [2] You should know that attached love is the root of cyclic existence. Because there are all sorts of desirable [objects] that enhance and augment the activity [3] of attached love, birth and death proceed in unending succession.

“Desire arises because of attached love. The existence of life comes from desire. Sentient beings’ love of their lives [in turn] relies on desire as a base. Therefore, love and desire are the cause, love of life is the consequence. Because the objects of desire [vary], like and dislike arise. If the object goes against one’s grasping mind, one gives rise to hatred and jealousy and commits evil karmic deeds. As a result, one is reborn in hell or as a hungry ghost.

( Excerpted from SUTRA Of OF COMPLETE ENLIGHTENMENT)

http://www.thuvienhoasen.org/
Audio sources:
http://suoitumedia1.net/


Contents:
http://www.sacred-texts.com/
(Previous)


77. CHUYỆN GIẤC MỘNG LỚN (Tiền thân Mahàsupina)
251. CHUYỆN DỤC TẦM (Tiền thân Sankappa)
257. CHUYỆN NGƯỜI HẦU CẬN GÀMANI-CANDA (Tiền thân Gàmani-Canda)
258. CHUYỆN ĐẠI VƯƠNG MANDAHÀTÀ (Tiền thân Mandahàtà)
262. CHUYỆN BÀN TAY MỀM MẠI (Tiền thân Mudupàni)
263. CHUYỆN TIỂU DỤC THAM (Tiền thân Culla-Palobhana)
266. Chuyện Con Ngựa Quí Tốc Như Phong (Tiền thân Vàtagga-Sindhava)
269. Chuyện Nàng Sujàta (Tiền thân Sujàta)
374. Chuyện Chàng Tiểu Xạ Thủ (Tiền thân Culladhanuggaha)
380. Chuyện Thiên Nữ Àsankà (Tiền thân Àsankà)
386.Chuyện Con Lừa (Tiền thân Kharaputta)
 

 

 

(Previous)


No. 77. MAHĀSUPINA-JĀTAKA.
No. 251. SAṀKAPPA-JĀTAKA.
No. 257. GĀMAṆI-CAṆḌA-JĀTAKA 1.
No. 258 1. MANDHĀTU-JĀTAKA.
No. 262. MUDU-PĀṆI-JĀTAKA
No. 263. CULLA-PALOBHANA-JĀTAKA
No. 266. VĀTAGGA-SINDHAVA-JĀTAKA
No. 269. SUJĀTA-JĀTAKA.
 

   
** YouTube 14 ***

77. CHUYỆN GIẤC MỘNG LỚN (Tiền thân Mahàsupina)

Trước ḅ đực cây con...,

Câu chuyện này được bậc Đạo Sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên, về mười sáu giấc mộng kỳ bí. Tương truyền vào khoảng canh năm, đêm gần măn, vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala đang ngủ say suốt đêm lại mơ mười sáu giấc mộng lạ lùng khiến vua kinh hăi tỉnh dậy và lo ngại về những điểm xấu có thể xảy đến cho ḿnh. Vua sợ chết đến nỗi không cử động được, mà cứ nằm trùm chăm trên long sàng. Bấy giờ, khi trời gần sáng, các vị Bà-la-môn tế sư đến yết kiến vua và cung kính đảnh lễ, vấn an Hoàng thượng có được ngon giấc chăng.

- Này các Quốc sư, làm sao trẫm ngủ ngon giấc được v́ đúng lúc tảng sáng, trẫm mơ thấy mười sáu giấc mơ thật kỳ bí, và trẫm kinh hoàng từ đó! Này các quốc sư, thử nói cho trẫm biết ỳ nghĩa giấc mơ này.

- Tâu Hoàng thượng, chúng thần sẽ phán đoán khi nghe chuyện.

Thế rồi vua kể cho nghe các giấc mơ và hỏi những cảnh kia báo trước tai họa ǵ cho ḿnh chăng.

Các vị Bà-la-môn đều nắm chặt bàn tay lại. Nhà vua hỏi:

- Này các quốc sư, sao nắm tay lại thế?

- Tâu Đại vương, v́ chính toàn ác mộng cả.

- Vậy chuyện ǵ sẽ xảy ra? Vua hỏi.

- Tâu Đại vương, một trong ba đại nạn sẽ xảy ra làm hại vương quyền, tính mạng cùng tài sản của Đại vương.

- Vậy có cách ǵ cứu chữa được chăng?

- Hiển nhiên những giấc mộng này báo trước những điểm hiểm nguy khó mà cứu văn được; tuy thế, chúng thần quyết t́m phương cách đối trị chúng. Nếu không th́ việc học hành thông thái uyên bác của chúng thần để làm ǵ chứ?

- Vậy chư vị Hiền khanh định làm ǵ để tránh tai họa đó?

- Tâu Đại vương, ở bất kỳ ngă tư đường nào, chúng thần cũng xin lập tế đàn cúng bái cả.

Nhà vua trong lúc lo sợ, vội kêu lên:

- Này các Hiền khanh, tính mạng trẫm trong tay chư vị, xin hăy mau mau hành sự cho trẫm được b́nh an.

Các Bà-la-môn như mở cờ trong bụng, nghĩ thầm: "Thế là những số tiền kết sù, thực phẩm ê hề đủ loại sắp về tay ta rồi!".

Và họ trấn an vua, rồi cùng lui về. Ngoài kinh thành, họ đào hố tế lễ và thu góp cả đàn súc vật bốn chân, lựa giống toàn hảo, không tỳ vết bệnh tật và vô số chim muông. Song họ vẫn thấy c̣n thiếu nhiều thứ quá, nên cứ lui tới cung điện đ̣i thức nọ thức kia măi. Thời bấy giờ, nhưng việc làm không thoát khỏi tầm mắt của Hoàng hậu Mallikà, bà bèn đến yết kiến vua và hỏi việc ǵ khiến các Bà-la-môn cứ đến gặp vua măi vậy.

Vua phán bảo:

- Trẫm thèm được như ái khanh, thật con rắn đă chui vào tai, mà ái khanh chẳng biết ǵ cả.

Tâu Hoàng thượng, ngài phán bảo điều ǵ đấy?

- Ôi, trẫm đă mơ thấy những giấc mộng thật xui xẻo! Các vị Bà-la-môn kia bảo rằng chúng báo trước một trong ba đại họa, nên các vị ấy nôn nóng dâng lễ tế đàn để tránh tai ương đó, v́ thế chư vị đến đây hoài.

- Song Hoàng thượng đă thỉnh ư vị Bà-la-môn tối thượng của loài người và chư Thiên chưa?

- Này ái khanh, hăy cho trẫm biết vị đó là ai vậy? Quốc vương hỏi.

- Thế Hoàng thượng không biết vị Đạo Sư Bà-la-môn tối thượng của thế gian, bậc Toàn tri, thanh tịnh, vô cấu ấy chăng? Dĩ nhiên Ngài là đức Thế Tôn sẽ hiểu rơ các giấc mộng của Hoàng thượng, xin Hoàng thượng hăy đến yết kiến Ngài và hỏi cho rơ.

Nhà vua đáp:

- Này ái hậu, vậy th́ trẫm sẽ đi ngay.

Thế là vua liền ngự đến tinh xá, đảnh lễ bậc Đạo Sư và ngồi xuống.

- Có việc ǵ khiến Đại vương đến đây từ sáng tinh mơ thế này? Bậc Đạo Sư hỏi bằng giọng êm dịu.

- Bạch Thế Tôn, nhà vua đáp. Lúc gần tảng sáng, trẫm đă mơ mười sáu giấc mộng kỳ bí khiến trẫm kinh hoàng và kể lại cho các vị Bà-la-môn nghe. Các vị ấy bảo giấc mộng kia báo trước điềm dữ, vậy để tránh tai họa xảy ra, chư vị ấy phải dâng lễ tế đàn ở bất kỳ ngă tư đường nào. Và chư vị ấy bận rộn chuẩn bị tế lễ, trong khi nhiều sinh vật lo sợ cái chết đang kề trước mắt. Song bạch Thế Tôn, xin hăy cho biết những ǵ sẽ xảy ra từ những giấc mộng kia, Thế Tôn là bậc tối thượng của chư Thiên và loài người, bậc toàn trí về mọi việc hiện tại, quá khứ và vị lai.

- Thật vậy, này Đại dương, không có ai ngoài Ta có thể nói đúng ư nghĩa các giấc mộng của Đại vương và những ǵ sẽ xảy ra sau đó. Ta sẽ nói. Vậy trước tiên ngài hăy kể cho Ta nghe những giấc mộng xuất hiện ra sao.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Vua đáp và lập tức đưa ra bản liệt kê này, theo thứ tự các giấc mộng xuất hiện:

Trước ḅ đực, cây con,
Sau ḅ cái, bê non,
Ngựa, bát vàng, sơn cẩu,
B́nh nước, hồ sen trong,
Cơm sống, chiên-đàn quí,
Bầu bí lặn xuống ḍng.
Đá to th́ trôi nổi,
Nhái bén, ễnh ương cùng
Xé tan bầy rắn hổ,
Quạ lại có tùy tùng
Chính bầy hoàng nga đẹp,
Chó sói sợ dê rừng!

Như vậy, bạch Thế Tôn, trẫm đă mơ thấy những giấc mơ này nghĩa là thế nào?

1. - H́nh như có bốn con ḅ đực, sắc đen tuyền từ bốn hướng chạy vào sân chầu với vẻ muốn đánh nhau, dân chúng đổ xô đến xem đấu ḅ, họp thành một đám đông, nhưng bầy ḅ chỉ giương oai múa vơ, gầm thét ầm ĩ rồi cuối cùng bỏ đi chứ không đánh nhau. Đó là giấc mơ đầu của trẫm. Nó báo trước điều ǵ sẽ xảy ra chăng?

- Này Đại vương, giấc mơ ấy không có hậu quả ǵ ngay trong thời Đại vương hay trong thời của Ta đâu. Mà sau này, vào thời kỳ vua chúa xan tham, bất công, khi dân chúng không theo Chánh pháp, thế giới đảo điên, việc thiện suy giảm, và điều ác đồng thời tăng trưởng. Trong những ngày thế giới điêu tàn ấy, sẽ không có mưa từ trời rơi xuống, gió không thổi, mùa màng cây cỏ khô héo, nạn đói nổi lên trên địa cầu. Rồi mây sẽ kéo đến từ góc trời như thể sắp mưa, khiến dân chúng vội vă, trước tiên là mang vào nhà mọi thứ thóc lúa, hoa màu mà phụ nữ đă đem phơi nắng, vị sợ ướt hết. Sau đó đám đàn ông đem xẻng, thúng... đi đắp đê. Bầu trời như thể có dấu hiệu mưa tới, sấm nổ ầm ầm, chớp lóe sáng ḷa xé mây, nhưng rồi cũng như bầy ḅ trong giấc mơ nọ không đánh nhau th́ mây kia cũng sẽ tan nhanh và mưa chẳng đến. Những việc nọ mà các Bà-la-môn bảo ngài làm chỉ cốt để sinh lợi cho họ thôi.

Khi bậc Đạo Sư đă nói xong giấc mộng này, Ngài bảo:

- Đại vương hăy kể cho ta nghe giấc mộng thứ hai.

2. - Bạch Thế Tôn, vua đáp, giấc mộng thứ hai của trẫm như vầy: H́nh như có những bụi cây con từ dưới đất trồi lên, khi chúng chỉ mới cao chừng vài tấc th́ chúng đă đơm hoa kết trái. Đó là giấc mơ thứ hai, và chuyện ǵ sẽ xảy ra từ đây chăng?

- Này Đại vương, giấc mộng này sẽ thành hiện thực vào thời thế giới này suy đồi và con người yểu mệnh. Trong thời vị lai, dục vọng sẽ rất mănh liệt, có những bọn con gái rất non trẻ đi đến sống chung với bọn đàn ông và rồi cũng theo lề lối đàn bà, chúng sẽ thụ thai và sinh con cái. Hoa quả kia tượng trưng cho con cái của chúng. Nhưng Đại vương chẳng có ǵ phải lo sợ cả. Đại vương hăy nói cho Ta nghe giấc mơ thứ ba đi.

3. - Bạch Thế Tôn, h́nh như trẫm mơ thấy bầy ḅ cái bú sữa con mà chúng vừa sinh ra trong một ngày thôi. Đó là giấc mơ thứ ba. Vậy điều ǵ sẽ xảy ra chăng?

- Giấc mơ này, thưa Đại vương, chỉ thành hiện thực trong thời vị lai, khi các người già không c̣n được kính trọng nữa. Trong thời ấy, con người đời không tỏ ḷng kính trọng cha mẹ ḿnh hay nhạc phụ nhạc mẫu. Chính con cháu sẽ cai quản tài sản gia đ́nh, và nếu họ muốn, họ sẽ cho cha mẹ thức ăn, áo mặc, c̣n nếu không thích th́ họ sẽ cất hết các quà biếu ấy lại. Lúc ấy đám người già sống thiếu thốn và lệ thuộc vào bọn con cháu, tùy theo ân huệ ban bố của con cháu ḿnh, giống như ḅ cái bú sữa ḅ con vừa mới sinh một ngày! Nhưng Đại vương chẳng cần phải lo sợ ǵ cả. Hăy kể cho Ta nghe giấc mơ thứ tư đi.

4. - Bạch Thế Tôn, h́nh như trẫm thấy người ta mở dây buộc đàn ḅ lực lưỡng mạnh bạo ra, rồi đem đàn ḅ con bắt kéo xe, và chúng không đủ sức mang gánh nặng đặt lên đầu chúng, nên không chịu đi, chỉ đứng yên, khiến xe cộ không chạy được trên đường sá. Đó là giấc mộng thứ tư của trẫm, và việc ǵ sẽ xảy ra chăng?

- Giấc mộng này, thưa Đại vương, cũng chẳng thành hiện thực măi cho đến ngày vị lai, thời có các vua chúa bất minh. Trong thời vị lai ấy, các vua chúa xan tham bất chánh không có ḷng tôn kính các bậc trưởng thượng thông thái, am hiểu luật pháp cổ kim, đa mưu túc kế, thành thạo việc đời, nên vua không bổ nhiệm vào pháp đ́nh những vị phán quan thông minh uyên bác về luật vua phép nước. Chẳng những thế, bọn vua chúa ấy quư trọng những người quá non trẻ ngu si và chỉ định chúng vào những chức chủ tọa ṭa án. Đám người này vừa ngu dốt việc triều chính, vừa kém cỏi không thể vận dụng kiến thức và thực hành, nên không đủ sức mang nổi trách nhiệm cao cả của chúng hoặc trị dân trị nước, mà sẽ làm nghiêng ngả giềng mối quốc sự v́ thiếu năng lực tài ba.


** YouTube 15 ***

Do đó những bậc cao niên trưởng thượng thông thái kia, dù đầy đủ tài năng đương đầu với mọi trở lực gian lao, vẫn nhớ rơ là họ đă bị bỏ rơi như thế nào rồi, nên sẽ từ chối giúp sức và bảo: "Đây không phải là việc của chúng ta, chúng ta là người ngoài cuộc, cứ để cho bọn trẻ nội bộ lo liệu". Từ đó, các vị ấy đứng tách rời ra, và cảnh suy tàn sẽ vây hăm đám vua chúa kia từ mọi phía. Chuyện ấy cũng giống như dây thắng đem buộc vào bầy ḅ con chưa đủ sức kéo xe nặng nề, chứ không phải buộc vào đàn ḅ kéo xe lực lưỡng từ xưa, chính bọn chúng đă thừa khả năng đảm đang việc ấy. Tuy vậy, Đại vương chẳng có ǵ phải sợ hăi cả. Hăy kể tiếp giấc mơ thứ năm đi.

5. - Bạch Thế Tôn, h́nh như trẫm mơ thấy một co ngựa có cái mồm cả hai bên, thức ăn được bỏ vào cả hai bên, nên nó ăn luôn cả hai mồm cùng một lúc, đó là giấc mơ thứ năm. Vậy việc ǵ sẽ xảy ra chăng?

- Giấc mơ này cũng chỉ thành hiện thực trong tương lai, thời kỳ các vua chúa ngu si bất chánh bổ nhiệm bọn người tham lam bất chánh làm phán quan. Bọn người hèn hạ này là một bọn ngu si, khinh chê điều thiện, sẽ nhận tiền của hối lộ từ cả hai bên trong lúc chúng ngồi ghế xét xử, chúng sẽ nhét đầy túi tham với cách nhũng lạm cả hai phía này, chẳng khác nào con ngựa ăn cỏ cả hai mồm cùng một lúc. Tuy thế, Đại vương chẳng có ǵ phải lo sợ chuyện đó cả. Hăy kể tiếp giấc mộng thứ sáu.

6. - Bạch Thế Tôn, h́nh như trẫm thấy người ta cầm một cái bát vàng sáng loáng đáng giá trăm ngàn đồng tiền, lại đưa ra mời một con chó rừng già nua tiểu tiện vào đấy. Và trẫm thấy con vật kia đă làm như vậy. Đó là giấc mộng thứ sáu. Việc ǵ sẽ xảy ra chăng?

- Giấc mộng này cũng chỉ thành hiện thực trong tương lai, khi các vua chúa, dù xuất thân từ ḍng dơi hoàng tộc, lại không tin dùng các vương tôn công tử quí phái từ xưa, mà đem ban chức tước cho bọn hạ đẳng, khiến đám quí tộc phải sa sút nghèo hèn và đám cùng đinh lên ngôi cao trọng. Sau đó những danh gia vọng tộc bị quẩn bách bần cùng phải cố t́m kế mưu sinh bằng cách nương tựa vào đám người trưởng giả mới lên, và đem con gái ḿnh gả cho chúng. Như vậy mối nhân duyên kết hợp bầy tiểu thư đài các với đám tục tử hạ lưu có khác ǵ việc con chó rừng giả tiểu tiện vào cái bát vàng kia! Tuy thế Đại vương chẳng có ǵ phải lo ngại cả. Hăy kể tiếp giấc mộng thứ bảy đi.

7. - Bạch Thế Tôn, có một kẻ đan sợi dây thừng, trong khi vừa đan, nó lại vừa thả dây này xuống chân, dưới ghế ngồi khi ấy có một con chó cái rừng đói mồi, nên cứ ăn măi sợi dây thừng kia mà người ấy chẳng hề biết. Đó là giấc mơ thứ bảy mà trẫm đă thấy. Việc ǵ sẽ xảy ra chăng?

- Giấc mộng này cũng không thành hiện thực cho tới thời vị lai, khi ấy đám nữ nhân đầy tham dục chạy theo bọn đàn ông và rượu nồng, ngọc ngà, trang sức vàng bạc, lê bước khắp nẻo đường thọ hưởng mọi lạc thú trần gian. Trong lối sống phóng đăng hoang phí kia, chúng cũng say sưa bên men rượu nồng cùng bọn t́nh nhân, chúng cứ phô trương đủ thứ ṿng hoa, sáp thơm thật bóng lộn, chẳng c̣n quan tâm đến việc tề gia nội trợ dù cấp bách đến đâu đi nữa, chúng chỉ suốt ngày chờ đợi bọn t́nh nhân, cứ nh́n qua khe hở cao tít ở ngoài vách tường quanh nhà; chúng lại đem hết thóc giống để dành gieo hạt ngày sau ra giă làm bột, cốt để ăn chơi thỏa thích. Bằng mọi cách trên, chúng lấy hết kho thóc lúa do công lao của chồng chúng làm ra trên đồng ruộng, chúng xâu xé tài sản của bọn đàn ông khốn khổ kia, có khác ǵ con chó rừng đói mồi dưới chân ghế cứ gặm hết đoạn dây thừng trong lúc người ấy đang kết dây lại. Tuy vậy, Đại vương chẳng có ǵ phải sợ hăi cả. Hăy kể giấc mộng thứ tám của Đại vương đi.

8. - Bạch Thế Tôn, h́nh như trẫm thấy tại hoàng môn có một b́nh lớn đầy nước tận miệng, ở giữa một số b́nh trống không. Rồi từ bốn phương có bốn ḍng người gồm cả bốn giai cấp (Sát-đế-ly, Bà-la-môn, Vệ-xá, Thủ-đà), liên tục mang nước trong các b́nh đất đến đổ vào chiếc b́nh lớn kia, làm nước tràn chảy hết ra ngoài. Tuy vậy, họ vẫn cứ đổ măi nước vào b́nh đă tràn ấy, mà chẳng có người nào thèm liếc mắt tới những b́nh trống trơn cả. Đó là giấc mơ thứ tám của trẫm. Xin cho biết có việc ǵ xảy ra chăng?

- Giấc mơ này cũng chẳng thành hiện thực cho tới thời vị lai. Khi ấy thế giới sẽ suy tàn, vương quốc trở thành kiệt quệ, vua chúa sẽ nghèo khó và sinh thói xan tham, người giàu nhất trong đám vua chúa cũng không thể có nhiều hơn một trăm ngàn đồng tiền trong kho. Trong lúc túng quẩn, bọn vua chúa này bắt toàn dân ra sức làm việc cho họ; v́ thế, để phụng sự vua, dân chúng bỏ hết công việc riêng của ḿnh, đi gieo hạt lúa, đậu, trông coi gặt hái, đập giă và cất vào công khố; để phụng sự vua, dân chúng phải trồng mía làm đường, nấu mật; để phụng sự vua, dân chúng phải trồng vườn hoa vườn trái, và thu hoạch hoa màu. Khi thu hoạch đủ loại sản phẩm, chúng đem chứa đầy vào các kho tích trữ của vua chúa đến tràn lan, mà chẳng khác ǵ đổ tràn các b́nh đă đầy và chẳng quan tâm những b́nh trống rỗng. Tuy nhiên, Đại vương chẳng có ǵ phải lo sợ v́ việc ấy cả. Hăy kể cho Ta nghe giấc mộng thứ chín.

9. - Bạch Thế Tôn, h́nh như trẫm thấy một hồ sâu có bờ cao bao quanh mọc đầy năm loại hoa sen. Từ bốn phía hồ các loài vật hai chân, bốn chân kéo đến từng đàn để uống nước. Chính giữa hồ th́ nước sâu lại đục ngầu như quấy bùn, nhưng nước lại trong trẻo lấp lánh ở các bờ hổ, nơi đủ loại súc vật bước xuống uống ăn. Đó là giấc mộng thứ chín của trẫm. Chuyện ǵ sẽ xảy ra từ điềm ấy chăng?

- Giấc mơ này cũng chỉ thành hiện thực ở thời tương lai. Thời ấy vua chúa trở thành bất công, cai trị theo ư muốn và sở thích riêng của ḿnh, nên không xử án theo công lư. Bọn vua chúa này thèm khát vàng bạc và gia tăng việc nhận hối lộ, họ không tỏ ḷng thương xót yêu mến dân chúng ḿnh, mà lại tàn ác vơ vét của cải bằng cách chà đạp bọn bề tôi như ép mía và đánh thuế dân đến độ đồng xu chẳng c̣n dính túi. V́ không thể nào trả nổi sưu thuế đè nặng trên lưng, dân chúng khắp thị thành làng mạc sẽ bỏ trốn, t́m nơi trú ẩn ở các vùng biên địa của xứ sở nên trung tâm của tổ quốc trở thành chốn hoang vu, trong khi vùng biên địa lại đông đúc dân chúng. Chuyện ấy cũng giống như nước giữ hồ vẩn đục, c̣n ở bờ hồ lại trong trẻo. Tuy vậy, Đại vương chẳng có ǵ phải lo sợ ǵ việc ấy cả, hăy kể cho Ta nghe giấc mộng thứ mười.

10. - Bạch Thế Tôn, h́nh như trẫm thấy cơm sôi trong nồi mà không được trộn cho đều. V́ không được khuấy đều, nên nồi gạo giống như được chia ra ba phần rơ rệt theo ba giai đoạn nấu cơm: phần th́ nhăo nhẹt, phần th́ sống sượng, phần th́ vừa chín thật ngon lành! Đó là giấc mộng thứ mười của trẫm. Việc ǵ sẽ xảy ra từ điềm ấy chăng?

- Giấc mộng này cũng chẳng thành sự thật cho đến thời vị lai. Thời ấy vua chúa bất công, dân chúng dưới quyền cũng trở thành bất chánh, các Bà-la-môn, gia chủ, thị dân, nông dân cũng thế; đúng vậy, dân chúng đều thành ra bất chánh cả, ngay cả những Bà-la-môn thông thái. Kế đó là các thần linh hộ tŕ chúng, những thần linh mà chúng thường dân tế lễ, như thần cây cối, thần giữa không gian, cũng trở thành bất chánh luôn, ngay cả gió thổi qua quốc độ của các hôn quân này cũng trở thành cuồng phong hỗn loạn, làm rung chuyển các đền đài trên Thiên giới, khiến chư thần trên đó phẫn nộ, không cho mưa rơi xuống; hoặc là nếu có mưa đi nữa cũng chẳng rơi đều khắp quốc độ cùng một lúc, cũng chẳng có những cơn mưa dông lớn tốt lành tưới đều trên các vùng đất cày cấy gieo hạt để giúp dân chúng đang cơn túng quẩn. V́ thế, trong một quốc gia rộng lớn, trong mỗi thôn làng, hồ, ao, mưa không rơi xuống cùng một lúc trong cùng một phạm vi; nếu mưa ở phần trên, th́ không mưa ở phần dưới, nơi này mùa màng bị hư hại nặng v́ úng thủy, nơi kia lại khô cằn v́ hạn hán, nơi khác nữa lại thịnh vượng nhờ những cơn mưa thuận gió ḥa đều đặn. Thế là mùa màng trong cùng một quốc độ - như cơm trong một nồi - sẽ không giống nhau. Tuy thế, Đại vương không có ǵ phải lo sợ v́ chuyện đó cả. Hăy kể cho Ta nghe giấc mộng thứ mười một đi.

11. - Bạch Thế Tôn, h́nh như trẫm thấy bơ tươi được đem đi đổi lấy gỗ chiên- đàn (trầm hương) quư trị giá cả một trăm ngàn đồng tiền. Đó là giấc mơ thứ mười một. Có điều ǵ xảy ra từ đó chăng?

- Giấc mộng này cũng không thành hiện thực cho đến thời vị lai, ngày mà Giáo pháp của Ta suy tàn.

** YouTube 16 ***


 Vào thời đó, nhiều Tỷ-kheo tham lam vô tàm vô quư sẽ xuất hiện, chỉ v́ miếng cơm manh áo mà chúng thuyết giảng chính Giáo pháp Ta đă truyền bá cốt để tận diệt dục tham! Do chúng từ bỏ Giáo hội chỉ v́ lợi dưỡng tấm thân và đứng vào hàng ngũ của bọn tà giáo, nên chúng không thể giảng Chánh pháp đưa đến Niết-bàn. Không, chúng chỉ suy nghĩ, trong lúc giảng pháp, làm sao dùng đủ lời lẽ hoa mỹ và giọng nói ngọt ngào để dụ dỗ quần chúng đem cho chúng thực phẩm, y phục đắt tiền cùng các thứ đại loại như thế và chỉ chuyên tâm đến lợi dưỡng cúng dường. Có những kẻ ngồi ở đại lộ, góc đường, hoàng môn... cúi ḿnh xuống giảng pháp v́ tiền, v́ các đồng tiền lớn nhỏ. Và trong khi chúng đem bán rẻ Giáo pháp đưa đến Niết-bàn vô giá để đổi lấy thực phẩm, y phục, vàng bạc th́ chúng có khác ǵ kẻ đem đổi gỗ chiên-đàn đáng giá trăm ngàn đồng để lấy thứ bơ tươi kia? Tuy thế, Đại vương chẳng có ǵ phải lo sợ chuyện ấy cả, hăy kể giấc mộng thứ mười hai cho Ta nghe.

12. - Bạch Thế Tôn, trẫm thấy dây bí bầu rỗng ruột lại ch́m xuống nước. Vậy có điều ǵ sẽ xảy ra chăng?

- Giấc mộng này cũng không thành hiện thực cho đến thời vị lai có vua chúa bất công, thế giới điên đảo. Thời ấy vua chúa không quư trọng những người ḍng dơi quư tộc mà chỉ ưu đăi bọn hạ đẳng, nên bọn này sẽ thành ra những chúa tể quyền cao chức trọng trong khi đám quư tộc phải bị d́m xuống cảnh nghèo khổ. Cũng vậy ở chốn triều đ́nh, ở cung môn, tại sảnh đường hay ṭa án chỉ có lời nói của bọn hạ đẳng - mà xác lập vững vàng, như thể ch́m tận đáy nước. Ngay trong tứ sự cúng dường: thực phẩm y phục, sàng tọa, dược liệu... cũng vậy, chỉ ư kiến của kẻ ác dục, suy đồi được xem là có quyền định đoạt chứ không phải ư kiến của các Tỷ-kheo biết thiểu dục trí túc. Chuyện như thế khắp nơi chẳng khác ǵ cảnh dây bầu bí rỗng ruột lại ch́m. Tuy vậy, Đại vương không có ǵ phải lo sợ chuyện đó cả. Hăy kể giấc mộng thứ mười ba cho Ta nghe.

13. - Khi ấy nhà vua nói:

- Bạch Thế Tôn, h́nh như trẫm thấy những tảng đá lớn bằng ngôi nhà, lại nổi bồng bềnh như thuyền bè trên nước. Vậy việc ǵ sẽ xảy ra chăng?

- Giấc mộng này cũng không thành sự thật cho tới thời vị lai như Ta đă nói trên. Thời ấy, vua chúa bất công, tận dụng đám người hạ đẳng, chúng sẽ trở thành các chúa tể đầy quyền lực trong lúc đám người quư tộc sa sút nghèo khổ. Người ta không c̣n tôn sùng quư tộc, mà chỉ tôn sùng bọn mới giàu sang thôi. Lúc vua lâm triều, trong pḥng họp cơ mật, hay ở chốn pháp đ́nh, lời nói của các vị quư tộc tinh thông luật pháp - chính các tảnh đá lớn tượng trưng cho hạng người này - lại trôi giạt bồng bềnh, chứ không lắng sâu vào tâm tư mọi người. Khi các vị này cất tiếng th́ bọn trưởng giả mới nổi sẽ cười nhạo khinh bỉ, bảo nhau: "Các tên kia đang nói ǵ thế?". Cũng vậy, trong các hội chúng Tỷ-kheo, giống như đă nói trên đây, người ta không biết kính trọng những bậc tối thắng giữa hàng Sa-môn, nên lời nói của các vị này không lắng đọng lại, mà chỉ trôi dật dờ đi mất, chẳng khác nào các tảng đá nổi bồng bềnh trên mặt nước. Tuy nhiên, Đại vương không có ǵ phải sợ hăi chuyện ấy cả. Hăy kể tiếp cho ta nghe giấc mộng thứ mười bốn cho ta nghe.

14. - Bạch Thế Tôn, h́nh như trẫm thấy những con nhái bén chẳng lớn hơn những cánh hoa bé tí teo, lại nhanh nhẹn săn bắt những con rắn khổng lồ, cắn xé chúng ra từng khúc như các ngó sen và nhai ngấu nghiến chúng trong chốc lát là xong. Việc ǵ sẽ xảy ra chăng?

- Giấc mộng này cũng chẳng thành sự thực cho tới thời vị lai, những việc trước Ta đă nói, thời thế giới suy tàn. Lúc ấy tham ái của bọn nam nhân nổi lên quá mănh liệt, dục vọng quá nồng nàn đến độ chúng trở thành lũ nô lệ cho bọn hầu thiếp c̣n trẻ con, trong nhà, từ những kẻ tôi tớ, làm công, trâu ḅ, heo gà, vàng bạc, cho đến mọi vật khác đều tùy thuộc đám thê thiếp định đoạt. Giả sử người chồng khốn khổ kia hỏi xem tiền bạc, áo quần để ở đâu, liền được đáp rằng nó ở đâu kệ nó, chàng ta phải lo chuyện ḿnh đi, đừng hỏi han ǵ lôi thôi về việc ǵ trong nhà "vợ chàng ta" cả! Rồi sau đó bằng mọi cách, bọn thê thiếp kia dùng lời người chồng như bầy nô lệ, tôi tớ, như vậy chẳng khác ǵ lũ nhái bén, chẳng lớn hơn cái hoa tí xíu, lại nuốt chửng rắn hổ mang! Tuy nhiên ngài chẳng có ǵ phải lo lắng về việc đó cả. Hăy nói cho Ta nghe giấc mộng thứ mười lăm.

15. - Bạch Thế Tôn, h́nh như trẫm thấy một con quạ đồng quê, đầy đủ mười ác hạnh, lại được một đoàn tùy tùng gồm toàn chim quư hộ tống, những con chim này màu lông vàng ánh, thường được đặt tên là Kim nga vương giả. Việc ǵ sẽ xảy ra chăng?

- Giấc mơ này, thưa Đại vương, cũng không thành tựu cho đến thời vị lai, thời đại các quốc vương suy thoái. Đó là thời xuất hiện những vị vua chẳng hiểu biết ǵ về vơ thuật, voi, ngựa, và lại hèn nhát khi ra trận, v́ sợ bị truất phế hay tống xuất ra khỏi vương quốc, nên chúng đưa những bọn cận vệ, hầu tắm, hớt tóc, đại loại như thế lên nắm quyền thay v́ đưa nhóm người quư tộc lên. Như vậy, đám người này không được hưởng ơn vua lộc nước, nên không đủ sức cấp dưỡng cho ḿnh, đành phải cam chịu hạ ḿnh chầu hầu bọn trưởng giả mới, giống như chim quạ được đám Kim nga vương giả theo hầu. Tuy thế, Đại vương không có ǵ phải lo sợ về điều ấy cả. Hăy kể giấc mơ thứ mười sáu cho Ta.

16. - Xưa nay, chính loài hổ báo săn bắt sơn dương, nhưng h́nh như trẫm mơ thấy sơn dương săn bắt hổ báo và xé xác ăn rau ráu. Trong lúc vừa thấy bóng bầy dê từ đàn xa bầy chó sói hoảng hốt chạy trốn và lập tức giấu ḿnh vào bụi rậm. Đó là giấc mơ của trẫm. Việc ǵ sẽ xảy ra chăng?

- Giấc mơ này, thưa Đại vương, cũng không thành hiện thực cho đến thời vị lai, thời vua chúa bất minh cai trị. Thời ấy, bọn hạ đẳng được nắm quyền cao chức trọng và được nhiều ân sủng của vua chúa, trong lúc đám quư tộc sa vào cảnh bần cùng tối tăm. V́ có được nhiều thế lực trong ṭa án do ân sủng của vua ban, bọn mới giàu sang này đ̣i tước đoạt quyền tư hữu đất đai, y phục, và mọi tài sản do tổ tiên để lại của đám quư tộc xưa. Khi đám người này cố bênh vực cho quyền lợi của họ trước ṭa án, liền bị đám hầu cận thân tín của vua lấy gậy gộc đánh đập, nắm cổ quẳng ra ngoài với lời thô bỉ, đại khái là: "Liệu thần hồn đấy, bọn ngu si kia! Sao? Các ngươi muốn tranh giành với chúng ta ư? Đức vua sẽ biết được sự hỗn láo của các ngươi, rồi chúng ta sẽ sai chặt tay chân của các ngươi ra và trừng phạt thích đáng cả lũ!". Sau đó đám người quư tộc kinh hoảng nhận ra rằng tài sản của họ nay đă trở thành tài sản của đám người thống trị mới quá khắc nghiệt kia, nên phải yêu cầu bọn mới được ân sủng này nhận lấy tài sản của họ. Rồi họ vội vă về nhà trốn tránh trong nỗi lo âu sợ hăi. Cũng vậy, các ác Tỷ-kheo tha hồ khủng bố, tiêu diệt các Tỷ-kheo hiền thiện, xứng đáng, cho đến khi các người này không thấy c̣n ai bảo vệ ḿnh nữa, đành phải trốn vào rừng sâu. Như vậy sự đàn áp hội chúng quư tộc và thiện Tỷ-kheo cũng giống như bầy chó sói bị bầy dê hăm dọa.

Tuy nhiên, ngài không có ǵ phải sợ hăi chuyện ấy cả. V́ giấc mộng này cũng chỉ liên hệ đến thời tương lai mà thôi. Như vậy, không phải v́ chân lư hay ḷng yêu mến Đại vương khiến cho các Bà-la-môn tiên đoán như cách họ đă nói với Đại vương đâu. Đó chỉ là ḷng tham muốn lợi dưỡng, cái tri thức được nuôi dưỡng bởi tham dục làm cho họ thốt ra những lời nói đem mối lợi phần ḿnh mà thôi.

Như vậy bậc Đạo Sư đă thuyết giảng ư nghĩa của mười sáu giấc mộng lớn trên xong, và Ngài nói thêm:

- Này Đại vương, ngài không phải là người đầu tiên nằm mộng như thế; mà ngày xưa, các vua chúa cũng từng mơ thấy những giấc mộng này, và cũng như giờ đây, các Bà-la-môn t́m thấy những cớ đó để dâng lễ tế đàn; v́ việc này, theo lời thỉnh cầu của người hiền thiện và có trí, Bồ-tát đă được tham vấn, và các giấc mộng đă được các bậc hiền trí ngày xưa giải thích giống hệt như cách chúng được giải thích giờ đây.

Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của vua, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ khi vua Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm một Bà-la-môn ở một quốc độ phương Bắc. Khi ngài đến tuổi trưởng thành, ngài từ giă thế tục, sống đời ẩn sĩ. Ngài đạt được các Thắng trí và các Thiền chứng, an trú tại vùng Tuyết Sơn với thiền lạc thanh tịnh.

Ngày ấy, cũng như trên, vua Brahmadatta mơ những giấc mơ này tại thành Ba-la-nại, và tham vấn ư kiến các Bà-la-môn liên hệ vấn đề và các Bà-la-môn cũng như hiện nay, khởi sự việc tế đàn. Trong đám ấy một thanh niên Bà-la-môn có trí, thông thái, là đệ tử của vị Tế sư của hoàng tộc, thưa với thầy ḿnh:

- Bạch sư phụ, sư phụ đă dạy con ba tập Thánh điển Vệ-đà. Vậy không có kinh nào bảo rằng việc giết một sinh vật không đem lại đời sống cho một sinh vật khác sao?

- Này đồ đệ, việc này sẽ đem lại nhiều tiền cho chúng ta, vô số tiền đấy. H́nh như con chỉ mong đừng hao tốn công khố của đức vua thôi ư?

- Bạch sư phụ, vậy xin sư phụ cứ làm theo ư ḿnh. Thanh niên Bà-la-môn nói. C̣n phần con, con c̣n ở lại đây với sư phụ để làm ǵ kia chứ?

Nói vậy xong thầy từ giă thầy ḿnh và đi đến ngự viên của Hoàng gia.

Cùng ngày đó, Bồ-tát biết hết việc này, ngài nghĩ thầm: "Giả sử hôm nay ta viếng cơi trần, ta sẽ giải thoát cho nhiều sinh vật khỏi cảnh giam cầm ấy ngay". Thế rồi ngài du hành qua không gian, giáng hạ tại ngự viên kia, ngài an tọa và chiếu sáng như một bức tượng bằng vàng trên thạch bàn dành cho đại lễ. Thanh niên Bà-la-môn đến gần, đảnh lễ ngài và ngồi xuống một bên với vẻ thân hữu. Cuộc đàm đạo êm thấm diễn ra, và Bồ-tát hỏi thanh niên Bà-la-môn có nghĩ là vua này cai trị đúng pháp chăng.

Thanh niên đáp:

- Thưa Tôn giả, đức vua vốn là người chân chính, song các Bà-la-môn đă làm cho ngài thiên về ác hạnh. Khi được vua hỏi ư kiến về mười sáu giấc mộng lớn mà ngài vừa thấy, các Bà-la-môn liền chụp ngay cơ hội đó để đ̣i tế đàn và bảo hành động tức th́. Vậy thưa Tôn giả, nếu Tôn giả vui ḷng đến giải thích cho vua hiểu rơ ư nghĩa thật sự của các giấc mộng ấy và thế là giải cứu được vô số sinh linh khỏi nỗi kinh hoàng v́ chết chóc, chẳng phải là một việc thiện lành đó chăng?

- Nhưng này nam tử, ta không biết vua, mà vua cũng chẳng biết ta. Tuy vậy, nếu vua muốn đến đây hỏi ta, ta sẽ nói cho vua nghe.

Thanh niên Bà-la-môn đáp:

- Thưa Tôn giả, con sẽ đi rước đức vua đến đây. Chỉ xin Tôn giả vui ḷng ngồi đợi đây một lát cho đến khi con trở lại.

Sau khi được Bồ-tát nhận lời, chàng đến bệ kiến vua và tâu:

- Trong ngự viên vừa có một ẩn sĩ phi hành qua không gian và giáng hạ, vị này bảo có thể giải thích các giấc mộng của Đại vương, kính mong Đại vương kể lại các giấc mộng này cho vị ẩn sĩ ấy được chăng?

Khi vua nghe việc này, liền lập tức cùng đoàn tùy tùng đến ngự viên. Vừa đảnh lễ vị ẩn sĩ, vua ngồi xuống bên ngài và hỏi có thật là ngài hiểu rơ việc ǵ sẽ xảy ra từ những giấc mộng ấy chăng. Bồ-tát đáp:

- Dĩ nhiên là đúng vậy. Nhưng trước hết hăy kể cho ta nghe những giấc mộng của Đại vương.

- Bạch tôn giả, trẫm xin sẵn sàng, vua đáp và bắt đầu kể như sau:

Trước ḅ đực, cây con,
Sau ḅ cái, bê con,
Ngựa, bát vàng, sơn cẩu,
B́nh nước, hồ sen trong,
Cơm sống, chiên đàn quư,
Bầu bí lặn xuống ḍng,
Đá to th́ trôi nổi,
Nhái bén, ễnh ương cùng
Xé tan bầy rắn hổ,
Quạ có đám tùy tùng
Là bầy hoàng nga đẹp;
Chó sói sợ dê rừng!

Và kế đó vua kể các giấc mộng giống như vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) đă kể trên.

Bậc Đại Sĩ bảo:

- Thôi đủ rồi, Đại vương không có ǵ phải sợ hăi về việc này cả.

Sau khi trấn an nhà vua xong và giải thoát cho đám sinh vật kia khỏi bị giam giữ, Bồ-tát liền trụ trên không, khuyến giáo vua, và an trú vua vào Ngũ giới rồi kết luận với những lời này:

- Thưa Đại vương, từ nay về sau Đại vương đừng cộng tác với các Bà-la-môn trong việc giết súc vật để tế đàn.

Sau khi thuyết giảng xong, Bồ-tát du hành qua không gian để trở lại nơi trú ngụ của ngài. C̣n nhà vua, chấp tŕ lời dạy đă được nghe, chuyên sống đời bố thí, cùng làm nhiều thiện sự công đức khác và khi mạng chung đi theo nghiệp của ḿnh.

*

Khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Đạo Sư bảo:

- Đại vương không có ǵ phải sợ các giấc mộng ấy cả. Vậy hăy hủy bỏ việc tế đàn đi.

Sau khi bảo vua hủy bỏ việc tế đàn và giải cứu vô số sinh linh, Ngài kết hợp hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy Ànanda là vua, Xá-lợi-phất là thanh niên Bà-la-môn và Ta là vị ẩn sĩ ấy.

-ooOoo-

(Contents)


No. 77. MAHĀSUPINA-JĀTAKA.
"Bulls first, and trees."--This story was told by the Master while at Jetavana about sixteen wonderful dreams. For in the last watch of one night (so tradition says) the King of Kosala, who had been asleep all the night, dreamed sixteen great dreams,  and woke up in great fright and alarm as to what they might portend for him. So strong was the fear of death upon him that he could not stir, but lay there huddled up on his bed. Now, when the night grew light, his brahmins and chaplains came to him and with due obeisance asked whether his majesty had slept well.
"How could I sleep well, my directors?" answered the king. "For just at daybreak I dreamed sixteen wonderful dreams, and I have been in terror ever since! Tell me, my directors, what it all means."
"We shall be able to judge, on hearing them."
Then the king told them his dreams, and asked what those visions would entail upon him.
The brahmins fell a-wringing their hands! "Why wring your hands, brahmins?" asked the king. "Because, sire, these are evil dreams." "What will come of them?" said the king. "One of three calamities,--harm to your kingdom, to your life, or to your riches." "Is there a remedy, or is there not?" "Undoubtedly these dreams in themselves are so threatening as to be without remedy; but none the less we will find a remedy for them. Otherwise, what boots our much study and learning?" "What then do you propose to do to avert the evil?" "Wherever four roads meet, we would offer sacrifice, sire." "My directors," cried the king in his terror, "my life is in your hands; make haste and work my safety." "Large sums of money, and large supplies of food of every kind will be ours," thought the exultant brahmins; and, bidding the king have no fear, they departed from the palace. Outside the town they dug a sacrificial pit and collected a host of fourfooted creatures, perfect and without blemish, and a multitude of birds. But still they discovered something lacking, and back they kept coming to the king to ask for this that and the other. Now their doings were watched by Queen Mallikā, who came to the king and asked what made these brahmins keep coming to him.
"I envy you," said the king; "a snake in your ear, and you not to know of it!" "What does your majesty mean?" "I have dreamed, oh such unlucky dreams! The brahmins tell me they point to one of three calamities; and they are anxious to offer sacrifices to avert the evil. And this is what brings them here so often." "But has your majesty consulted the Chief Brahmin both of this world and of the world of devas?" "Who, pray, may he be, my dear?" asked the king. "Know you not that chiefest personage of all the world, the all-knowing and pure, the spotless master-brahmin? Surely, he, the Blessed One, will understand your dreams. Go, ask him." "And so I will, my queen," said the king. And away he went to the monastery, saluted the Master, and sat down. "What, pray, brings your majesty here so early in the morning?" asked the Master in his sweet tones. "Sir," said the king, "just before daybreak   I dreamed sixteen wonderful dreams, which so terrified me that I told them to the brahmins. They told me that my dreams boded evil, and that to avert the threatened calamity they must offer sacrifice wherever four roads met. And so they are busy with their preparations, and many living creatures have the fear of death before their eyes. But I pray you, who are the chiefest personage in the world of men and devas, you into whose ken comes all possible knowledge of things past and present and to be,--I pray you tell me what will come of my dreams, O Blessed One." "True it is, sire, that there is none other save me, who can tell what your dreams signify or what will come of them. I will tell you. Only first of all relate to me your dreams as they appeared to you."
"I will, sir," said the king, and at once began this list, following the order of the dreams' appearance:--

Bulls first, and trees, and cows, and calves,
Horse, dish, she-jackal, waterpot,
A pond, raw rice, and sandal-wood,
And gourds that sank, and stones that swam 1,
With frogs that gobbled up black snakes,
A crow with gay-plumed retinue,
And wolves in panic-fear of goats!

"How was it, sir, that I had the following one of my dreams? Methought, four black bulls, like collyrium in hue, came from the four cardinal directions to the royal courtyard with avowed intent to fight; and people flocked together to see the bull-fight, till a great crowd had gathered. But the bulls only made a show of fighting, roared and bellowed, and finally went off without fighting at all. This was my first dream. What will come of it?"
"Sire, that dream shall have no issue in your days or in mine. But hereafter, when kings shall be niggardly and unrighteous, and when folk shall be unrighteous, in days when the world is perverted, when good is waning and evil waxing apace,--in those days of the world's backsliding there shall fall no rain from the heavens, the feet of the storm shall be lamed, the crops shall wither, and famine shall be on the land. Then shall the clouds gather as if for rain from the four quarters of the heavens; there shall be haste first to carry indoors the rice and crops that the women have spread in the sun to dry, for fear the harvest should get wet; and then with spade and basket in hand the men shall go forth to bank up the dykes. As though in sign of coming rain, the thunder shall bellow, the lightning shall flash from the clouds,--but even as the bulls in your dream, that fought not, so the clouds shall flee away without raining. This is what shall come of this dream. But no harm shall come therefrom to you;   for it was with regard to the future that you dreamed this dream. What the brahmins told you, was said only to get themselves a livelihood." And when the Master had thus. told the fulfilment of this dream, he said, "Tell me your second dream, sire."
"Sir," said the king, "my second dream was after this manner:--Methought little tiny trees and shrubs burst through the soil, and when they had grown scarce a span or two high, they flowered and bore fruit! This was my second dream; what shall come of it?"
"Sire," said the Master, "this dream shall have its fulfilment in days when the world has fallen into decay and when men are shortlived. In times to come the passions shall be strong; quite young girls shall go to live with men, and it shall be with them after the manner of women, they shall conceive and bear children. The flowers typify their issues, and the fruit their offspring. But you, sire, have nothing to fear therefrom. Tell me your third dream, O great king."
"Methought, sir, I saw cows sucking the milk of calves which they had borne that selfsame day. This was my third dream. What shall come of it?"
"This dream too shall have its fulfilment only in days to come, when respect shall cease to be paid to age. For in the future men, shewing no reverence for parents or parents-in-law, shall themselves administer the family estate, and, if such be their good pleasure, shall bestow food and clothing on the old folks, but shall withhold their gifts, if it be not their pleasure to give. Then shall the old folks, destitute and dependent, exist by favour of their own children, like big cows suckled by calves a day old. But you have nothing to fear therefrom. Tell me your fourth dream." "Methought, sir, I saw men unyoking a team of draught-oxen, sturdy and strong, and setting young steers to draw the load; and the steers, proving unequal to the task laid on them, refused and stood stock-still, so that wains moved not on their way. This was my fourth dream. What shall come of it?"
"Here again the dream shall not have its fulfilment until the future, in the days of unrighteous kings. For in days to come, unrighteous and niggardly kings shall shew no honour to wise lords skilled in precedent, fertile in expedient, and able to get through business; nor shall appoint to the courts of law and justice aged councillors of wisdom and of learning in the law. Nay, they shall honour the very young and foolish, and appoint such to preside in the courts. And these latter, ignorant alike of state-craft and of practical knowledge, shall not be able to bear the burthen of their honours or to govern, but because of their incompetence shall throw off the yoke of office. Whereon the aged and wise lords, albeit right able to cope with all difficulties, shall keep in mind how they were passed over, and shall decline to aid, saying:--'It is no business of ours; we are outsiders; let the boys of the inner circle see to it.' [338] Hence they shall stand aloof, and ruin shall assail those kings on every hand. It shall be even as when the yoke was laid on the young steers, who were not strong enough for the burthen, and not upon the team of sturdy and strong draught-oxen, who alone were able to do the work. Howbeit, you have nothing to fear therefrom. Tell me your fifth dream."
"Methought, sir, I saw a horse with a mouth on either side, to which fodder was given on both sides, and it ate with both its mouths. This was my fifth dream. What shall come of it?"
"This dream too shall have its fulfilment only in the future, in the days of unrighteous and foolish kings, who shall appoint unrighteous and covetous men to be judges. These base ones, fools, despising the good, shall take bribes from both sides as they sit in the seat of judgment, and shall be filled with this two-fold corruption, even as the horse that ate fodder with two mouths at once. Howbeit, you have nothing to fear therefrom. Tell me your sixth dream."
"Methought, sir, I saw people holding out a well-scoured golden bowl worth a hundred thousand pieces, and begging an old jackal to stale therein. And I saw the beast do so. This was my sixth dream. What shall come of it?"
"This dream too shall only have its fulfilment in the future. For in the days to come, unrighteous kings, though sprung of a race of kings, mistrusting the scions of their old nobility, shall not honour them, but exalt in their stead the low-born; whereby the nobles shall be brought low and the law-born raised to lordship. Then shall the great families be brought by very need to seek to live by dependence on the upstarts, and shall offer them their daughters in marriage. And the union of the noble maidens with the low-born shall be like unto the staling of the old jackal in the golden bowl. Howbeit, you have nothing to fear therefrom. Tell me your seventh dream."
"A man was weaving rope, sir, and as he wove, he threw it down at his feet. Under his bench lay a hungry she jackal, which kept eating the rope as he wove, but without the man knowing it. This is what I saw. This was my seventh dream. What shall come of it?" 
"This dream too shall not have its fulfilment till the future. For in days to come, women shall lust after men and strong drink and finery and gadding abroad and after the joys of this world. In their wickedness and profligacy these women shall drink strong drink with their paramours; they shall flaunt in garlands and perfumes and unguents; and heedless of even the most pressing of their household duties, they shall keep watching for their paramours, even at crevices high up in the outer wall; aye, they shall pound up the very seed-corn that should be sown on the morrow so as to provide good cheer;--in all these ways shall they plunder the store won by the hard work of their husbands in field and byre, devouring the poor men's substance even as the hungry jackal under the bench ate up the rope of the rope-maker as he wove it. [339] Howbeit, you have nothing to fear therefrom. Tell me your eighth dream."  "Methought, sir, I saw at a palace gate a big pitcher which was full to the brim and stood amid a number of empty ones. And from the four cardinal points, and from the four intermediate points as well, there kept coming a constant stream of people of all the four castes, carrying water in pipkins and pouring it into the full pitcher. And the water overflowed and ran away. But none the less they still kept on pouring more and more water into the over-flowing vessel, without a single man giving so much as a glance at the empty pitchers. This was my eighth dream. What shall come of it?"
"This dream too shall not have its fulfilment until the future. For in days to come the world shall decay; the kingdom shall grow weak, its kings shall grow poor and niggardly; the foremost among them shall have no more than 100,000 pieces of money in his treasury. Then shall these kings in their need set the whole of the country-folk to work for them;--for the kings' sake shall the toiling folk, leaving their own work, sow grain and pulse, and keep watch and reap and thresh and garner; for the kings' sake shall they plant sugar-canes, make and drive sugar-mills, and boil down the molasses; for the kings' sake shall they lay out flower-gardens and orchards, and gather in the fruits. And as they gather in all the divers kinds of produce they shall fill the royal garners to overflowing, not giving so much as a glance at their own empty barns at home. Thus it shall be like filling up the full pitcher, heedless of the quite-empty ones. Howbeit, you have nothing to fear therefrom. Tell me your ninth dream."
"Methought, sir, I saw a deep pool with shelving banks all round and over-grown with the five kinds of lotuses. From every side two-footed creatures and four-footed creatures flocked thither to drink of its waters. The depths in the middle were muddy, but the water was clear and sparkling at the margin where the various creatures went down into the pool. This was my ninth dream. What shall come of it?"
"This dream too shall not have its fulfilment till the future. For in days to come kings shall grow unrighteous; they shall rule after their own will and pleasure, and shall not execute judgment according to righteousness. These kings shall hunger after riches and wax fat on bribes; they shall not shew mercy, love and compassion toward their people, but be fierce and cruel, amassing wealth by crushing their subjects like sugar-canes in a mill and by taxing them even to the uttermost farthing. Unable to pay the oppressive tax, the people Shall fly from village and town and the like, and take refuge upon the borders of the realm; the heart of the land shall be a wilderness, while the borders shall teem with people,--even as the water was muddy in the middle of the pool and clear at the margin. Howbeit, you have nothing to fear therefrom. [340] Tell me your tenth dream."
"Methought, sir, I saw rice boiling in a pot without getting done. By not getting done, I mean that it looked as though it were sharply marked off and kept apart, so that the cooking went on in three distinct stages. For part was sodden, part hard and raw, and part just cooked to a nicety. This was my tenth dream. What shall come of it?"
"This dream too shall not have its fulfilment till the future. For in days to come kings shall grow unrighteous; the people surrounding the kings shall grow unrighteous too, as also shall brahmins and householders, townsmen, and countryfolk; yes, all people alike shall grow unrighteous, not excepting even sages and brahmins. Next, their very tutelary deities--the spirits to whom they offer sacrifice, the spirits of the trees, and the spirits of the air--shall become unrighteous also. The very winds that blow over the realms of these unrighteous kings shall grow cruel and lawless; they shall shake the mansions of the skies and thereby kindle the anger of the spirits that dwell there, so that they will not suffer rain to fall--or, if it does rain, it shall not fall on all the kingdom at once, nor shall the kindly shower fall on all tilled or sown lands alike to help them in their need. And, as in the kingdom at large, so in each several district and village and over each separate pool or lake, the rain shall not fall at one and the same time on its whole expanse; if it rain on the upper part, it shall not rain upon the lower; here the crops shall be spoiled by a heavy downpour,
p. 191
there wither for very drought, and here again thrive apace with kindly showers to water them. So the crops sown within the confines of a single kingdom--like the rice in the one pot--shall have no uniform character. Howbeit, you have nothing to fear therefrom. Tell me your eleventh dream."
"Methought, sir, I saw sour buttermilk bartered for precious sandal-wood, worth 100,000 pieces of money. This was my eleventh dream. What shall come of it?"
"This dream too shall not have its fulfilment till the future--in the days when my doctrine is waning. For in days to come many greedy and shameless Brethren shall arise, who for their belly's sake shall preach the very words in which I inveighed against greed! Because they have deserted by reason of their belly and have taken their stand on the side of the sectaries 1, they shall fail to make their preaching lead up to Nirvana. Nay, their only thought, as they preach, shall be by fine words and sweet voices to induce men to give them costly raiment and the like, and to be minded to give such gifts. Others again seated in the highways, at the street-corners, at the doors of kings' palaces, and so forth, shall stoop to preach for money, yea for mere coined kahāpanas, half-kahāpanas, pādas, or māsakas! 2 And as they thus barter away for food or raiment or for kahāpanas and half-kahāpanas my doctrine the worth whereof is Nirvana, they shall be even as those who bartered away for soar buttermilk precious sandal-wood worth 100,000 pieces. [341] Howbeit, you have nothing to fear therefrom. Tell me your twelfth dream."
"Methought, sir, I saw empty pumpkins sinking in the water. What shall come of it?"
"This dream also shall not have its fulfilment till the future, in the days of unrighteous kings, when the world is perverted. For in those days shall kings shew favour not to the scions of the nobility, but to the low-born only; and these latter shall become great lords, whilst the nobles sink into poverty. Alike in the royal presence, in the palace gates, in the council chamber, and in the courts of justice, the words of the low-born alone (whom the empty pumpkins typify) shall be stablished, as though they had sunk down till they rested on the bottom. So too in the assemblies of the Brotherhood, in the greater and lesser conclaves, and in enquiries regarding bowls, robes, lodging, and the like,--the counsel only of the wicked and the vile shall be considered to have saving power, not that of the modest Brethren. Thus everywhere it shall be as when the empty pumpkins sank. Howbeit, you have Nothing to fear therefrom. Tell me your thirteenth dream."
Hereupon the king said, "Methought, sir, I saw huge blocks of solid rock, as big as houses, floating like ships upon the waters. What shall come of it?"
"This dream also shall not have its fulfilment before such times as those of which I have spoken. For in those days unrighteous kings shall shew honour to the low-born, who shall become great lords, whilst the nobles sink into poverty. Not to the nobles, but to the upstarts alone shall respect be paid. In the royal presence, in the council chamber, or in the courts of justice, the words of the nobles learned in the law (and it is they whom the solid rocks typify) shall drift idly by, and not sink deep into the hearts of men; when they speak, the upstarts shall merely laugh them to scorn, saying, 'What is this these fellows are saying?' So too in the assemblies of the Brethren, as afore said, men shall not deem worthy of respect the excellent among the Brethren; the words of such shall not sink deep, but drift idly by,--even as when the rocks floated upon the waters. Howbeit, you have nothing to fear therefrom. Tell me your fourteenth dream."
"Methought, sir, I saw tiny frogs, no bigger than minute flowerets, swiftly pursuing huge black snakes, chopping them up like so many lotus-stalks and gobbling them up. What shall come of this?" "This dream too shall not have its fulfilment till those days to come such as those of which I have spoken, when the world is decaying. For then shall men's passions be so strong, and their lusts so hot, that they shall be the thralls of the very youngest of their wives for the time being, at whose sole disposal shall be slaves and hired servants, oxen, buffalos and all cattle, gold and silver, and everything that is in the house. Should the poor husband ask where the money (say) or a robe is, at once he shall be told that it is where it is, that he should mind his own business, and not be so inquisitive as to what is, or is not, in her house. And therewithal in divers ways the wives with abuse and goading taunts shall establish their dominion over their husbands, as over slaves and bond-servants. [342] Thus shall it be like as when the tiny frogs, no bigger than minute flowerets, gobbled up the big black snakes. Howbeit, you have nothing to fear therefrom. Tell me your fifteenth dream."
"Methought, sir, I saw a village crow, in which dwelt the whole of the Ten Vices, escorted by a retinue of those birds which, because of their golden sheen, are called Royal Golden Mallards. What shall come of it?"
"This dream too shall not have its fulfilment till the future, till the reign of weakling kings. In days to come kings shall arise who shall know nothing about elephants or other arts, and shall be cowards in the field. Fearing to be deposed and cast from their royal estate, they shall raise to power not their peers but their footmen, bath-attendants, barbers, and such like. Thus, shut out from royal favour and unable to support themselves, the nobles shall be reduced to dancing attendance on the upstarts,--as when the crow had Royal Golden Mallards for a retinue. Howbeit, you have nothing to fear therefrom. Tell me your sixteenth dream."
"Heretofore, sir, it always used to be panthers that preyed on goats; but methought I saw goats chasing panthers and devouring them--munch, munch, munch!--whilst at bare sight of the goats afar off, terror-stricken wolves fled quaking with fear and hid themselves in their fastnesses in the thicket 1. Such was my dream. What shall come of it?"
"This dream too shall not have its fulfilment till the future, till the reign of unrighteous kings. In those days the low-born shall be raised to lordship and be made royal favourites, whilst the nobles shall sink into obscurity and distress. Gaining influence in the courts of law because of their favour with the king, these upstarts shall claim perforce the ancestral estates, the raiment, and all the property of the old nobility. And-when these latter plead their rights before the courts, then shall the king's minions have them cudgelled and bastinadoed and taken by the throat and cast out with words of scorn, such as:--'Know your place, fools! What? do you dispute with us? The king shall know of your insolence, and we will have your hands and feet chopped off and other correctives applied!' Hereupon the terrified nobles shall affirm that their own belongings really belong to the overbearing upstarts, and will tell the favourites to accept them. And they shall hie them home and there cower in an agony of fear. Likewise, evil Brethren shall harry at pleasure good and worthy Brethren, till these latter, finding none to help them, shall flee to the jungle. And this oppression of the nobles and of the good Brethren by the low-born and by the evil brethren, shall be like the scaring of wolves by goats. Howbeit, you have nothing to fear therefrom. For this dream too has reference to future times only. [343] It was not truth, it was not love for you, that prompted the brahmins to prophesy as they did. No, it was greed of gain, and the insight that is bred of covetousness, that shaped all their self-seeking utterances."
Thus did the Master expound the import of these sixteen great dreams, adding,--"You, sire, are not the first to have these dreams; they were dreamed by kings of bygone days also; and, then as now, the brahmins found in them a pretext for sacrifices; whereupon, at the instance of the wise and good, the Bodhisatta was consulted, and the dreams were expounded by them of old time  in just the same manner as they have now been expounded." And so saying, at the king's request, he told this story of the past.
Once on a time when Brahmadatta was reigning in Benares, the Bodhisatta was born a brahmin in the North country. When he came to years of discretion he renounced the world for a hermit's life; he won the higher Knowledges and the Attainments, and dwelt in the Himalaya country in the bliss that comes from Insight.
In those days, in just the same manner, Brahmadatta dreamed these dreams at Benares, and enquired of the brahmins concerning them. And the brahmins, then as now, set to work at sacrifices. Amongst them was a young brahmin of learning and wisdom, a pupil of the king's chaplain, who addressed his master thus:--"Master, you have taught me the Three Vedas. Is there not therein a text that says 'The slaying of one creature giveth not life to another'?" "My son, this means money to us, a great deal of money. You only seem anxious to spare the king's treasury!" "Do as you will, master," said the young brahmin; "as for me, to what end shall I tarry longer here with you?" And so saying, he left him, and betook himself to the royal pleasaunce.
That selfsame day the Bodhisatta, knowing all this, thought to himself: "If I visit to-day the haunts of men, I shall work the deliverance of a great multitude from their bondage." So, passing through the air, he alighted in the royal pleasaunce and seated himself, radiant as a statue of gold, upon the Ceremonial Stone. The young brahmin drew near and with due obeisance seated himself by the Bodhisatta in all friendliness. Sweet converse passed; and the Bodhisatta asked whether the young brahmin thought the king ruled righteously. "Sir," answered the young man, "the king is righteous himself; but the brahmins make him side with evil. Being consulted by the king as to sixteen dreams which he had dreamed, the brahmins clutched at the opportunity for sacrifices [344] and set to work thereon. Oh, sir, would it not be a good thing that you should offer to make known to the king the real import of his dreams and so deliver great numbers of creatures from their dread?" "But, my son, I do not know the king, nor he me. Still, if he should cone here and ask me, I will tell him." "I will bring the king, sir," said the young brahmin; "if you will only be so good as to wait here a minute till I come back." And having gained the Bodhisatta's consent, he went before the king, and said that there had alighted in the royal pleasaunce an air-travelling ascetic, who said he would expound the king's dreams; would not his majesty relate them to this ascetic?
When the king heard this, he repaired at once to the pleasaunce with a large retinue. Saluting the ascetic, he sat down by the holy man's
p. 194
side, and asked whether it was true that he knew what would come of his dreams. "Certainly, sire," said the Bodhisatta; "but first let me hear the dreams as you dreamed them." "Readily, sir," answered the king; and he began as follows:--

Bulls first, and trees, and cows, and calves,
Horse, dish, she-jackal, waterpot,
A pond, raw rice, and sandal-wood,
And gourds that sank, and stones that swam,

and so forth, ending up with

And wolves in panic-fear of goats.

 And his majesty went on to tell his dreams in just the same manner as that in which King Pasenadi had described them.
"Enough," said the Great Being; "you have nothing to fear or dread from all this." Having thus reassured the king, and having freed a great multitude from bondage, the Bodhisatta again took up his position in mid-air, whence he exhorted the king and established him in the Five Commandments, ending with these words:--"Henceforth, O king, join not with the brahmins in slaughtering animals for sacrifice." His teaching ended, the Bodhisatta passed straight through the air to his own abode. And the king, remaining stedfast in the teaching he had heard, passed away after a life of alms-giving and other good works to fare according to his deserts.
_____________________________
His lesson ended, the Master said, "You have nothing to fear from these dreams; away with the sacrifice!" Having had the sacrifice removed, and having saved the lives of a multitude of creatures, he shewed the connexion and identified the Birth by saying, "Ānanda was the king of those days, Sāriputta the young Brahmin, and I the ascetic."
(Pāli note. But after the passing of the Blessed One, the Editors of the Great Redaction put the three first lines into the Commentary, and making the lines from 'And gourds that sank' into one Stanza (therewith) 1, put the whole story into the First Book.)
[Note. Cf. Sacy's Kalilah and Dimnah, chapter 14; Benfey's Pañcatantra § 225; JṚ.AṢ. for 1893 page 509; and Rouse ('A Jātaka in Pausanias') in 'Folklore' i. 409 (1890).]

Footnotes
188:1 See Mahā-Vīra-Carita, p. 13, Mahābhārata II. 2196.
189:1 Cf. the story of Ocnus in Pausanias x. 29.
191:1 Reading titthakarānaṁ pakkhe, as conjectured by Fausböll.
191:2 See Vinaya II. 294 for the same list; and see page 6 of Rhys Davids' "Ancient Coins and Measures of Ceylon" in Numismata Orientalia (Trübner).
192:1 Here the Pāli interpolates the irrelevant remark that "the word hi is nothing more than a particle."
194:1 I am not at all sure that this is the correct translation of this difficult and corrupt passage.

 
PHẨM SANKAPPA
251. CHUYỆN DỤC TẦM (Tiền thân Sankappa)
Không có người bắn cung...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn.
Nghe nói, một thiện nam tử trú ở thành Xá-vệ, do ḷng tin Pháp nên đă xuất gia. Một hôm đi vào thành Xá-vệ để khất thực, vị ấy thấy một nữ nhân trang điểm đẹp đẽ, ái dục khởi lên trong tâm và vị ấy không c̣n hoan hỷ trong nếp sống xuất gia.
Các vị sư trưởng, giáo thọ thấy vậy, liền hỏi nguyên nhân v́ sao vị ấy không được hoan hỷ. Khi được biết ái dục của vị ấy khởi lên và tâm dao động khiến vị ấy có ư muốn hoàn tục, họ liền nói với nhau:
- Thưa các Hiền giả, bậc Đạo Sư có khả năng đoạn diệt các phiền năo của những ai bị ái dục bức bách. Ngài thuyết giảng các Sự thật, và đem lại cho họ các kết quả tu chứng. Chúng ta hăy dẫn Tỷ-kheo ấy đến bậc Đạo Sư.
Ngài hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, v́ sao các ông lại đưa đến đây một Tỷ-kheo ngoài ư muốn của vị ấy?
Các Tỷ-kheo tường thuật rơ sự việc ấy. Bậc Đạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có thật chăng ông thối thất tinh tấn?
Vị ấy trả lời:
- Bạch Thế Tôn, sự thật là như vậy.
Bậc Đạo Sư hỏi:
- Do nguyên nhân ǵ?
Tỷ-kheo ấy kể lại những sự việc đă xảy ra. Bậc Đạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, các nữ nhân này thuở trước đă làm uế nhiễm tâm của những bậc thanh tịnh, những người đă nhiếp phục ái dục bằng thiền lực. C̣n đối với những hạng người trống rỗng như các ông, khi bị nữ sắc chinh phục th́ làm sao không bị ái dục xâm chiếm? Các người thanh tịnh vẫn c̣n bị uế nhiễm, những vị có danh vọng tối thượng vẫn c̣n bị ô nhục, th́ nói ǵ đến các người không thanh tịnh? Khi một ngọn gió làm rung chuyển núi Tu-di th́ sá ǵ mà không rung chuyển đống lá già cỗi được sao? Ái dục này đă thử thách tâm bất động của bậc Chánh Giác ngồi dưới cây Bồ-đề th́ sao lại không làm dao động tâm mới tu tập của một người như ông được?
Nói vậy xong, theo lời yêu cầu của các Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đ́nh Bà-la-môn đại phú, tài sản lên đến tám trăm triệu đồng tiền vàng. Khi lớn lên, Bồ-tát học hết tất cả các tài nghệ ở Takkasilà rồi trở về Ba-la-nại lấy vợ.
Khi cha mẹ mất, Bồ-tát làm tất cả các hiếu sự đối với song thân xong, Bồ-tát quan sát gia sản và nghĩ: "Tài sản cha mẹ tạo vẫn c̣n đây. Nhưng than ôi, những ai tạo ra gia sản này đâu c̣n nữa!". V́ vậy, ngài cảm thấy xúc động mạnh và mồ hôi chảy ra từ thân. Bồ-tát sống trong gia đ́nh một thời gian, rồi bố thí tài sản lớn, ngài bỏ các dục, từ giă bà con thân thuộc và đi vào Tuyết Sơn để làm ẩn sĩ.
Tại đấy Bồ-tát sống theo hạnh lượm rễ củ, trái cây rừng và những loại thực phẩm khác. Không bao lâu ngài đạt được các Thắng trí và các Thiền chứng, vui thích trong thiền lạc và sống một thời gian dài như vậy.
Sau đó ngài suy nghĩ: "Ta sẽ đi vào con đường của dân chúng, dùng muối giấm, như vậy thân ta sẽ trở thành mạnh mẽ. Ta sẽ đi bộ, và những người cúng dường đồ ăn sẽ đảnh lễ một người giữ giới như ta. Sau khi mạng chung, họ sẽ tràn đầy thiên giới". V́ vậy, Bồ-tát từ núi đi xuống, tiếp tục đi bộ đến thành Ba-la-nại, và vào lúc hoàng hôn, Bồ-tát t́m chỗ trú ẩn. Khi thấy khu vườn của vua, ngài nghĩ: "Chỗ này rất thích hợp v́ yên tịnh, ta sẽ sống tại đây". Rồi Bồ-tát đi vào khu vườn, ngồi dưới một gốc cây, trải qua một đêm trong thiền lạc.
Ngày hôm sau, khi làm vệ sinh thân thể xong, vào buổi sáng ngài sửa soạn bện tóc, áo da và áo vỏ cây, cầm bát đi khất thực. Với các căn yên tịnh, với ư tịch tịnh, đầy đủ uy nghi, Bồ-tát chỉ nh́n trước mặt khoảng một tầm, viên măn đủ mọi mặt, với dung sắc sáng chói, ngài lôi cuốn cái nh́n của người đời, Bồ-tát đi vào khất thực và đến cửa cung vua. Bấy giờ vua đang đi qua lại trên sân điện rộng lớn, nh́n ngang qua cửa sổ, thấy Bồ-tát, vua hoan hỷ với uy nghi đức độ của ngài, nghĩ: "Nếu thực sự có pháp an tịnh viên măn th́ pháp ấy phải có trong người này". V́ vậy, vua ra lệnh cho một đại thần:
- Hăy đi mời vị khổ hạnh ấy.
Vị đại thần đến đảnh lễ, cầm b́nh bát khất thực của ngài và thưa:
- Thưa Tôn giả, vua cho mời Tôn giả.
Bồ-tát nói:
- Thưa bậc đại phúc, vua không biết chúng tôi.
- Vậy thưa Tôn giả, xin hăy chờ ở đây cho đến khi tôi trở về.
Nói xong, vị đại thần tâu vua lời của vị ẩn sĩ. Vua nói:
- Chúng ta không có vị khổ hạnh thân tín trong gia đ́nh. Hăy đi mời vị ấy về.
Và từ cửa sổ, vua duỗi tay ra vẫy gọi:
- Thưa Tôn giả, hăy đến đây.
Bồ-tát đưa b́nh bát cho vị đại thần và bước lên sân bằng con đường lớn của cung điện. Rồi vua đảnh lễ Bồ-tát, và mời Bồ-tát ngồi trên long sàng. Sau đó vua mời Bồ-tát ăn cơm cháo và các món đă được sửa soạn cho ḿnh. Khi ngài ăn xong, vua hỏi chuyện và nghe trả lời, vua rất hoan hỷ, đảnh lễ và thưa:
- Thưa Tôn giả, ngài ở đâu? Từ đâu ngài đến đây?
Bồ-tát thưa:
- Tôi sống ở Tuyết Sơn, thưa Đại vương. Từ Tuyết Sơn, tôi đến đây.
Vua lại hỏi:
- V́ nhân duyên ǵ ngài đến đây?
Bồ-tát trả lời:
- Thưa Đại vương, trong mùa mưa, tôi cần có một chỗ nhất định.
Vua nói:
- Thưa Tôn giả, hăy sống trong vườn ngự uyển của trẫm. Tôn giả khỏi lo về bốn vật dụng cần thiết. Trẫm sẽ tạo công đức đưa đường lên thiên giới.
Bồ-tát nhận lời vua. Sau khi ăn sáng xong, vua cùng Bồ-tát đi đến khu vườn. Vua ra lệnh cho dựng đặt chỗ ở ban đêm và ban ngày cho Bồ-tát cũng như các vật cần thiết của một vị xuất gia, rồi nhà vua nói:
- Thưa Tôn giả, hăy sống an lạc ở đây.
Và vua gởi gắm Bồ-tát cho người giữ vườn. Bồ-tát bắt đầu từ đấy sống tự tại suốt mười hai năm.
Một hôm, có cuộc nội loạn xảy ra ở biên địa. Vua muốn đi dẹp cuộc nổi loạn ấy, liền gọi hoàng hậu và nói:
- Này Hoàng hậu, hoặc khanh hoặc trẫm phải ở lại thành này.
- Thưa Thiên tử, v́ sao Thiên tử nói vậy?
- Này hiền thê, v́ vị khổ hạnh giữ giới ấy.
- Thưa Thiên tử, thần thiếp sẽ không xao lăng việc săn sóc Tôn giả của chúng ta. Đại vương hăy đi dẹp loạn, chớ lo lắng ǵ.
V́ vậy vua ra đi, hoàng hậu hầu hạ Bồ-tát rất chu đáo. Kể từ khi vua ra đi, hàng ngày đến thời đă định, Bồ-tát đi đến cung vua và ăn uống tại đấy.
Một hôm, Bồ-tát đi đến quá trễ, hoàng hậu sửa soạn các món ăn xong, tắm rửa, trang điểm và soạn một chỗ nằm thấp. Trong khi chờ đợi Bồ-tát đến, bà đắp sơ sài một tấm áo trên thân rồi nằm nghỉ. Bố Tát xem giờ, liền cầm b́nh bát, đi ngang qua hư không và đến cửa sổ.
Nghe tiếng áo vỏ cây sột soạt của Bồ-tát, hoàng hậu hấp tấp đứng dậy, và áo vàng của bà rơi xuống. Bồ-tát để các căn bị chi phối bởi đối tượng đặc biệt khác thường này và đứng nh́n bà như bị thôi miên. Ác dục phiền năo đă được chế ngự nhờ Thiền lực trước kia, nay lại khởi lên giống như con rắn hổ phồng mang, ngóc đầu lên từ cái giỏ nó bị cầm giữ, giống như cây vú sữa bị búa chém. Do phiền năo khởi lên, thiền định thối thất, các căn trở nên không thanh tịnh, khi ấy Bồ-tát giống như con quạ bị găy cánh. Bồ-tát không thể ngồi xuống như trước nữa và không thể ăn uống ǵ được. Dầu được hoàng hậu mời ngồi, Bồ-tát không thể ngồi yên.
Rồi hoàng hậu đặt các món ăn đủ loại cứng loại mềm vào trong b́nh bát, nhưng Bồ-tát không thể ăn như trước được, và cũng không thể đi ra cửa sổ rồi bay ngang qua hư không. Cầm lấy các thức ăn, Bồ-tát đi xuống bằng thang lầu lớn và đi về khu vườn. Nhưng hoàng hậu biết được tâm của Bồ-tát đă say đắm đối với ḿnh.
Bồ-tát đi về vườn, không ăn được, liền quăng thức ăn dưới chân giường, suốt một tuần, Bồ-tát nằm dài, miệng nói mê sảng:
- Ôi hoàng hậu diễm kiều! Tay hoàng hậu đẹp làm sao! Chân đẹp làm sao! Thân thể đẹp làm sao! Bắp vế đẹp làm sao!
Trong khi bị chi phối bởi sắc đẹp ấy, Bồ-tát để đồ ăn thối và ruồi xanh đậu tràn trên mặt bàn.
Sau khi dẹp loạn về, vua đi ṿng quanh thành phố được trang hoàng lộng lẫy, luôn hướng về phía hữu rồi vua tiến về cung điện.
Sau đó vua quyết định sẽ yết kiến Bồ-tát, liền đi đến khu vườn. Khi thấy am thất đầy rác dơ bẩn, nghĩ rằng Bồ-tát đă đi khỏi, vua mở cửa cḥi lá và đi vào. Thấy Bồ-tát đang nằm, vua nghĩ: "Chắc Tôn giả có ǵ không ổn", liền bảo người hầu quăng các đồ ăn thối, dọn dẹp cḥi lá và hỏi:
- Thưa Tôn giả, ngài có việc ǵ không ổn?
- Thưa Đại vương, tôi đă bị trúng tên.
Vua nghĩ: "Chắc kẻ thù của ta không t́m được cơ hội hại ta, nên chúng quyết định làm hại người mà ta yêu mến! Chúng đến và gây ra vết thương này". Rồi vua lật ngửa thân Bồ-tát, t́m kiếm chỗ bị thương, nhưng không thấy vết thương liền hỏi:
- Thưa Tôn giả, ngài trúng tên ở đâu?
Bồ-tát nói:
- Thưa Đại vương, không ai bắn tôi. Chỉ có tôi tự bắn quả tim ḿnh.
Rồi Bồ-tát đứng dậy, ngồi trên ghế, và đọc những bài kệ này:
Không có người bắn cung
Phóng tên ở bên tai,
Không có tên bằng lông
Được nhổ từ cánh công,
Và được trang hoàng đẹp
Bởi người làm tên khéo.
Chính là tâm của ta
Được gột sạch tham ái
Liên hệ với dục tầm
Bằng quyết tâm, trí tuệ,
Chính dục tạo vết thương
Thiêu đốt khắp tay chân
Chẳng khác ǵ ngọn lửa.
Ta không thấy vết thương.
Từ đấy máu rỉ chảy,
Do tâm không chân chính,
Đă đâm thủng tự thân.
Như vậy, Bồ-tát thuyết pháp cho vua qua ba bài kệ này.
Rồi Bồ-tát khuyên vua đi ra khỏi cḥi lá. C̣n Bồ-tát chuẩn bị đề tài thiền định, làm phát khởi thiền định đă mất và từ giă cḥi lá, ngồi trên hư không, giáo giới cho vua rồi nói:
- Thưa Đại vương, tôi sẽ đi về Tuyết Sơn.
Vua nói:
- Thưa Tôn giả, ngài không thể đi được.
Bồ-tát nói:
- Thưa Đại vương, khi tôi sống ở đây, tôi đă đổi thay nhục nhă như vậy. Nay tôi không thể ở đây được.
Mặc dù vua yêu cầu tha thiết, Bồ-tát vẫn bay bổng lên hư không, đến Tuyết Sơn và ở đó cho đến khi mạng chung, rồi sanh lên cơi trời Phạm thiên.
*
Khi bậc Đạo Sư thuyết Pháp thoại này xong, Ngài giảng các Sự thật. Cuối bài giảng, vị Tỷ-kheo thối thất đă đắc quả A-la-hán, một số khác đắc quả Dự-lưu, Nhất lai và Bất lai. Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, vua là Ànanda, và vị ẩn sĩ tu khổ hạnh là Ta vậy.
-ooOoo-

(Contents)
http://j2104.htm

No. 251. SAṀKAPPA-JĀTAKA.
 "No archer," etc.--This story the Master told at Jetavana, about a backsliding Brother.

A young nobleman, living in Sāvatthi, gave his heart to the doctrine of the Treasures 1, and embraced the religious life. But one day, as he went his rounds in Sāvatthi, he happened to see a woman dressed in gay apparel. Passion sprang up in his heart; he became disconsolate. When his teachers, counsellors and friends saw him thus, they at once asked him the cause. Seeing that he longed to return to the world, they said to one another, "My friend, the Master can remove the sins of those who are tormented by the sin of lust and the like, and by declaring the Truths, he brings them to enjoy the fruition of sanctity. Come, let us lead him to the Master." So to the Master they brought him. Said he, "Why do you bring me this youth against his will, Brothers? They told him the reason. "Is this true," he asked, "that you are a backslider, as they say?" He assented. The Master asked the reason, and he recounted what had happened. Said he, "O Brother, it has happened before that these women have caused impurity to spring up even in pure beings whose sins have been stayed by the power of ecstasy. Why should not vain men like you be defiled, when defilement comes even to the pure? Even men of the highest repute have fallen into dishonour; how much more the unpurified! Shall not the wind that shakes Mount Sineru also stir a heap of old leaves? This sin has troubled the enlightened Buddha himself, sitting on his throne, and shall it not trouble such an one as you?" and at their request he told them an old-world tale.
Once upon a time, when Brahmadatta was king of Benares, the Bodhisatta was born into a great brahmin family, which had wealth to the amount of eight hundred millions of money. He grew up, and received his education at Takkasilā, and returned to Benares. There he married a wife; and on his parents’ death, he performed their obsequies.  Then, as he inspected his treasure, he reflected--"The treasure is still here, but they who gathered it are here no more!" He was overcome with grief, and the sweat poured from his body.

He lived a long time at home, and gave much in alms; he mastered his passions; then he left his weeping friends, and went into the Himalayas, where he built a hut in a delightful spot, and lived upon the wild fruits and roots of the forest, which he found in his goings to and fro. Ere long he cultivated the Faculties and the Attainments, and lived awhile in the bliss of joyous meditation.

Then a thought came to him. He would go amongst mankind, to buy salt and seasoning; thus his body would grow strong, and he would wander about on foot. "All that shall give alms to a virtuous man like me," thought he, "and greet me with respect, shall fill the heavenly regions." So down he came from Himalaya, and by and bye, as he tramped onwards, he came to Benares at the time of the sun setting. He looked about for a place to bide in, and spied the royal park. "Here," said he, "is a place fit for retirement; here will I dwell." So he entered the park, and sat at the foot of a tree, and spent the night in the joy of meditation.

Next day in the forenoon, having seen to his bodily needs, and adjusted his matted hair, his skin and robes of bark, he took up his alms-bowl; all his senses were quiet, his pride was calmed, he bore himself nobly, looking no more than a plough's length before him; by the glory of his appearance, which was perfect in every way, he drew upon him the eyes of the world. In this fashion he entered the city, and begged from door to door, till he came to the king's palace.

Now the king was upon his terrace, walking to and fro. He spied the Bodhisatta through a window. He was pleased with his bearing; "If," thought he, "there is such a thing as perfect quietude, it must be found in this man." So he sent one of his courtiers, bidding him fetch the ascetic. The man came up with a greeting, and took his alms-bowl, saying, "The king sends for you, Sir."

"Noble friend," replied the Bodhisatta, "the king does not know me!"

"'Then, Sir, please remain here until I return." So he told the king what the beggar had said. Then said the king,

"We have no confidential priest: go, fetch him;" and at the same time he beckoned out of the window, calling to him--"Here, come in, Sir!"

The Bodhisatta gave up his alms-bowl to the courtier, and mounted upon the terrace. Then the king greeted him, and set him upon the king's couch, and offered him all the foods and meats prepared for himself. When he had eaten, he put a few questions to him; and the answers which  were given pleased him ever more and more, so that with a word of respect, he asked,

"Good Sir, where do you live? whence did you come hither?"

"I dwell in Himalaya, mighty king, and from Himalaya have I come."

The king asked, "Why?"

"In the rainy season, O king, we must seek a fixed abode."

"Then," the king said, "abide here in my royal park, you shall not lack for the four things needful; I shall acquire the merit which leads to heaven."

The promise was given; and having broken his fast he went with the Bodhisatta into the grounds, and caused a hut of leaves to be built there. A covered walk he had made, and prepared all the places for his living by night and by day. All the furniture and requisites for an anchorite's life he had brought, and bidding him be comfortable he gave him in charge to the park-keeper.

For twelve years after this,   the Bodhisatta had his dwelling in that place.

Once it so happened that a frontier district rose in rebellion. The king desired to go himself to quell it. Calling his queen, he said--"Lady, either you or I must stay behind."

"Why do you say that, my lord?" she asked.

"For the sake of the good ascetic."

"I will not neglect him," said she. "Mine be it to attend upon the holy father; do you go away without anxiety."

So the king departed; and then the queen waited attentively upon the Bodhisatta.

Now the king was gone; at the fixed season the Bodhisatta came.

When it pleased him, he would come to the palace, and take his meal there. One day, he tarried a long time. The queen had made ready all his food; she bathed and adorned herself, and prepared a low seat; with a clean robe thrown loosely over her, she reclined, waiting for the Bodhisatta to come. Now the Bodhisatta noted the time of day; he took up his alms-bowl, and passing through the air, came up to the great window. She heard his bark robes rustle, and as she rose hastily, her yellow dress slipped. The. Bodhisatta let this unusual sight penetrate his senses, and looked upon her with desire. Then the evil passion that had been calmed by the power of his ecstasy, rose as a cobra rises spreading his hood, from the basket in which he is kept: he was like a milky tree struck by the axe. As his passion gained force, his ecstatic calm gave way, his senses lost their purity; he was as it were a crow with a broken wing. He could not sit down as before, and take his meal; not though she begged him to be seated, could he take his seat. So the queen placed all the food together in his alms-bowl; [275] but that day he could not do as he used to do after his meal, and go out of the window through the air; taking the food, he went down by the great staircase, and so into the grove.

When he came there, he could eat nothing. He set down the food at the foot of his bench, murmuring, "What a woman! lovely hands, lovely feet! what a waist, what thighs!" and so forth. Thus he lay for seven days. The food all went bad, and was covered with a cloud of black flies.

Then the king returned, having reduced his frontier to order. The city was all decorated; he went round it in solemn procession, keeping it always on the right, and then proceeded to the palace. Next he entered the grove, wishing to see the Ḅodhisatta. He noticed the dirt and rubbish about the hermitage, and thinking he must be gone, he pushed back the hut door, and stepped in. There lay the anchorite. "He must he ill," thought the king. So he had the putrid food thrown away, and the hut set in order, and then asked,

"What is the matter, Sir?"

"Sire, I am wounded!"

Then the king thought, "I suppose my enemies must have done this. They could not get a chance at me, so they determined to do a mischief to what I love." So he turned him over, looking for the wound; but no wound could he see. Then he asked, "Where's the place, Sir?"

"No one has hurt me," replied the Bodhisatta, "only I have wounded my own heart." And he rose, and sat upon a seat, and repeated the following verses:


"No archer drew an arrow to his ear
To deal this wound; no feathered shaft is here
Plucked from a peacock's wing, and decked out fine
By skilful fletchers:--’tis this heart of mine,

"Once cleansed from passion by my own firm will,
And keen intelligence, which through desire
Hath dealt the wound that bids me fair to kill,
And burns through all the limbs of me like fire.

[276] "I see no wound from which the blood might flow:
My own heart's folly ’tis that pierces so."


Thus did the Bodhisatta explain matters to the king by these three stanzas. Then he made the king retire from the hut, and induced the mystic trance; and so he recovered his interrupted ecstasy. Then he left the hut, and sitting in the air, exhorted the king. After this the declared that he would go up to Himalaya. The king would have dissuaded him, but he said,

"O king, see what humiliation has come upon me while I dwelt here! I cannot live here." And although the king entreated him, he uprose in

p. 193

the air, and departed to Himalaya, where he abode his life long, and then went to Brahma's world.

_____________________________

[277] When the Master had ended this discourse, he declared the Truths and identified the Birth:--at the conclusion of the Truths the backsliding Brother became a Saint, and some entered the First Path, some the Second, and some the

Third:--"Amanda was the king, and I was the hermit."


--------------------------------------------------------------------------------

Footnotes
189:1 Buddha, the Law, the Order.
 


257. CHUYỆN NGƯỜI HẦU CẬN GÀMANI-CANDA (Tiền thân Gàmani-Canda)
Nó không giỏi làm nhà...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về sự tán thán trí tuệ.
Tại Chánh pháp đường, các Tỷ-kheo ngồi họp và tán thán trí tuệ đức Thế Tôn:
- Như Lai là bậc đại tuệ, quảng tuệ, thiệp tuệ, mẫn tuệ, duệ tuệ, đạt tuệ. Ngài vượt thế giới chư Thiên và thế giới này về trí tuệ.
Bậc Đạo Sư đến và nói:
- Này các Tỷ-kheo, nay các ông ngồi họp tại đây và bàn đến vấn đề ǵ?
Khi nghe vấn đề trên, Ngài nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay mà xưa cũng vậy, Như Lai đă là bậc đại trí tuệ.
Rồi bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, khi vua Janasandha trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con của bà hoàng hậu chánh cung. Mặt Bồ-tát thanh tịnh, chói sáng, đạt được sắc đẹp tối thượng, như mặt gương bằng vàng được đánh bóng. Đến ngày lễ đặt tên, ngài được gọi là Àdàsa-Mukha (hoàng tử có khuôn mặt như gương).
Trong thời gian bảy năm, phụ vương đă mời thầy về dạy hoàng tử ba tập Vệ-đà và mọi bổn phận phải làm ở đời. Bồ-tát học xong th́ phụ vương mệnh chung. Các đại thần tổ chức lễ tang vua rất long trọng và lập đàn bố thí cho các người chết. Đến ngày thứ bảy, quần thần hội họp tại triều đ́nh và bàn luận:
- Hoàng tử c̣n trẻ quá, không thể làm lễ quán đảnh lên ngôi vua được. Chúng ta hăy thử tài hoàng tử rồi sẽ làm lễ quán đảnh cho hoàng tử sau.
Một hôm, họ trang hoàng thành phố, tổ chức một pháp đ́nh, sửa soạn chiếc ngai rồi đi yết kiến hoàng tử và nói:
- Thưa Thiên tử, Thiên tử hăy đến pháp đ́nh.
Hoàng tử chấp thuận cùng với một số đông tùy tùng đến pháp đ́nh và ngồi xuống trên chiếc ngai.
Khi Bồ-tát ngồi xuống để xử án, họ bắt một con khỉ đi hai chân, mặc áo giả làm một vị sư trưởng giỏi nghề chọn vị trí tốt để làm nhà, rồi họ dẫn nó đến pháp đ́nh. Họ nói:
- Thưa Thiên tử, trong thời đại của phụ vương ngài, người này là một sư trưởng có thiên tài tiên đoán vị trí tốt để làm nhà và rất thuần thục trong nghề. Vị này thấy chỗ làm được hay không nên làm, và ngay cả chỗ có khuyết điểm dưới mặt đất sâu đến bảy khuỷu tay, vị này cũng biết. Nhờ sự giúp đỡ của vị ấy, cung điện của vua đă được xây dựng. Thiên tử hăy nhận vị ấy và ban cho vị ấy một chức vụ.
Hoàng tử nh́n nó từ dưới lên và suy nghĩ: "Đây không phải là người mà chỉ là một con khỉ. Bọn khỉ chỉ biết phá hoại những ǵ đă được làm ra chứ chúng không biết làm ǵ cả hay xây dựng những công tŕnh ǵ cả". V́ vậy, hoàng tử đọc bài kệ đầu cho các đ́nh thần nghe:
Nó không giỏi làm nhà,
Đó là khỉ mặt nhăn,
Chỉ phá việc đă làm,
Thói của ṇi giống đó.
Các đ́nh thần, nói:
Thưa Thiên tử, có thể là như vậy.
Và họ dắt khỉ đi ngay.
Sau một hai ngày, họ cho con khỉ ấy mặc y phục sang trọng, dắt nó đến pháp đ́nh và nói:
- Thưa Thiên tử, trong thời phụ vương ngài, người này là pháp quan xử kiện. Thiên tử hăy sử dụng vị ấy và cho vị ấy xử kiện.
Hoàng tử nh́n nó và nghĩ: "Một người có tâm và có trí không có nhiều lông lá như vậy. Nó là con khỉ vô trí, không thể nào xử kiện được".
V́ vậy, Bồ-tát đọc bài kệ thứ hai:
Vật đầy lông lá này
Không sao có tâm trí,
Nó chỉ là con thú
Không gây được ḷng tin,
Như phụ vương đă dạy:
Con này chả biết ǵ!
Các đ́nh thần nghe câu kệ này liền nói:
- Thưa Thiên tử, có thể là như vậy.
Rồi họ đem con khỉ ấy đi ngay.
Một ngày khác họ lại mặc y phục và trang điểm cho nó, dắt nó đến pháp đường và nói:
- Thưa Thiên tử, người này trong thời phụ vương ngài đă hầu hạ đầy đủ mẹ và cha, đă kính lễ các bậc lớn tuổi trong gia đ́nh. Hăy sử dụng người này.
Hoàng tử nh́n nó và nghĩ: "Đây là con khỉ với tâm dao động. Nó không thể làm được công việc ấy".
V́ vậy, Bồ-tát đọc bài kệ thứ ba:
Con vật ấy không thể
Giúp đỡ mẹ hay cha,
Hay là anh, chị, bạn,
Phụ vương dạy ta vậy.
Các đ́nh thần nói:
- Thưa Thiên tử, có thể là vậy!
Rồi họ đem con khỉ đi ngay và họ nói với nhau:
- Hoàng tử là bậc hiền trí, có thể trị v́ vương quốc.
Sau đó, họ làm lễ quán đảnh cho hoàng tử lên ngôi vua, rồi truyền đánh trống khắp thành và rao:
- Đây là những pháp lệnh của Quốc vương có khuôn mặt như gương sáng.
Từ đấy trở đi, Bồ-tát trị v́ theo Chánh pháp, và tiếng đồn Bồ-tát là bậc hiền trí được truyền đi khắp cơi Diêm-phù-đề. Với mục đích làm chói sáng trí tuệ của Bồ-tát, mười bốn vấn đề này được đem đến cho Bồ-tát giải quyết:
Con ḅ, chàng trai và con ngựa,
Thợ đan giỏ, và vị thôn trưởng,
Kỹ nữ, thiếu phụ và con rắn,
Con nai, chim đa đa, nữ thần,
Rắn chúa, và các vị khổ hạnh,
Cùng các thanh niên Bà-la-môn.
Ở đây, câu chuyện được lần lượt kể như sau.
Trong thời Bồ-tát được làm lễ quán đảnh lên ngôi vua, một người hầu của vua Janasandha tên là Gàmani-Canda đă suy nghĩ: "Vương quốc này thật vinh quang nếu được vua cai trị cùng với sự pḥ tá của những người đồng lứa tuổi với vua. Ta nay già cả, không thể hầu hạ hoàng tử trẻ tuổi, vậy ta sẽ sống làm nghề nông ở thôn quê".
V́ vậy ông ta ra khỏi thành phố khoảng ba dặm và sinh sống tại một ngôi làng nhỏ. Nhưng ông không có ḅ để cày ruộng. Sau khi trời mưa, ông mượn hai con ḅ của một người bạn, cả ngày ông cày xong, cho các con ḅ ăn cỏ, rồi dắt ḅ về trả lại cho người chủ.
Trong lúc ấy, người chủ đang ngồi ăn cơm với vợ ở giữa nhà. Các con ḅ đi vào nhà, rất quen thuộc. Trong khi các con ḅ đi vào, người chồng giơ bát lên, và người vợ đặt bát xuống. Gàmani-Canda nh́n thấy suy nghĩ: "Họ không mời ta ăn", liền bỏ đi và không giao tận tay bạn các con ḅ. Đêm đến, bọn ăn trộm phá chuồng ḅ và dắt các con ḅ ấy đi.
Vào buổi sáng, người chủ đi vào chuồng ḅ, không thấy các con ḅ ấy, biết các con ḅ bị ăn trộm liền nghĩ: "Ta sẽ tóm cổ Gàmani", rồi đi đến gặp ông ta và nói:
- Này ông, hăy trả các con ḅ cho tôi.
- Nhưng các con ḅ đă vào trong chuồng rồi.
- Nhưng ông có giao trả cho chúng tôi đâu?
- Không, tôi không giao trả.
- Vậy đây là sứ giả của vua đến mời ông đi.
Bấy giờ, những người dân xứ này có tục lệ khi họ lượm một ḥn đá hay một vỏ ṣ và nói: Đây là sứ giả của vua xin mời đi. Nếu ai nghe nói: Đây là sứ giả của vua, mà không đi, sẽ bị vua phạt. Do vậy, khi ông ta nghe chữ "sứ giả", ông liền đi theo.
Trong khi hai người cùng đi đến cung vua họ đi ngang ngôi làng có một người bạn của Gàmani ở. Ông ta nói với người kia:
- Này ông, tôi rất đói. Ông cho tôi vào làng ăn xong và trở lại, ông hăy ở tại đấy!
Nói xong ông ta đi vào nhà người bạn.
Nhưng người bạn không ở nhà. Người vợ bạn nói:
- Thưa ông, đồ ăn chín không có. Hăy chờ một lát, tôi nấu xong sẽ mời ông.
Người vợ leo thang lên kho gạo, v́ quá hấp tấp nên té xuống đất khiến cho bà ấy sẩy thai. Vừa lúc ấy người chồng đi về, thấy vậy liền nói:
- Anh đánh vợ ta khiến bà ấy sẩy thai. Đây là sứ giả của vua, hăy đi ngay.
Anh ta dắt Gàmani-Canda và ra đi. Từ đấy, hai người dắt Gàmani ở giữa cùng đi với nhau.
Tại một ngôi làng nọ, có người giữ ngựa không thể bắt con ngựa quay lại, lúc nó đang chạy đến gần những người ấy. Người giữ ngựa thấy Gàmani liền nói:
- Này cậu Gàmani, hăy đánh con ngựa này với một vật ǵ khiến nó quay trở lui.
Gàmani cầm ḥn đá và ném con ngựa. Ḥn đá ném trúng chân con ngựa, làm găy chân nó như cọng cây y lan, người giữ ngựa kêu to:
- Ông làm găy chân con ngựa của tôi rồi! Đây là sứ giả của vua.
Và anh ta dắt Gàmani đi. Trong khi bị ba người dắt đi, ông ta suy nghĩ: "Những người này sẽ tố cáo ta trước mặt vua. Ta không thể trả tiền mấy con ḅ, c̣n nói ǵ đến tiền phạt làm sẩy thai, rồi ta đào đâu ra được tiền đền ngựa? Thà ta chết c̣n tốt hơn!
V́ vậy khi họ đang đi, ông ta thấy một vực thẳm bên sườn đồi. Dưới bóng ngọn đồi ấy, hai cha con thợ đan giỏ đang dệt một tấm chiếu, Gàmani-Canda nói:
- Thưa các ông, tôi muốn đi vệ sinh, hăy chờ đây một lát cho đến khi tôi trở lại.
Nói xong, ông ta lên lên ngọn đồi, thả ḿnh xuống vực thẳm lại rơi đúng trên lưng cha người thợ đan giỏ. Người thợ đan giỏ già bị thương nặng chết ngay tại chỗ. Gàmani liền đứng dậy. Người con nói:
- Đồ ác độc, ông đă giết cha ta chết rồi! Đây là sứ giả của vua.
Anh ta nắm tay Gàmani và đi khỏi lùm cây. Những người kia hỏi:
- Chuyện ǵ thế này?
Anh ta trả lời:
- Đây là tên đại ác đă giết cha tôi!
Từ đấy bốn người vây quanh dắt Gàmani đi giữa.
Họ đến trước cửa một ngôi làng khác. Vị thôn trưởng thấy Gàmani liền hỏi:
- Chào cậu Gàmani, cậu đi đâu vậy?
Ông ta trả lời:
- Đi gặp vua.
- Có thật chăng cậu đi đến gặp vua? Tôi muốn tŕnh vua một chuyện, cậu có thể mang đến tŕnh không?
- Vâng tôi sẽ mang.
- Tôi thường có sắc đẹp, tài sản, có danh tiếng, và không có bệnh. Nay tôi nghèo khổ, lại mắc bệnh vàng da. V́ lư do ǵ vậy? Hăy hỏi vua như vậy. Người ta nói vua là bậc hiền trí, vua sẽ nói với cậu và cậu sẽ đem lời vua về nói cho tôi.
Ông ta nhận lời, rồi tiếp tục đi.
Tại cửa một làng khác, một kỹ nữ thấy ông ta liền gọi:
- Chào cậu Gàmani, cậu đi đâu vậy?
Ông ta bảo đi gặp vua, kỹ nữ ấy nói:
- Người ta nói vua là bậc hiền trí, cậu hăy mang theo câu chuyện của tôi tŕnh vua. Trước kia, tôi thường được nhiều lợi dưỡng. Nay tôi không đáng giá một miếng trầu! Không ai đến tán tỉnh tôi. Cậu hăy hỏi vua tại sao vậy, và về nói lại cho tôi.
Rồi Gàmani lại đi nữa.
Tại cửa một ngôi làng khác, một thiếu phụ thấy ông ta cũng hỏi tương tự và nói:
- Tôi không thể sống trong nhà chồng cũng không thể sống trong gia đ́nh tôi. V́ lư do ǵ vậy? Câu hăy hỏi vua và về nói lại cho tôi.
Rồi Gàmani đi nữa.
Từ đấy đi qua một đia phận khác có một con rắn sống trong một g̣ mối, nó thấy ông ta liền hỏi:
- Này cậu Gàmani đi đâu vậy?
Khi được đáp đi gặp vua, con rắn nói:
- Người ta nói vua là bậc hiền trí. Hăy mang đến tŕnh vua câu chuyện của tôi. Khi tôi đi ra t́m mồi và rời g̣ mối, tôi ốm yếu, đ̣i lả nhưng thân tôi đầy cả hang mối, tôi phải kéo thân tôi khỏi ổ một cách khó khăn. C̣n khi đi t́m mồi xong trở về, tôi được no nê thỏa măn và thân lớn ra, nhưng ḅ vào hang thật mau lẹ, thân tôi không chạm sườn hang. Tại sao vậy? hăy hỏi vua và đem câu trả lời về cho tôi.
Ông ta đi một đoạn nữa, một con nai thấy ông ta cũng hỏi tương tự:
- Tôi không thể ăn cỏ ở một chổ nào khác ngoại trừ dưới gốc cây này. V́ lư do ǵ vậy? Hăy hỏi vua.
Đi qua một phần đất khác, một con chim đa đa thấy ông ta liền hỏi:
- Khi tôi đậu dưới chân một g̣ mối, tôi hót lên tiếng hót rất hay. Nhưng ở bất cứ chỗ nào khác, tôi không thể làm được như vậy. V́ lư do ǵ vậy? Hăy hỏi vua.
Ông ta đi tới một chỗ khác, một nữ thần cây thấy ông ta hỏi:
- Này Gàmani đi đâu vậy?
Khi được trả lời đi gặp vua, nữ thần cây nói:
- Người ta nói vua là một bậc hiền trí. Trước kia tôi rất được trọng vọng. Bây giờ ngay ca một ít nhánh non tôi cũng không có được. V́ sao vậy? Hăy hỏi vua.
Đi qua một phần đất khác, một con rắn chúa thấy ông ta và hỏi tương tự:
- Người ta nói vua là một bậc hiền trí. Trước kia trong hồ này, nước trong như pha lê. Nay nước hồ vẩn đục với bọt nước trùm khắp. V́ sao lại vậy? Hăy hỏi vua.
Đi tới một chỗ khác, có một số nhà tu khổ hạnh sống tại một khu vườn gần thành phố, thấy ông ta cũng hỏi tương tự:
- Người ta nói vua là một bậc hiền trí, trước kia tại khu vườn này, các loại trái ngọt rất nhiều, nhưng nay chúng trở nên lạt lẽo và lại đắng. Tại sao vậy? Hăy đến hỏi vua.
Từ đấy đi đến một chỗ khác, một số thanh niên Bà-la-môn đang ở trong một gian nhà gần cửa thành, thấy ông ta bèn hỏi:
- Này cậu Gàmani, cậu đi đâu vậy?
Khi được trả lời đi đến gặp vua hỏi nói:
- Vậy cậu hăy mang theo câu chuyện của chúng tôi: Trước kia chúng tôi học bất cứ đoạn kinh nào, chúng tôi đều nhớ rơ ràng. Nhưng nay, điều chúng tôi học không được giữ lại trong trí và không được hiệu rơ ràng tất cả đều trở thành mù mờ như nước trong một cái ghè nứt rạn. V́ sao sự việc lại vậy? Hăy đến, hỏi vua.
Thế là Gàmani-Canda đến yết kiến vua với mười bốn câu hỏi như trên.
Khi ấy vua đang ngồi tại pháp đ́nh. Vua thấy Gàmani-Canda, và nhận ra ông ta: "Người này là người hầu hạ phụ vương ta, thường hay bồng bế ta thuở trước. Từ đấy cho đến nay, ông ta sống ở đâu?". V́ vậy vua hỏi:
- Này Gàmani, trong thời gian qua khanh sống ở đâu? Đă lâu rồi khanh không tŕnh diện. V́ mục đích ǵ khanh đến đây?
Gàmani thưa:
- Tâu thiên tử, từ khi tiên vương lên cơi trời, thần đi về thôn quê làm nghề cày ruộng để sinh sống. Tại đấy, người này v́ vấn đề kiện tụng hai con ḅ đă đem sứ giả của vua ra và kéo thần đến trước Thiên Tử.
- Nếu không bị kéo đi, khanh sẽ không đến đây chứ ǵ? Nay khanh bị kéo đến, như vậy là tốt rồi, và ta mới thấy khanh. Vậy người kia ở đâu?
- Thưa Thiên tử, đó là người này.
- Có phải chính ông đưa sứ giả của trẫm đến bắt Canda?
- Tâu thiên tử, thật vậy.
- Tại sao?
- V́ ông ta không chịu trả đôi ḅ của thần!
- Có đúng chăng Canda?
- Tâu thiên tử, hăy nghe chuyện của thần.
Rồi Canda thuật lại tất cả câu chuyện. Nghe xong, vua hỏi người chủ của các con ḅ.
- Ngươi có thấy các con ḅ đi vào chuồng nhà ngươi không?
- Tâu thiên tử, thần không thấy.
- Này tư trước ngươi chưa bao giờ nghe mọi nơi gọi ta là Vua có mặt sang như gương sao? Người hăy nói thật đi.
- Tâu thiên tử, thần có thấy.
- Này Canda, khanh không dắt đôi ḅ về trả, như vậy khanh mắc nợ đôi ḅ. Người này có thấy nhưng nói không thấy, tức là cố ư nói láo. Do đó khanh phải tự tay móc mắt người này và phần khanh phải trả cho anh ta hai mươi bốn đồng tiền vàng.
Nghe vua nói vậy, quân hầu dắt người chủ các con bo ra ngoài. Anh ta liền nghĩ: "Khi bị móc mắt, th́ ta lấy tiền làm ǵ!". V́ vậy, anh ta sụp lạy dưới chân Gàmani và nói:
- Thưa ngài Canda, số tiền các con ḅ ấy thuộc về ngài. Hăy lấy thêm những đồng tiền này nữa.
Nói vậy xong, anh ta đưa cho Canda một số tiền rồi bỏ trốn chạy.
Người thứ hai nói:
- Tâu thiên tử, người này đánh vợ tôi khiến cho bà ấy sẩy thai.
- Có thật vậy chăng, này Canda?
- Thưa Đại Vương, xin hăy nghe thần.
Rồi ông ta thuật toàn bộ câu chuyện với các chị tiết. Vua hỏi:
- Có phải khanh đánh vợ người này và làm cho bà ta sẩy thai?
- Thưa thiên tử, thần không làm như vậy.
- Này người kia, ngươi có thể chữa lại sự sẩy thai do người này đă gây ra không?
- Thưa Thiên tử, không thể được.
- Nay ngươi muốn làm ǵ?
- Tôi muốn phải có một đứa con trai!
- Này Canda, hăy đem vợ người này về nhà của khanh cho đến khi nào bà ta sanh một đứa con trai th́ đưa nó đến và trả cho người này.
Người ấy nghe vậy liền sụp xuống lạy dưới chân Canda:
- Thưa ngài, chớ phá vỡ gia đ́nh của tôi!
Rồi anh ta cho Canda một số đồng tiền vàng và bỏ chạy trốn.
Người thứ ba đến và nói:
- Tâu Thiên tử, người này đánh găy chân con ngựa của tôi.
- Có thực chăng, này Canda?
- Thưa Đại vương, xin hăy nghe thần.
Rồi Canda tường thuật rơ ràng câu chuyện. Nghe xong, vua hỏi người chủ con ngựa:
- Có phải chính ngươi nhờ Canda đánh con ngựa khiến cho nó quay lui không?
- Tâu thiên tử, tôi không nói.
Nhưng khi được hỏi thêm một lần nữa, anh ta nói:
- Thưa, tôi có nói.
Vua gọi Canda và bảo:
- Này Canda, người này có nói nhưng lại bảo không nói, như vậy là đă cố ư nói láo. Khanh hăy cắt lưỡi của nó rồi cho nó một ngàn đồng tiền vàng để bù lại con ngựa kia! Số tiền này ta sẽ cho khanh.
Nhưng kẻ giữ ngựa liền cho Canda một số tiền rồi bỏ chạy v́ sợ cắt lưỡi!
Rồi đến con trai của người thơ đan giỏ nói:
- Tâu Thiên tử, người này là kẻ sát nhân đă giết chết cha tôi.
- Có thật như vậy chăng, này Canda?
- Tâu Thiên tử, xin hăy nghe thần.
Rồi Canda thuật lại câu chuyện một cách rơ ràng. Vua gọi người thợ kia:
- Nay ngươi muốn ǵ?
- Tâu Thiên tử, tôi muốn có được cha tôi!
- Này Canda, người này cần có một người cha. Nhưng khanh không thể đem lại cho nó người cha đă chết, vậy hăy đem mẹ của nó về nhà khanh và trở thành cha nó.
Con người đan giỏ vội nói:
- Thưa ngài, chớ phá vỡ gia đ́nh người cha đă chết của tôi!
Nói xong anh ta cho Canda một số tiền rồi bỏ chạy.
Gàmani đă thắng các vụ kiện nên hoan hỷ rồi thưa với vua:
- Tâu thiên tử, thần có nhiều vấn đề của nhiều người muốn hỏi Thiên tử. Thiên tử có bằng ḷng cho thần nói không?
- Hăy nói đi, này Canda.
Canda theo thứ tự đảo ngược bắt đầu từ vấn đề các thanh niên Bà-la-môn trở về trước và kể ra từng vấn đề một.
Nhà vua lần lượt trả lời. Đối với vấn đề đầu tiên, khi nghe xong, vua đáp:
- Thuở trước, tại chỗ họ ở, có một con gà biết gáy đúng giờ. Khi nghe tiếng gà gáy, họ thức dậy, lấy các bài chú ra đọc lớn tiêng cho đến khi trời sáng. Do đó họ không quên mất điều đă học. Nhưng nay tại chỗ họ ở, có một con gà trống gáy không đúng giờ. Nó gáy vào lúc c̣n đêm khuya hay đă quá sáng. Khi nghe tiến gà gáy trong đêm khuya, họ thức dậy, lấy các bài chú ra học, nhưng quá buồn ngủ nên không thể đọc được. Rồi khi nghe tiếng gà gáy quá sáng họ thức dậy, nhưng không c̣n th́ giờ tụng chú nữa. Do vậy, họ không nhớ rơ những điều đă học.
Khi nghe vấn đề thứ hai, vua trả lời:
- Những người ấy thuở trước hành tŕ Sa-môn pháp và chuyên tâm chuẩn bị các đề tài thiền định. Nhưng bây giờ họ từ bỏ Sa-môn pháp, và chuyên tâm vào các việc không nên làm. Các trái cây sanh ở trong vườn được họ lấy đem cho các người hầu hạ. C̣n họ sống bằng tà mạng, thay phiên nhau đi khất thực. Do ḥa hợp với nhau như trước, chuyên tâm hành tŕ các Sa môn pháp, th́ các trái cây v.v... của họ sẽ ngọt như cũ. Các vị tu khổ hạnh ấy không biết trí tuệ của các vua chúa. Hăy bảo họ hành tŕ pháp Sa-môn chân chánh.
Khi nghe vấn đề thứ ba, vua nói:
- Những rắn chúa ấy thường hay căi nhau nên nước hồ trở thành đục. Nếu chúng ḥa hợp với nhau như trước th́ nước sẽ trở lại trong.
Khi nghe vấn đề thứ tư, vua nói:
- Nữ thần cây ấy trước kia bảo vệ các người đi qua lại khu rừng, do vậy nhận được nhiều đồ hiến cúng khác nhau. Nay nữ thần cây ấy không bảo vệ họ nên không nhận được đồ hiến cùng thượng hạng. Nữ thần hay dặn nàng bảo vệ những người đi lên khu rừng ấy.
Khi nghe vấn đế thứ năm, vua nói:
- Dưới g̣ mối mà con chim đa đa ấy đậu và hót vời giọng khải ái có một cái ghè lớn chứa châu báu. Hăy đào lên và lấy ghè ấy.
Khi nghe vấn đề thứ sáu, vua nói:
- Dưới gốc cây mà con nai ấy có thể ăn cỏ tức là trên cây có một ong mật lớn. Con nai ấy thèm ăn thứ cỏ được mật rớt dính vào, nên nó không có thể ăn các thứ cỏ khác. Khanh hăy lấy tổ ong, gửi phần mật tốt nhất cho ta. Khanh ăn phần c̣n lại.
Khi nghe vần đề thứ bảy, vua hỏi:
- Dưới g̣ mối mà con rắn ấy có một ghè lớn chứa châu báu. Con rắn ấy sống ở đó để bảo vệ châu báu ấy. Do vậy, khi nó ḅ ra, v́ ḷng tham châu báu, thân nó bám chặt vào hang. Nhưng khi kiếm thức ăn xong, thân không c̣n bám chặt vào hang v́ tham châu báu, nên nó ḅ vào thật mau và mạnh. Hăy đào ghè châu báu ấy lên và cất giữ kỹ.
Khi nghe vấn đề thứ tám, vua nói:
- Giữa làng người chồng và làng cha mẹ của thiếu phụ ấy, có một ngôi nhà của t́nh nhân thiếu phụ ấy Náng nhớ t́nh nhân, không thể ở trong nhà người chồng, và v́ luyến ái t́nh nhân, nàng nói nàng sẽ đi thăm cha mẹ. Nàng đi đến sống vài ngày trong nhà của t́nh nhân, rồi nàng đến nhà mẹ. Sau khi ở đấy vài ngày, nàng lại nhờ t́nh nhân, bèn nói nàng sẽ đi về nhà chồng, và nàng lại đi đến nhà của t́nh nhân. Khanh nói cho thiếu phụ ấy biết rằng c̣n có pháp luật của nhà vua. Bảo nàng phải sống với người chồng. Nếu không, vua sẽ truyền bắt nàng và nàng sẽ không c̣n mạng sống nữa. Hăy nói cho nàng biết phải cẩn thận!
Khi nghe vấn đề thứ chín, vua nói:
- Người phụ nữ ấy trước kia thường lấy một số tiền từ tay một người đán ông nào, th́ nàng không đi với người khác cho đến khi nàng đă để anh ta hưởng lạc xứng với số tiền kia. Do vậy trước kia nàng đă nhận được nhiều tiền. Nay nàng đă từ bỏ nguyên tắc ấy của ḿnh. Khi chưa từ giă một người mà nàng đă nhận tiền, nàng lại lấy tiền từ một người khác! Do vậy, nàng không có tiền v́ không ai t́m đến nàng nữa. Nếu nàng duy tŕ nguyên tắc cũ của ḿnh, sự việc sẽ giống như trước kia. Hăy bảo nàng duy tŕ nguyên tắc cũ của ḿnh!
Khi nghe vấn đề thứ mười, vua nói:
- Người thôn trưởng ấy trước kia xử kiện đúng pháp và b́nh đẳng, do vậy được mọi người thương mến và thích thú. V́ thích ư, họ biếu anh ta nhiều quà tặng. Nhờ đó anh ta đẹp trai, có tài sản, và danh vọng. Nay anh ta thích nhận tiền hối lộ và xử kiện không đúng pháp. Do vậy, anh ta trở thành nghèo nàn, khốn khổ và bị bệnh vàng da. Nếu anh ta xử kiện đúng pháp như trước, mọi việc trở lại giống như trước. Anh ta không biết sự có mặt của vua chúa trong nước này. Hăy bảo anh ta phải xử kiện đúng pháp.
Như vậy Gàmani-Canda đă thuật lại tất cả vấn đề được nêu trên. Với trí tuệ của ḿnh, vua đă giải quyết tất cả vấn đề ấy như đức Phập nhất thiết trí và ban cho Gàmani-Canda nhiều tài sản. Và ngôi làng Canda ở được vua ban thưởng ông ta như là một tặng vật anh cho một vị Bà-la-môn. Rồi vua bảo đưa ông ta đi về.
Canda ra khỏi thành, nói lại các câu trả lời của Bồ-tát cho các thanh niên Bà-la-môn, các vị khổ hạnh, con rắn chúa và nữ thần cây. Sau đó ông ta lấy tài sản chôn tất cả tại chỗ cho chim đa đa đậu. Rồi ông ta lấy tổ ong mật từ thân cây mà dưới đó con nai ăn cỏ và gởi mật về dâng vua. Ông ta phá vỡ g̣ mối tại chỗ con rắn ở, thâu lượm tài sản chôn cất, và thuật lại cách vua trả lời cho người thiếu phụ, người kỹ nữ và người thôn trưởng.
Rồi Canda đi về làng của ḿnh với danh vọng lớn, và sống tại đấy cho đến hết đời, rồi đi theo nghiệp của ḿnh. C̣n vị vua có mặt sáng như gương ấy trọn đời làm các công đức như bố thí v.v... và sau khi mạng chung, ngài đi lên cơi trời làm đông đảo hội chúng chư Thiên.
*
Bậc Đạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay Như Lai có đại tró tuệ mà thuở trước cũng đă có đại trí tuệ như vậy.
Sau khi kể Pháp thoại này, Ngài thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng ấy, nhiều người chứng quả Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, quả A-la-hán. Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Gàmani-Canda là Ànanđa, c̣n vị vua có mặt sáng như gương ấy là Ta vậy.
-ooOoo-

(Contents)

No. 257. GĀMAṆI-CAṆḌA-JĀTAKA 1.


[297] "It is not a clever builder," etc.--This story the Master told while sojourning at Jetavana, about the praise of wisdom. In the Hall of Truth sat the Brethren, praising the wisdom of the Buddha: "The Blessed One has wisdom great and wide, wisdom witty and quick, wisdom sharp and penetrating. He excels this world and the world of gods in wisdom."

The Master entered, and asked what they were talking of now as they sat there. They told him. He answered, "This is not the first time, Brethren, that the Blessed One has been wise; he was the same before." And he told an old-world tale.

_____________________________

Once upon a time, Brethren, when Janasandha was reigning in Benares, the Bodhisatta came to life as the son of his chief queen. His face was resplendent, wearing a look of auspicious beauty, like a golden mirror well polished. On the day of his naming they called him Ādāsa-mukha, Prince Mirror-face.

Within the space of seven years his father caused him to be taught the Three Vedas, and all the duties of this world; and then he died, when the lad was seven years old. The courtiers performed the king's obsequies with great pomp, and made the offerings for the dead; and on the seventh day they gathered together in the palace court, and talked together. The prince was very young, they thought, and he could not be made king.

Before they made him king, they would test him. So they prepared a court of justice, and set a divan. Then they came into the prince's presence, and said they, "You must come, my lord, to the law-court." To this the prince agreed; and with a great company he repaired thither, and sat upon the dais.

Now at the time when the king sat down for judgement, the courtiers had dressed up a monkey, in the garb of a man who is skilled in the lore which tells what are good sites for a building. They made him go upon two feet, and brought him into the judgement hall.


p. 208

"My lord," said they, "in the time of the king your father this man was one who divined by magic as to desirable sites, and well did he know his art. [298] Down in the earth as deep as seven cubits he can see a fault. By his help there was a place chosen for the king's house; let the king provide for him, and give him a post."

The prince scanned him from head to foot. "This is no man, but a monkey," he thought; "and monkeys can destroy what others have made, but of themselves can neither make anything nor carry out such a thing." And so he repeated the first stanza to his court:--


"It is not a clever builder, but an ape with a wrinkled face;
He can destroy what others make; that is the way of his race."

"It must be so, my lord!" said the courtiers, and took him away. But after a day or two they dressed this same creature in grand clothes, and brought him again to the judgement hall. "In the king your father's time, my lord, this was a judge who dealt justice. Him should you take to help you in the awarding of justice."

The prince looked at him. Thought he, "A man with mind and reason is not so hairy as all that. This witless ape cannot dispense justice;" and he repeated the second stanza:--


"There's no wit in this hairy creature; he breeds no confidence;
He knows nought, as my father taught: the animal has no sense!"

[299] "So it must be, my lord!" said the courtiers, and led him away. Yet once again did they dress up the very same monkey, and bring him to the hall of judgement. "Sire," said they, "in the time of the king your father this man did his duty to father and mother, and paid respect to old age in his family. Him you should keep with you."

Again the prince looked at him, and thought--"Monkeys are fickle of mind; such a thing they cannot do." And then he repeated the third stanza:--


"One thing Dasaratha 1 has taught me: no help such a creature would send
To father or mother, to sister or brother, or any who call him friend!"

"So must it be, my lord!" answered they, and took him away again. And they said amongst themselves, "’Tis a wise prince; he will be able to rule"; [300] and they made the Bodhisatta king; and throughout the city by beat of drum they made proclamation, saying, "The edicts of king Mirror-face!"

From that time the Bodhisatta reigned righteously; and his wisdom was noised abroad throughout all India. To show forth the matter of


p. 209

this wisdom of his, these fourteen problems were brought to him to decide:--


"An ox, a lad, a horse, a basket-knight,
A squire, a light-o’-love, and a young dame,
A snake, a deer, a partridge, and a sprite,
A snake, ascetics, a young priest I name."

This happened as we shall now explain. When the Bodhisatta was inaugurated king, a certain servant of king Janasandha, named Gāmaṇi-caṇḍa, thus considered within himself: "This kingdom is glorious if it be governed by aid of those who are of an age with the king. Now I am old, and I cannot wait upon a young prince: so I will get me a living by farming in the country." So he departed from the city a distance of three leagues, and abode in a certain village. But he had no oxen for farming. And so, after rain had fallen, he begged the loan of two oxen from a friend; all day long he ploughed with them, and then he gave them grass to eat, and went to the owner's house to give them back again. At the moment it happened that the owner sat at meat with his wife; and the oxen entered the house, quite at home. As they entered, the master was raising his plate, and the wife putting hers down. Seeing that they did not invite him to share the meal, Gāmaṇi-caṇḍa departed without formally making over the oxen. During the night, thieves broke into the cow-pen, and stole the oxen away.

Early on the morrow, the owner of these oxen entered the cow-shed, but cattle there were none; he perceived that they had been stolen away by thieves. "I'll make Gāmaṇi pay for it!" thought he, and to Gāmaṇi he went. [301]

"I say, return me my oxen!" cried he.

"Are not they in their stall?"

"Now did you return them to met"

"No, I didn't."

"Here's the king's officer: come along."

Now this people have a custom that they pick up a bit of stone or a potsherd, and say--"Here's the king's officer; come along! "If any man refuses to go, he is punished. So when Gāmaṇi heard the word "officer," he went along.

So they went together towards the king's court. On the way, they came to a village where dwelt a friend of Gāmaṇi's. Said he to the other,

"I say, I'm very hungry. Wait here till I go in and get me something to eat!" and he entered his friend's house.

But his friend was not at home. The wife said,

"Sir, there is nothing cooked. Wait but a moment; I will cook at once and set before you."

She climbed a ladder to the grain store, and in her haste she fell to the

p. 210

ground. And as she was seven months gone with child, a miscarriage followed.

At that moment, in came the husband, and saw what had happened. "You have struck my wife," cried he, "and brought her labour upon her untimely! Here's a king's officer for you--come along!" and he carried him off. After this they went on, the two of them, with Gāmaṇi between.

As they went, there was a horse at a village gate; and the groom could not stop it, but it ran along with them. The horsekeeper called out to Gāmaṇi--

"Uncle 1 Caṇḍagāmaṇi, hit the horse with something, and head him back!" Gaillard picked up a stone, and threw it at the horse. The stone struck his foot, and broke it like the stalk of a castor-oil plant. Then the man cried,

"Oh, you've broken my horse's leg! Here's a king's officer for you!" and he laid hold of him.

Gāmaṇi was thus three men's prisoner. As they led him along, he thought: "These people will denounce me to the king;' [302] I can't pay for the oxen; much less the fine for causing an untimely birth; and then where shall I get the price of the horse? I were better dead." So, as they went along, he saw a wood hard by the road, and in it a hill with a precipice on one side of it. In the shadow of it were two basket-makers, father and son, weaving a mat. Said Gāmaṇi,

"I say, I want to retire for a moment: wait here, while I go aside"; and with these words he climbed the hill, and threw himself down the precipice. He fell upon the back of the elder basket-maker, and killed him on the spot. Gāmaṇi got up, and stood still.

"Ah, you villain! you've murdered my father!" cried the younger basket-maker; "here's the king's officer!" He seized Gāmaṇi's hands, and came out of the thicket.

"What's this?" asked the others.

"The villain has murdered my father!"

So on they went, the four of them, with Gāmaṇi in the middle.

They came to the gate of another village. The headman was there, who hailed Gāmaṇi: "Uncle 1 Caṇḍa, whither away?"

"To see the king," says Gāmaṇi.

"Oh indeed, to see the king. I want to send him a message; will you take it?"

"Yes, that I will."

"Well--I am usually handsome, rich, honoured, and healthy; but now I am miserable and have the jaundice too. Ask the king why this is.


p. 211

[paragraph continues] He is a wise man, so they say; he will tell you, and you can bring me his message again."

To this the other agreed.

At another village a light-o’-love called out to him--"Whither bound, Uncle 1 Caṇḍa 4"

"To see the king," says he.

"They say the king is a wise man; take him a message from me," says the woman. [303] "Aforetime I used to make great gains; now I don't get the worth of a betel-nut, and nobody courts me. Ask the king how this may be, and then you can tell me."

At a third village, there was a young woman who told Gāmaṇi, "I can live neither with my husband nor with my own family. Ask the king how this is, and then tell me."

A little further on there was a snake living in an ant-hill near the road. He saw Gāmaṇi, and called out,

"Whither away, Caṇḍa?"

"To see the king."

"The king is wise; take him a message from me. When I go out to get my food, I leave this ant-hill faint and famishing, and yet I fill the entrance hole with my body, and I get out with difficulty, dragging myself along. But when I come in again, I feel satisfied, and fat, yet I pass quickly through the hole without touching the sides. How is this? ask the king, and bring me his answer."

And further on a deer saw him, and said--"I can't eat grass anywhere but underneath this tree. Ask the king the reason." And again a partridge said, "When I sit at the foot of this ant-heap, and utter my note, I can make it prettily; but nowhere else. Ask the king why." And again, [304] a tree spirit saw him, and said,

"Whither away, Caṇḍa?"

"To the king."

"The king's a wise man, they say. In former times I was highly honoured; now I don't receive so much as a handful of twigs. Ask the king what the reason is."

And further on again he was seen by a serpent-king, who spoke to him thus: "The king is said to be a wise man: then ask him this question. Heretofore the water in this pool has been clear as crystal. Why is it that now it has become turbid, with scum all over it?"

Further on, not far from a town, certain ascetics who dwelt in a park saw him, and said, in the same way, "They say the king is wise. Of yore there were in this park sweet fruits in plenty, now they have grown tasteless and dry. Ask him what the reason is." Further on again, he was accosted by some brahmin students who were in a hall at the gate of a town. They said to him,


p. 212

"Where are you going, Caṇḍa, eh?"

"To the king," says Caṇḍa.

"Then take a message for us. Till now, whatever passage we learnt was bright and clear; now it does not stay with us, it is not understood, but all is darkness,--it is like water in a leaky jar. Ask the king what the reason is."

Gāmaṇi-caṇḍa came before the king with his fourteen questions. When the king saw him, he recognised him. "This is my father's servant, who used to dandle me in his arms. Where has he been living all this time?" And "Caṇḍa," said he, "where have you been living all this time? [305] We have seen nothing of you for a long while; what brings you here?"

"Oh, my lord, when my lord the late king went to heaven, I departed into the country and kept myself by farming. Then this man summoned me for a suit regarding his cattle, and here he has brought me."

"If you had not been brought here, you had never come; but I'm glad that you were brought anyhow. Now I can see you. Where is that man?"

"Here, my lord."

"It is you that summoned our friend Caṇḍa?"

"Yes, my lord."

"Why?"

"He refuses to give back my pair of oxen!"

"Is this so, Caṇḍa?"

"Hear my story too, my lord!" said Caṇḍa; and told him the whole. When he had heard the tale, the king accosted the owner of the oxen. "Did you see the oxen," said he, "entering the stall?"

"No, my lord," the man replied.

"Why, man, did you never hear my name? They call me king Mirror-face. Speak out honestly."

"I saw them, my lord!" said he.

"Now, Caṇḍa," said the king, "you failed to return the oxen, and therefore you are his debtor for them. But this man, in saying that he had not seen them, told a direct lie. Therefore you with your own hands shall pluck his eyes out, and you shall yourself pay him twenty-four pieces of money as the price of the oxen." Then they led the owner of the oxen out of doors.

"If I lose my eyes, what do I care for the money?" thought he. And he fell at Gāmaṇi's feet, and besought him--"O master Caṇḍa, keep those twenty-four pieces, and take these too!" and he gave him other pieces, and ran away.

The second man said, "My lord, this fellow struck my wife, [306] and

p. 213

made her miscarry." "Is this true, Caṇḍa?" asked the king. Caṇḍa begged for a hearing, and told the whole story.

"Did you really strike her, and cause her to miscarry?" asked the king.

"No, my lord! I did no such thing."

"Now, can you"--to the other--"can you heal the miscarriage which he has caused?"

"No, my lord, I cannot."

"Now, what do you want to do?"

"I ought to have a son, my lord."

"Now then, Caṇḍa--you take the man's wife to your house; and when a son shall be born to you, hand him over to the husband."

Then this man also fell at Caṇḍa's feet, crying, "Don't break up my home, master!" threw down some money, and made off.

The third man then accused Caṇḍa of laming his horse's foot. Caṇḍa as before told what had happened. Then the king asked the owner, "Did you really bid Caṇḍa strike the horse, and turn him back?"

"No, my lord, I did not." But on being pressed, he admitted that he had said so.

"This man," said the king, "has told a direct lie, in saying that he did not tell you to head back the horse. You may tear out his tongue; and then pay him a thousand pieces for the horse's price, which I will give you." But the fellow even gave him another sum of money, and departed.

Then the basket-maker's son said,

"This fellow is a murderer, and he killed my father!"

"Is it so, Caṇḍa?" asked the icing. "Hear me, my lord," said Caṇḍa, and told him about it.

"Now, what do you want?" asked the king.

"My lord, I must have my father." [307]

"Caṇḍa," said the king, "this man must have a father. But you cannot bring him back from the dead. Then take his mother to your house, and do you be a father to him."

"Oh, master!" cried the man, "don't break up my dead father's home!" He gave Gāmaṇi a sum of money, and hurried away.

Thus Gāmaṇi won his suit, and in great delight he said to the king, "My lord, I have several questions for you from several persons; may

I tell you them?"

"Say on," said the king.

So Gāmaṇi told them all in reverse order, beginning with the young brahmins. The king answered them in turn. To the first question, he answered: "In the place where they lived there used to be a crowing cock that knew the time. When they heard his crow, they used to rise up, and repeat their texts, until the sun rose, and thus they did not forget

p. 214

what they learnt. But now there is a cock that crows out of season; he crows at dead of night, or in broad day. When he crows in the depth of night, up they rise, but they are too sleepy to repeat the text. When he crows in broad day, they rise up, but they have not the chance to repeat their texts. Thus it is, that whatever they learn, they soon forget."

To the second question, he answered: "Formerly these men used to do all the duties of the ascetic, and they induced the mystic trance. Now they have neglected the ascetic's duties, and they do what they ought not to do; the fruits which grow in the park they give to their attendants; they live in a sinful way, exchanging their alms 1. This is why this fruit does not grow sweet. [308] If they once more with one consent do their duty as ascetics, again the fruit will grow sweet for them. Those hermits know not the wisdom of kings; tell them to live the ascetic life."

He heard the third question, and answered, "Those serpent chiefs quarrel one with another, and that is why the water becomes turbid. If they make friends as before, the water will be clear again." After hearing the fourth, "The tree-spirit," said he, "used formerly to protect men passing through the wood, and therefore she received many offerings. Now she gives them no protection, and so she receives no offerings. If she protects them as before, she will receive choice offerings again. She knows not that there are kings in the world. Tell her, then, to guard the men who go up into that wood." And on hearing the fifth, "Under the ant-hill where the partridge finds himself able to utter a pleasant cry is a crock of treasure; dig it up and get it." To the sixth he answered, "On the tree under which the deer found he could eat grass, is a great honey-comb. He craves the grass on which this honey has dropped, and so he can eat no other. You get the honeycomb, send the best of it to me, and eat the rest yourself." Then on hearing the seventh, "Under the snake's ant-heap lies a large treasure-crock, and there he lives guarding it. So when he goes out, from greed for this treasure his body sticks fast; but after he has fed, his desire for the treasure prevents his body from sticking, and be goes in quickly and easily. Dig up the treasure, and keep it." Then he replied to the eighth question, "Between the villages where dwell the young woman's husband and her parents [309] lives a lover of hers in a certain house. She remembers him, and her desire is toward him; therefore she cannot stay in her husband's house, but says she will go and see her parents, and on the way she stays a few days with her lover. When she has been at home a few days, again she remembers him, and saying she will return to her husband, she goes again to her lover. Go, tell her there are kings in the land; say, she must dwell with her husband,


p. 215

and if she will not, let her have a care, the king will cause her to be seized, and she shall die." He heard the ninth, and to this he said, "The woman used formerly to take a price from the hand of one, and not to go with another until she was off with him 1, and that is how she used to receive much. Now she has changed her manner, and without leave of the first she goes with the last, so that she receives nothing, and none seek after her. If she keeps to her old custom, it will be as it was before. Tell her that she should keep to that." On hearing the tenth, he replied, "That village headman used once to deal justice indifferently, so that men were pleased and delighted with him; and in their delight they gave him many a present. This is what made him handsome, rich, and honoured. Now he loves to take bribes, and his judgement is not fair; so he is poor and miserable, and jaundiced. If he judges once again with righteousness, he will be again as he was before. He knows not that there are kings in the land. Tell him that he must use justice in giving judgement."

And Gāmaṇi-car a told all these messages, as they were told to him. And the king having resolved all these questions by his wisdom, like Buddha omniscient, [310] gave rich presents to Gāmaṇi-caṇḍa; and the village where Caṇḍa dwelt he gave to him, as a brahmin's gift, and let him go. Caṇḍa went out of the city, and told the king's answer to the brahmin youths, and the ascetics, to the serpent and to the tree-spirit; he took the treasure from the place where the partridge sat, and from the tree beneath which the deer did eat, he took the honeycomb, and sent honey to the king; he broke into the snake's ant-hill, and gathered the treasure out of it; and to the young woman, and the light-o’-love, and the village headman he said even as the king had told him. Then he returned to his own village, and dwelt there so long as he lived, and afterward passed away to fare according to his deserts. And king Mirror-face also gave alms, and wrought goodness, and finally after his death went to swell the hosts of heaven.

_____________________________

When the Master had ended this discourse, to show that not now only is the Blessed One wise, but wise he was before, he declared the Truths, and identified the Birth: (now at the conclusion of the Truths many persons entered on the First Path, or the Second, or the Third, or the Fourth:) "At that time Ānanda was Gāmaṇi-Caṇḍa; but king Mirror-face was I myself."



--------------------------------------------------------------------------------

Footnotes
207:1 See Morris, Folk-Lore Journal, iii. 337; Tawney, Phil. Journ. xii. 112-119; Academy, Aug. 6, 1887, no. 796. Problems to be solved are a common part of the machinery of fairy tales; e.g. Grimm, no. 29, The Devil with the Three Golden Hairs, and the editors' notes.

208:1 Dasaratha is another name for his father (Schol.).

210:1 It is worth noting that this term of affection means a mother's brother.

211:1 See note, p. 210.

214:1 Some staying at home, while others beg for all, to save trouble. See p. 57, note 1.

215:1 Literally, "until she had made him enjoy his money's worth," ajirāpetvā.


 


258. CHUYỆN ĐẠI VƯƠNG MANDAHÀTÀ (Tiền thân Mandahàtà)
Dầu có được bao nhiêu...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về chuyện một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn.
Nghe nói Tỷ-kheo ấy đi khất thực ở Xá-vệ, thấy một nữ nhân trang sức đẹp đẽ và sanh tâm luyến ái. Các Tỷ-kheo đưa vị ấy đến Chánh Pháp đường và tŕnh diện với bậc Đạo Sư:
- Bạch Thế Tôn, đây là một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn.
Bậc Đạo Sư hỏi vị ấy:
- Có thật chăng ông thối thất tinh tấn?
Vị ấy nói:
- Thưa có thật, bạch Thế Tôn.
Bậc Đạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, ngay trong khi ông c̣n đang ở trong gia đ́nh, ông có bao giờ thỏa măn được ái dục này chăng? Ái dục giống như biển cả, rất khó làm đầy. Thuở trước có những vị Chuyển luân vương ngự trị trên bốn đại châu với hai ngàn dải vây quanh, bao trùm cả loài người, ngay cả khi ngự trị chư Thiên của bốn Đại Thiên Vương, hay ngự trị chư Thiên ở cơi trời Ba mươi ba, hoặc trên thiên giới của Ba mươi vị Thiên chủ Đế Thích, các vị ấy cũng không thế nào thỏa măn được ái dục của ḿnh, rồi mạnh chung trước khi có thể thực hiện được việc ấy. Vậy làm sao ông có thể thỏa măn ái dục này được?
Nói xong, bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, trong những thời đại tối sơ của thế giới, vua Mahàsammata có mặt ở đời. Vua có con trai tên là Roja. Roja có con trai tên là Vararojà. Vararojà có con trai tên là Kalyàna. Kakyàna có con trai tên là Varakalyàna. Varakalyàna cón con trai tên là Upostha. Uposatha có con trai tên là Mandhàtà. Madhàtà có đầy đủ bảy báu vậy, bốn thần đồng và là bậc Chuyển luân vương trị v́ quốc độ.
Khi tay trái vua co lại, và vỗ nhẹ tay mặt, th́ cơn mưa bảy báu vật rơi xuống, ngập đến đầu gối, như một cơn mưa dông từ trời đổ xuống. Vua thật là một người kỳ diệu hy hữu. Ngại làm hoàng tử trong tám mươi bốn ngàn năm, làm phó vương cũng trong tám mươi bốn ngàn năm, làm vị Chuyển luân vương cũng trong tám mươi bốn ngàn năm. Tuổi thọ của ngài thật là vô lượng.
Một hôm, v́ không thỏa măn được ái dục, vua tỏ lộ vẻ bất măn. Các đ́nh thần thưa:
- Tâu thiên tử, sao Thiên tử lại bất măn?
- Khi xét đến sức mạnh công đức của ta, th́ vương quốc này để làm cái ǵ? Có trú xứ nào tốt đẹp khả ái hơn chăng?
- Tâu Đại vương, có Thiên giới.
V́ thế vua chuyển vận hành xe báu, cùng với hội chúng đi lên Thiên giới Bốn Thiên vương. Bốn vị đại vương, với ṿng hoa, và hương thiên giới cầm tay; với thiên chúng vây quanh đi đến nghênh đón vua, cùng lên thiên giới của chư vị và giao thiên giới ấy cho vua trị v́.
Vua cùng với hội chúng của ḿnh trị v́ thiên giới ấy trong một thời gian dài, nhưng tại đấy, vua không thể thỏa măn ái dục và bắt đầu lộ vẻ bất măn.
Bốn Thiên vương hỏi:
- Tâu Đại vương, sao Đại vương lại bất măn?
- Có trú xứ nào đẹp hơn cơi trời này chăng?
- Tâu thiên tử, chúng tôi giống như người hầu hạ của cơi trời trên! Cơi trời Ba mươi c̣n đẹp hơn cơi này nhiều!
Mandhàtà chuyển bánh xe báu, với hội chúng của ḿnh vây quanh đi tới, hướng mặt về cơi trời Ba mươi ba. Thiên chủ Đế Thích, với ṿng hoa và hương trời cầm tay, với Thiên chúng vây quanh, đi đến nghênh đón, hướng dẫn vua và nói:
- Tâu Đại Vương, hăy đi tới.
Vào thời Vua cha đang du hành ở thiên giới giữa hội chúng chư thiên, th́ thái tử của ngài vận chuyển bánh xe báu đi xuống cơi người và ngự vào kinh thành của ḿnh.
Đế Thích đưa Mandhànà đến cung điện cơi trời Ba mươi ba, chia một nửa vương quốc dâng vua này. Từ đấy trở đi hai vị cùng trị v́ cơi trời. Thời gian trôi qua như vậy cho đến khi Đế Thích đă sống ba mươi sáu triệu năm rồi mệnh chung và tái sánh cơi người. Theo cách thức này ba mươi sáu vị Đế Thích đă lần lượt mệnh chung. Mandhànà với hội chúng của ḿnh trị v́ cơi trời. Như vậy với thời gian trôi qua, ḷng ái dục của vua càng tăng thịnh. Vua nghĩ: "Một nửa vương quốc có nghĩa ǵ đối với ta. Ta sẽ giết Đế Thích và ngự trị toàn vương quốc". Nhưng vua không thể giết Đế Thích được. Ái dục này là nguồn gốc tai họa của vua. Do vậy, thọ mạng của vua bắt đầu suy giảm. Tuổi già xâm chiếm thân ngài. Nhưng một thân người không có thể tan ră trên cơi trời.
Từ Thiên quốc, vua rơi xuống và đi vào một công viên. Người giữ công viên thấy vua liền báo tin cho hoàng gia. Họ liền đến nơi soạn một chỗ nằm cho ngài trong công viên, và vua nằm xuống trong sự mệt mỏi. Các đ́nh thần hỏi:
- Tâu Thiên tử, khi Thiên tử mệnh chung. Thiên tử sẽ nói lên lời dặn ḍ ǵ?
- Sau khi ta mệnh chung, hăy nói cho quần chúng lời dặn này của ta: Đại vương Mandhàta lên ngôi làm vị chuyển luân vương, trị v́ bốn đại châu lục được vây quanh với hai ngàn ḥn đảo, đă trị v́ cơi trời Bốn Thiên vương trong một thời gian dài bằng tuổi thọ của ba mươi sáu vị Đế thích, nay đang mệnh chung.
Nói vậy xong, vua mệnh chung và đi theo nghiệp của ḿnh.
*
Sau khi kể câu chuyện quá khứ, bậc Đạo Sư đọc những bài kệ này:
Dầu có được bao nhiêu
Mặt trăng và mặt trời
Chiếu sáng khắp mọi phương.
Tất cả là nô lệ.
Của vua Man-dhà-nà,
Cùng tất cả chúng sanh
Sống nương tựa cơi đất,
Đều thuộc quyền Đại vương.
Dầu có mưa tiền vàng,
Vẩn không thỏa ái dục,
Dục ít vị, khổ nhiều,
Bậc trí ư thức vậy.
Ngay cả các thiên dục
Cũng không đem an lạc,
Đệ tử bậc Chánh giác
Chỉ thích ái diệt tận.
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc Đạo sư thuyết giảng các sự thật. Cuối bài giảng ấy, vị Tỷ-kheo thối thất và nhiều vị khác đắc quả Dự lưu.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, Đại vương Mandhànà là Ta vậy.
-ooOoo-

(Contents)

 
 

No. 258 1. MANDHĀTU-JĀTAKA.
"Wherever sun and moon," etc. This story the Master told during a stay at Jetavana, about a backsliding brother.

We are told that this brother, in traversing Sāvatthi for his alms, saw a finely dressed woman and fell in love with her. Then the Brethren led him to the Hall of Truth, and informed the Master that he was a backslider. The Master asked whether it were true; and was answered, yes, it was. [311]

"Brother," said the Master, "when will you ever satisfy this lust, even while you are a householder? Such lust is as deep as the ocean, nothing can satisfy it. In former days there have been supreme monarchs, who attended by their retinue of men held sway over the four great continents encircled by two thousand isles, ruling even in the heaven of the four great kings, even when they were kings of the gods in the Heaven of the Thirty Three, even in the abode of the Thirty Six Sakkas,--even these failed to satisfy their lust, and died before they could do so; when will you be able to satisfy it?" And he told an old-world tale.

_____________________________

Long ago, in the early ages of the world, there lived a king named Mahāsammata, and he had a sun Roja, who had a son Vararoja, who had a son Kalyāṇa, who had a son Varakalyāṇa, and Varakalyāṇa had a son named Uposatha, and Uposatha had a son Mandhātā. Mandhātā was endowed with the Seven Precious Things and the Four Supernatural Powers; and he was a great monarch. When he clenched his left hand, and then touched it with his right, there fell a rain of seven kinds of jewels, knee-deep, as though a celestial rain-cloud had arisen in the sky; so wondrous a man was he. Eighty-four thousand years he was a prince, the same number he took some share in ruling the kingdom, and even so many years he ruled as supreme king; his life lasted for countless ages.

One day, he could not satisfy some desire, so he showed signs of discontent.

"Why are you cast down, my lord?" the courtiers asked him.

"When the power of my merit is considered, what is this kingdom? Which place seems worth desiring?"

"Heaven, my lord."


p. 217

So rolling along the Wheel of Empire, with his suite [312] he went to the heaven of the four great kings. The four kings, with a great throng of gods, came to meet him in state, bearing celestial flowers and perfumes; and having escorted him into their heaven, gave him rule over it. There he reigned in state, and a long time went by. But not there either could he satisfy his craving; and so he began to look sick with discontent.

"Why, mighty king," said the four monarchs, "are you unsatisfied? "And the king replied,

"What place is more lovely than this heaven?"

They answered, "My lord, we are like servants. The Heaven of the Thirty-three is more lovely than this!"

Mandhātā set the Wheel of Empire a-rolling, and with his court all round him turned his face to the Heaven of the Thirty-three. And Sakka, king of the Gods, bearing celestial flowers and perfumes, in the midst of a great throng of gods, came to meet him in state, and taking charge of him showed him the way he should go. At the time when the king was marching amidst the throng of gods, his eldest son took the Wheel of Empire, and descending to the paths of men, came to his own city. Sakka led Mandhātā into the Heaven of the Thirty-three, and gave him the half of his own kingdom. After that the two of them ruled together. Time went on, until Sakka had lived for sixty times an hundred thousand years, and thirty millions of years, then was born on earth again; another Sakka grew up, and he too reigned, and lived his life, and was born on earth. In this way six and thirty Sakkas followed one after another. Still Mandhātā reigned with his crowd of courtiers round him. As time went on, the force of his passion and desire grew stronger and stronger.

"What is half a realm to me?" said he in his heart; "I will kill Sakka, and reign alone!" But kill Sakka he could not. This desire and greed of his was the root of his misfortune. The power of his life began to wane; old age seized upon him; [313] but a human body does not disintegrate in heaven. So from heaven he fell, and descended in a park. The gardener made known his coming to the royal family; they came and appointed him a resting-place in the park; there lay the king in lassitude and weariness. The courtiers asked him,

"My lord, what word shall we take from you?"

"Take from me," quoth he, "this message to the people: Mandhātā, king of kings, having ruled supreme over the four quarters of the globe, with all the two thousand islands round about, for a long time having reigned over the people of the four great kings, having been king of Heaven during the lifetime of six and thirty Sakkas, now lies dead." With these words he died, and went to fare according to his deserts.

_____________________________

p. 218

This tale ended, the Master became perfectly enlightened and uttered the following stanzas:--


"Wherever sun and moon their courses run
All are Mandhātā's servants, every one:
Where'er earth's quarters see the light of day,
There king Mandhātā holds imperial sway.

"Not though a rain of coins fall from the sky 1
Could anything be found to satisfy.
Pain is desire, and sorrow is unrest:
He that knows this is wise, and he is blest.

"Where longing is, there pleasure takes him wings,
Even though desire be set on heavenly things.
Disciples of the Very Buddha try
To crush out all desire eternally."


[314] When the Master had ended this discourse, he declared the Four Truths, and identified the Birth:--at the conclusion of the Truths the back-sliding Brother and many others attained to the Fruit of the First Path:--"At that time, I was the great king Mandhātā."



--------------------------------------------------------------------------------

Footnotes
216:1 See Divyāvadāna, p. 210; Thibetan Tales, p. 1-20, King Māndhātar. This king is named as one of the four persons who have attained in their earthly bodies to glory in the city of the gods; Milinda, iv. 8. 25 (ii. p. 145 in the trans., S. B. E.).

218:1 See Dhammapada, verses 186 and 187, which are the last two of these stanzas.

 

262. CHUYỆN BÀN TAY MỀM MẠI (Tiền thân Mudupàni)

Một bàn tay mềm mại...,

Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn. Khi Tỷ-kheo ấy được đưa đến Chánh pháp đường, bậc Đạo Sư hỏi:

- Có thật chăng ông thối thất tinh tấn?

Vị ấy trả lời:

- Có thật vậy.

Bậc Đạo Sư nói:

- Này Tỷ-kheo, không thể nào canh giữ nữ nhân khỏi chạy theo dục vọng của chúng. Ngay cả các bậc hiền trí thuở xưa cũng không thể canh giữ các con gái của họ. Dầu chúng đứng nắm tay cha, chúng vẫn chạy trốn theo người t́nh mà cha chúng không biết!

Rồi bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ xứ Ba-la-nại, Bồ-tát tái sanh ra làm con hoàng hậu chánh cung. Đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát học các tài nghệ ở Takkasilà, và khi phụ vương mệch chung, ngài được đặt lên vương vị và trị nước đúng pháp.

Bồ-tát nuôi dưỡng con gái ḿnh và con trai của người chị trong nội cung. Một hôm, vua nói với đ́nh thần:

- Sau khi trẫm qua đời, cháu trai trẫm sẽ làm vua và con gái trẫm sẽ làm hoàng hậu chánh cung.

Sau một thời gian, khi cả hai đều khôn lớn, Bồ-tát ngồi nói với các đ́nh thần:

- Trẫm sẽ đem về một công chúa khác cho cháu trai và sẽ gả con gái trẫm cho một hoàng gia khác. Như vậy chúng ta sẽ có nhiều bà con.

Các đ́nh thần đều đồng ư.

Bồ-tát gởi cháu trai ra ở ngoài và ngăn cấm chàng ra vào nội cung. Nhưng cả hai người ấy đă thương yêu nhau. Chàng trai nghĩ: "Không biết có phương tiện ǵ đem công chúa ra ngoài? À có phương tiện này". Chàng trai đem cho bà vú một món quà, bà vú hỏi:

- Thưa hoàng tử, cần phải làm ǵ?

Hoàng tử đáp:

- Này vú, làm thế nào để chúng tôi có cơ hội đưa nàng ra ngoài?

- Lành thay, thưa hoàng tử. Để tôi nói với công chúa rồi sẽ cho hoàng tử biết sau.

- Lành thay, thưa vú.

Rồi vú đi đến công chúa và nói:

- Hăy để tôi bắt những con chấy trên đầu công chúa.

Rồi bà đặt công chúa ngồi xuống một chiếc ghế thấp, và bà ngồi xuống một chiếc ghế cao hơn và kê đầu công chúa trên bắp vế của ḿnh. Trong khi bắt chấy, bà lấy móng tay găi đầu công chúa. Công chúa hiểu: "Người này không găi với móng tay của ḿnh mà găi với móng tay của hoàng tử, con trai của cô ta." V́ vậy, công chúa hỏi:

- Này vú, vú có đi đến gặp hoàng tử không?

- Thưa công chúa, có!

- Hoàng tử đă nói ǵ với vú?

- Thưa công chúa, hoàng tử hỏi có phương tiện ǵ để đưa công chúa ra ngoài.

Công chúa nói:

- Nếu hoàng tử là người hiền trí, hoàng tử sẽ biết.

Rồi công chúa đọc lên bài kệ đầu. Đọc xong, nàng nói:

- Này vú, hăy học thuộc bài kệ này và nói lại cho hoàng tử:

Một bàn tay mềm mại,
Con voi khéo huấn luyện,
Và đêm tối trời mưa,
Ấy là thời thích hợp.
Bà vú học thuộc ḷng bài kệ ấy rồi đi đến hoàng tử. Chàng hỏi:
- Này vú, công chúa nói ǵ?

Bà đáp:

- Không nói ǵ khác, chỉ gửi bài kệ này. Và bà vú đọc bài kệ. Chàng hiểu ư bài kệ liền nói với bà vú:

- Thôi vú hăy về đi.

Hoàng tử biết đúng đắn ư nghĩa bài kệ này, liền t́m một người hầu trẻ đẹp trai, có bàn tay mềm mại, và chuẩn bị công việc. Chàng lại hối lộ người nài giữ vương tượng huấn luyện con voi ấy trở thành b́nh thản, rồi hoàng tử ngồi chờ đợi thời cơ đến.

Đến ngày trai giới Bồ-tát thuộc phần đêm tối trời, ngay sau canh giữa, mưa rơi xuống từ một đám mây đen dày đặc. Hoàng tử nghĩ: "Đây là ngày công chúa muốn nói", rồi chàng leo lên con voi, đặt người hầu trẻ có bàn tay mềm mại ấy ngồi trên lưng voi và ra đi. Ở phía đối diện cung vua, hoàng tử cho cột con voi vào bức tường lớn của cái sân chầu rộng, rồi chàng đứng ở cửa sổ với thân bị ướt đẫm nước mưa.

Bấy giờ vua canh giữ công chúa, không cho phép nàng ngủ chỗ nào khác, trừ một chiếc giường nhỏ gần vua. Công chúa nghĩ: "Hôm nay hoàng tử sẽ đến", v́ vậy, nàng nằm xuống nhưng không ngủ. Rồi công chúa nói:

- Thưa cha thân, con muốn tắm!

Vua nói:

- Hăy đi, này con thân.

Vua nắm tay công chúa, dắt đến gần cửa sổ, và nói:

- Hăy tắm đi con!

Rồi vua bồng công chúa lên, đặt công chúa trên bể đá h́nh hoa sen ở ngoài cửa sổ, và nắm một tay công chúa.

Trong khi đang tắm, công chúa đưa tay cho hoàng tử. Hoàng tử cởi các chiếc ṿng từ tay công chúa đeo vào tay người hầu trẻ, rồi bồng chàng trai trẻ ấy lên, đặt anh ta trên chỗ tượng hoa sen bên cạnh công chúa. Nàng nắm tay người hầu trẻ ấy và đặt nó vào tay của phụ vương. Vua nắm tay anh ta và thả tay kia của ḿnh và đeo chúng vào tay kia của người hầu trẻ, rồi đặt bàn tay ấy vào tay phụ vương và đi theo hoàng tử.

Nhà vua cứ tưởng rằng người hầu trẻ ấy là con gái ḿnh! Và khi tắm xong, vua cho anh ta nằm trên long sàng, đóng cửa và niêm lại, sau đó đặt một người canh rồi vua đi ngủ.

Vào sáng hôm sau, vua mở cửa thấy cậu trai trẻ liền hỏi:

- Sao lại thế này?

Cậu liền kể cách đi trốn của công chúa với hoàng tử! Vua rất thất vọng suy nghĩ:"Dầu ta có nắm tay, cũng không thể canh giữ nữ nhân khỏi trốn được. Như vậy, không ai có thể canh giữ nỗi đàn bà".

Rồi vua đọc bài kệ khác.

Dầu lời nói dịu dàng
Chúng không hề biết đủ,
Chúng ch́m, ch́m sâu xuống,
Rất khó lam đầy tràn,
Đàn ông hăy lánh xa,
Chạy trốn chúng thật xa!
Nếu chúng phục vụ ai,
V́ dục hay tiền tài,
Chúng thiêu sạch người ấy,
Như chất đốt trong lửa.
Nói vậy xong, Bồ-tát thêm:
- Ta phải nâng đỡ cháu trai ta.

Rồi vua làm lễ gả công chúa cho hoàng tử thật long trọng vinh hiển và đặt hoàng tử lên chức phó vương. Khi người cậu tức vua cha mạng chung, chàng lên kế vị.

*

Khi bậc Đạo sư kể Pháp thoại này. Ngài thuyết giảng các sự thật. Cuối bài giảng ấy, vị Tỷ-kheo thối thất đă đắc quả Dự lưu. Và Ngài nhận diện tiền thân:

- Lúc bấy giờ, nhà vua là Ta vậy.

-ooOoo-
No. 262. MUDU-PĀṆI-JĀTAKA.
"A soft hand," etc. This story the Master told at Jetavana, about a back-sliding Brother. They brought him to the Hall of Truth, and the Master asked him if he were really a backslider? He replied, yes, he was. Then said the Master, "O Brethren! It is impossible to keep women from going after their desires. In olden days, even wise men could not guard their own daughters; while they stood holding their fathers' hand, without their fathers' knowing, they went away wrong-doing with a paramour"; and he told them an old-world tale.

_____________________________

Once upon a time, while king Brahmadatta reigned in Benares, the Bodhisatta was horn as the son of his Queen Consort. Growing up, he was educated at Takkasilā, and on his father's death he became king in his stead, and reigned righteously.

There dwelt with him a daughter and a nephew, both together in his house. One day as he sat with his court, he said,

"When I am dead my nephew will be king, [324] and my daughter will be his chief queen."

Afterwards, when they were grown up, he was sitting again amidst his court; and he said to them,

"I will bring home some other man's daughter for my nephew, and my own daughter will I marry into another king's family. In this way I shall have many relations." The courtiers agreed. Then the king assigned to the nephew a house outside the palace, and forbade his coming to the palace.

p. 225

But these two were in love with each other. Thought the youth, "How shall I get the king's daughter outside the house?--Ah, I have it." He gave a present to the nurse.

"What am I to do for this, master?" she asked.

"Well, mother, I want to get a chance of bringing the princess out of doors."

"I will talk it over with the princess," said she, "and then tell you." "Very good, mother," he replied.

To the princess she came. "Let me pick the insects out of your head," said she.

She sat the princess upon a low stool, and herself sitting on a higher one, she put the princess's head upon her lap, and in looking for the insects, she scratched the princess's head. The princess understood. She thought, "She has scratched me with my cousin the prince's nail, not her own.--Mother," asked she, "have you been with the prince?"

"Yes, my daughter."

"And what did he say?"

"He asked how he could find a way of getting you out of doors."

"If he is wise, he will know," said the princess; and she recited the first stanza, bidding the old woman learn it and repeat it to the prince:--


"A soft hand, and a well-trained elephant,
And a black rain-cloud, gives you what you want."

The woman learnt it, and returned to the prince.

"Well, mother, what did the princess say?" he asked.

"Nothing, [325] but only sent you this stanza," replied she; and she repeated it. The prince took it in, and dismissed her.

The prince understood exactly what was meant. He found a beautiful and soft-handed page lad, and prepared him. He bribed the keeper of a state elephant, and having trained the elephant to be impassive, he bided his time. Then, one fast-day of the dark fortnight, just after the middle watch, rain fell from a thick black cloud. "This is the day the princess meant," thought he; he mounted the elephant, and placed the lad of the soft hands on its back, and set out. Opposite the palace he fastened the elephant to the great wall of an open courtyard, and stood before a window getting drenched.

Now the king watched his daughter, and let her rest nowhere but upon a little bed, in his presence. She thought to herself, "To-day the prince will come!" and lay down without going to sleep.

"Father," said she, "I want to bathe."

"Come along, my daughter," said the king. Holding her hands, he led her to the window; he lifted her, and placed her on a lotus ornament outside it, holding her by one hand. As she bathed herself, she held out a

p. 226

hand to the prince. He loosed off the bangles from her arm, and fastened them on the arm of his page boy; then he lifted the lad, and placed him upon the lotus beside the princess. [326] She took his hand, and placed it in her father's, who took it, and let go his daughter's hand. Then she loosed the ornaments from her other arm, and fastened them on the other hand of the lad, which she placed in her father's, and went away with the prince. The king thought the lad to be his own daughter; and when the bathing was over, he put him to sleep in the royal bedchamber, shut to the door, and set his seal on it; then setting a guard, he retired to his own chamber, and lay down to rest.

When the daylight came, he opened the door, and there he saw this lad. "What's this?" cried he. The lad told how she was fled along with the prince. The king was cast down. "Not even if one goes along and holds hands," thought the king, "can one guard a woman. Thus women it is impossible to guard;" and he uttered these other two stanzas:--


"Though soft of speech, like rivers hard to fill,
Insatiate, nought can satisfy their will:
Down, down they sink: a man should flee afar
From women, when he knows what kind they are.
Whomso they serve for gold or for desire,
They burn him up like fuel in the fire 1."

[327] So saying, the great Being added, "I must support my nephew;" so with great honour he gave his daughter to this very man, and made him viceroy. And the nephew at his uncle's death became king himself.

_____________________________

When the Master had ended this discourse, he declared the Truths and identified the Birth:--at the conclusion of the Truths, the backsliding Brother was firmly established in the Fruit of the First Path: "In those days, I was the king."



--------------------------------------------------------------------------------

Footnotes
226:1 The following verses are given by the commentator:


"'Where women rule, the seeing lose their sight,
The strong grow weak, the mighty have no might.
Where women rule, virtue and wisdom fly:
Reckless the prisoners in durance lie.
Like highway robbers, all they steal away
From their poor victims, careless come what may--
Reflection, virtue, truth, and reasoning
Self-sacrifice, and goodness--everything.
As fire burns fuel, for each careless wight
They burn fame, glory, learning, wit, and might."

The word for fire is the archaic jātaveda, used already in no. 35. See note in vol. i. p. 90.

 
263. CHUYỆN TIỂU DỤC THAM (Tiền thân Culla-Palobhana)

Không phải rẽ nước biển...,

Câu chuyện này khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn. Khi Tỷ-kheo ấy được đưa đến Chánh pháp đường, bậc Đạo Sư hỏi:

- Có thật chăng ông thối thất tinh tấn?

Vị ấy trả lời:

- Sự thật là vậy.

Bậc Đạo sư nói:

Các nữ nhân làm uế nhiệm ngay cả các bậc thanh tịnh thuở xưa.

Rồi Ngài kể chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ xứ Ba-la-nại, vua không có con trai. Vua nói với các cung phi của ḿnh:

- Hăy cầu nguyện để sanh con trai.

Và họ liền cầu tự.

Như vậy một thời gian dài trôi qua, Bồ-tát từ Phạm thiện giới đi xuống và nhập thai của của bà hoàng tử chánh cung. Vừa sanh xong, sau khi tắm, Bồ-tát được đưa cho một người vú khác. Khi chạm tay nữ nhân, Bồ-tát lại khóc, không giữ im lặng. Rồi Bồ-tát được đưa cho một người hầu đàn ông. Vừa được người đàn ông ấy bồng hài nhi liền im lặng.

Từ đấy trở đi, chỉ những người đàn ông ẵm hài nhi qua lại. Khi bú sữa, họ nặn sữa rồi cho Bồ-tát uống, hay đặt một cái màn giữa hài nhi và bà vú. Sau một thời gian, Bồ-tát lớn lên, nhưng vẫn không thể nh́n nữ nhân. Vua cha làm cho Bồ-tát một chỗ ngồi riêng biệt và một thiền thất riêng biệt.

Khi Bồ-tát lên mười sáu tuổi, vua suy nghĩ: "Ta không có một con trai nào khác. C̣n đứa con trai này lại không hưởng thụ các dục, không muốn cai trị vương quốc. Thật sự ta có đứa con trai như vậy để làm ǵ?"

Bấy giờ, một kỹ nữ giỏi về múa, hát và nhạc, trẻ tuổi, có khả năng quyến rũ những người đàn ông mà nàng gần gũi. Nàng đến hầu vua và thưa:

- Tâu Thiên tử, ngài đang nghĩ vậy?

Vua kể lại sự việc ấy. Nàng kỹ nữ thưa:

- Tâu thiên tử, hăy yên tâm! Thiếp sẽ quyến rũ hoàng tử và làm cho hoàng tử nếm hương vị của ái t́nh.

- Nếu Nàng có thể quyến rũ con ta, một hoàng tử không hề biết đến hương vị đàn bà, th́ khi con ta làm vua, nàng sẽ làm hoàng hậu!

Nàng kỹ nữ ấy nói:

- Tâu Thiên tử, trách nhiệm ấy là của thiếp. Thiên tử chớ lo lắng!

Nói xong, nàng kỹ nữ đi đến những người đàn ông canh gác và nói:

- Sáng sớm tôi sẽ đến đứng ở ngoài thiền thất gần pḥng hoàng tử nằm và tôi sẽ hát! Nếu hoàng tử tức giận, hăy nói cho tôi biết, tôi sẽ bỏ đi. Nhưng nếu hoàng tử lắng nghe th́ hăy khen ngợi tôi.

Họ bằng ḷng.

Sáng hôm sau, nàng đến đứng tại chỗ ấy và cất tiếng hát với giọng ngọt lịm. Rồi tiếng đàn êm dịu trổi lên không kém ǵ tiếng hát ngọt ngào cũng kém ǵ tiếng đàn êm dịu. Hoàng tử nằm lắng nghe. Ngày kế đó hoàng tử bảo kỹ nữ ấy đứng gần và hát; ngày kế nữa, chàng bảo nàng đứng trong thiền thất vá hát. Ngày kế nữa, chàng bảo nàng đứng gần ḿnh và hát. Như vậy, dần dần dục vọng khởi lên trong ḷng hoàng tử và hoàng tử đi theo thói thường của người đời, biết được hương vị của ái t́nh, đến độ hoàng tử cầm gươm và dọa:

- Ta không cho phép một ai khác thấy nữ nhân này!

Hoàng tử chạy ra ngoài đường, đuổi theo các người đàn ông. Vua truyền bắt hoàng tử và thiếu nữ kia rồi đuổi họ ra khỏi thành.

Hai người đi vào rừng, xuống hạ lưu sông Hằng. Tại đó một bên là sông Hằng, một bên là biển, họ dựng lên am thất sống với nhau. Thiếu nữ ngồi trong cḥi lá nấu các củ và rau. C̣n Bồ-tát mang củ quả từ rừng về.

Một hôm, trong khi Bồ-tát đi t́m quả trong rừng, một ẩn sĩ khổ hạnh từ một đảo trên biển đi ngang qua hư không để t́m đồ ăn khất thực, thấy khói, liền hạ xuống trước am thất. Thiếu nữ ấy nói:

- Hăy ngồi chờ cho đến khi nấu xong.

Nàng mời vị khổ hạnh ấy ngồi xuống, và lấy vẻ duyên dáng của phụ nữ quyến rũ vị ấy, làm vị ấy không thể thiền định và mất Phạm hạnh. Vị tu khổ hạnh ấy giống như con quạ gẫy cánh không thể từ bỏ nàng, trọn ngày đứng tại đấy. khi thấy Bồ-tát đi về, vị ấy liền chạy ra hướng biển thật mau. Bồ-tát nghĩ: "Đây chắc là một kẻ thù", liền rút kiếm đuổi theo, c̣n vị tu khổ hạnh làm cử chỉ như muốn hay, liền rơi xuống biển. Bồ-tát suy nghĩ: "Vị khổ hạnh này có lẽ đă đến đây ngang qua hư không, nay vị thối thất thiền định nên rơi xuống biển. Ta phải cứu vị ấy!" V́ vậy, vừa đứng trên bờ biển, Bồ-tát đọc những bài kệ này:

Không phải rẽ nước biển,
Nhưng với thần thông lực
Ngài du hành qua đây
Vào buổi mai thật sớm,
Liên hệ ác nữ thần,
Ngài phải ch́m xuống biển.
Làm mọi người thối thất,
Đầy mê hoặc huyễn ảo,
Quyến rũ người thanh tịnh
Khiến họ ch́m dần xuống.
Kẻ trí biết nữ thần,
Nên xa lánh, từ bỏ.
Nữ nhân phục vụ ai
V́ dục hay tiền tài,
chúng đốt sạch người ấy
Như lửa thiên hủy củi!

Nghe lời Bồ-tát nói vậy, vị tu khổ hạnh đứng giữa biển làm phát khởi thiền lực đă mất, và bay lên hư không, rồi đi về trú xứ của ḿnh. Bồ-tát suy nghĩ: "Vị tu khổ hạnh này với gánh nặng như vậy, đă bay lên hư không như một nhúm bông. Ta cũng phải là phát khởi thiền lực như vị ấy để có thể bay lên hư không".
V́ vậy, Bồ-tát về am dẫn nữ nhân ấy trở lại với quần chúng rồi bảo nữ nhân ấy ra đi, c̣n ḿnh lui vào rừng, dựng am thất tại một nơi xinh tốt, và làm vị ẩn sĩ. Ngài chọn đề tài thiền định, rồi đạt các Thắng trí và các Thiền Chứng, vê sau được sanh lên Thiên giới.

*

Sau khi kể Pháp thoại này, bậc Đạo Sư giảng các Sự thật. Cuối bài giảng ấy, vị Tỷ-kheo thối thất đă đắc quả Dự Lưu. Và Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy, hoàng tử không hề liên hệ với nữ thần là Ta vậy.

-ooOoo-
 
No. 263. CULLA-PALOBHANA-JĀTAKA.


[328] "Not through the sea," etc. This story the Master told at Jetavana, also about a backsliding Brother. The Master had him brought into the Hall of Truth, and asked if it were true that he was a backslider. Yes, said he, it was. "Women," said the Master, "in olden days made even believing souls to sin." Then he told a story.

_____________________________

Once on a time Brahmadatta, the king of Benares, was childless. He said to his queen, "Let us offer prayer for a son." They offered prayer. After a long time, the Bodhisatta came down from the world of Brahma, and was conceived by this queen. So soon as he was born, he was bathed, and given to a serving woman to nurse. As he took the breast, he cried. He was given to another; but while a woman held him, he would not be quiet. So he was given to a man servant; and as soon as the man took him, he was quiet. After that men used to carry him about. When they suckled him, they would milk the breast for him, or they gave him the breast from behind a screen. Even when he grew older, they could not show him a woman. The king caused to be made for him a separate place for sitting or what not, and a separate room for meditation, all by himself.

When the lad was sixteen years old, the king thought thus within himself. "Other son have I none, and this one enjoys no pleasures. He will not even wish for the kingdom. What's the good of such a son?"

And there was a certain dancing girl, clever at dance and song and music, young, able to gain ascendancy over any man she came across. She approached the king, and asked what he was thinking about; the king told her what it was. [329]

"Let be, my lord," said she: "I will allure him, I will make him love me."

"Well, if you can allure my son, who has never had any dealings whatsoever with women, he shall be king, and you shall be his chief queen!"

"Leave that to me, my lord," said she; "and don't be anxious." So she came to the people of the guard, and said, "At dawn of day I will go to the sleeping place of the prince, and outside the room where he meditates apart I will sing. If he is angry, you must tell me, and I will go away; but if he listens, speak my praises." This they agreed to do.

p. 228

So in the morning time she took her stand in that place, and sang with a voice of honey, so that the music was as sweet as the song, and the song as sweet as the music. The prince lay listening. Next day, he commanded that she should stand near and sing. The next day, he commanded her to stand in the private chamber, and the next, in his own presence; and so by and bye desire arose in him; he went the way of the world, and knew the joy of love. "I will not let another have this woman," he resolved; and taking his sword, he ran amuck through the street, chasing the people. The king had him captured, and banished him from the city along with the girl.

Together they journeyed to the jungle, away down the Ganges. There, with the river on one side and the sea on the other, they made a hut, and there they lived. She sat indoors, and cooked the roots and bulbs; the Bodhisatta brought wild fruits from the forest.

One day, when he was away in search of fruits, a hermit from an island in the sea, who was going his rounds to get food, saw smoke as he passed through the air, and alighted beside this hut.

"Sit down until it is cooked," said the woman; then her woman's charms seduced his soul, and brought it down from his mystic trance, making a breach in his purity. And he, like a crow with broken wing, [330] unable to leave her, sat there the whole day till he saw the Bodhisatta coming, and then ran off quickly in the direction of the sea. "This must be an enemy," thought he, and drawing his sword set off in chase.

But the ascetic, making as though he would rise in the air. fell down into the sea. Then thought the Bodhisatta,

"Yon man is doubtless an ascetic who came hither through the air; and now that his trance is broken, he has fallen into the sea. I must go help him." And standing on the shore he uttered these verses:


"Not through the sea, but by your magic power,
You journeyed hither at an earlier hour;
Now by a woman's evil company
You have been made to plunge beneath the sea.

"Full of seductive wiles, deceitful all,
They tempt the most pure-hearted to his fall.
Down--down they sink: a man should flee afar
From women, when he knows what kind they are.

"Whomso they serve, for gold or for desire,
They burn him up like fuel in the fire 1."



p. 229

When the ascetic heard these words which the Bodhisatta spake, he stood up in the midst of the sea, and resuming his interrupted trance, he rose through the air, and went away to his dwelling place. Thought the Bodhisatta, "Yon ascetic, with so great a burden, goes through the air like a fleck of cotton. [331] Why should not I like him cultivate the trance, and pass through the air!" So he returned to his hut, and led the woman among mankind again; then he told her to be gone, and himself went into the jungle, where he built him a hut in a pleasant spot, and became an ascetic; he prepared for the mystic trance, cultivated the Faculties and the Attainments, and became destined for the world of Brahma.

_____________________________

When this discourse was ended, the Master declared the Truths: (now at the conclusion of the Truths the backsliding Brother became established in the Fruit of the First Path:) "At that time," said he, "I was myself the youth that had never had anything to do with women."


--------------------------------------------------------------------------------

Footnotes
228:1 The Scholiast gives the following lines in his note:


Hallucination, sorrow, and disease,
Mirage, distress (and solid bonds are these),
The snare of death, deep-seated in the mind--
Who trusts in these is vilest of his kind.

 

266. Chuyện Con Ngựa Quí Tốc Như Phong (Tiền thân Vàtagga-Sindhava)

Mẹ chàng v́ ốm o vàng vọt..,

Chuyện này do bậc Đạo Sư kể tại Kỳ Viên, về một người chủ đất.

Tại Xá-vệ, người ta nghe nói một phụ nữ xinh đẹp thấy chàng này cũng đẹp trai liền đem ḷng yêu. Nỗi say mê bừng lên như một ngọn lửa đốt cháy khắp thân thể nàng. Nàng mất hết tri giác, cả thân lẫn tâm, nàng chẳng thiết ǵ ăn uống, chỉ nằm rũ liệt trên giường.

Các bạn bè và tỳ nữ hỏi v́ sao nàng lại phải rối loạn tâm can đến nỗi phải nằm rũ liệt trên giường thế kia. Họ muốn biết nguyên nhân v́ sao như vậy. Ban đầu, nàng không chịu trả lời nhưng v́ họ cứ thúc ép măi, nàng đành phải thú thật sự việc.

- Chị đừng buồn, chúng tôi sẽ mang chàng lại cho chị!

Họ bảo như vậy, rồi họ đến nói chuyện với người đàn ông kia. Lúc đầu chàng từ chối nhưng rồi họ cứ năn nỉ măi nên cuối cùng chàng chấp thuận. Thế là họ được chàng hứa sẽ đến với nàng kia vào ngày, giờ đă định. Họ liền thuật lại cho nàng nghe.

Nàng sửa soạn pḥng ốc, mặc quần áo thật đẹp rồi ngồi trên giường chờ chàng đến. Chàng ngồi xuống bên cạnh nàng, bấy giờ nàng bỗng suy nghĩ: "Nếu ta chấp thuận lời chàng tán tỉnh ngay lập tức và tự hạ giá ḿnh th́ ḷng tự trọng cao của ta sẽ bị dẹp bỏ. Ngày buổi đầu tiên mà để chàng làm theo ư chàng th́ thật là không thích hợp. Thôi hôm nay ḿnh cứ làm vẻ khó tính rồi sau này sẽ nhượng bộ".

Thế là ngay khi chàng mới chạm vào nàng bắt đầu tỏ vẻ âu yếm suồng să, nàng liền chụp lấy tay chàng và nghiêm nghị trách cứ chàng, bảo chàng đi ra, v́ nàng không thích chàng. Chàng giận dữ rút lui và ra khỏi nhà.

Khi các phụ nữ kia biết được sự việc nàng đă làm và thấy rằng người đàn ông kia đă ra đi, th́ họ trách nàng:

- Này chị, chị đă yêu người ta đến nỗi phải nằm liệt giường, chẳng thiết ǵ ăn uống, và chúng tôi cũng đă phải khó khăn lắm mới thuyết phục được chàng để cuối cùng mang chàng đến với chị, thế mà chị chẳng có ǵ để nói với chàng cả!

Nàng nói cho họ biết tại sao, họ liền bỏ đi và cảnh cáo rằng nàng sẽ bị người ta bàn tán.

Người đàn ông kia chẳng bao giờ đến với nàng nữa. Khi nàng nhận ra rằng nàng đă mất chàng, nàng bỏ cả ăn mà chết. Khi người đàn ông kia được tin nàng chết, chàng mang một bó hoa dầu thơm, hương liệu đến Kỳ Viên. Tại đó, chàng đảnh lễ bậc Đạo Sư rồi ngồi xuống bên Ngài.

Bậc Đạo Sư hỏi:

- Này cư sĩ, làm sao mà chúng ta chẳng hề thấy ông đến đây vậy?

Chàng kể lại cho Ngài nghe toàn bộ câu chuyện và thêm rằng lâu nay chàng tránh đến hầu đức Phật v́ chàng hổ thẹn. Bậc Đạo Sư dạy:

- Này cư sĩ, người phụ nữ kia cho mời ông đến là do ḷng say mê của nàng, thế rồi nàng chẳng muốn liên hệ ǵ với ông cả, lại xua đuổi ông đi khiến ông tức giận, và cũng đúng như thế, xưa kia nàng cũng đă yêu thương nhiều bậc trí giả, kêu gọi họ đến và khi họ đến th́ lại chẳng muốn liên hệ ǵ với họ, cứ làm phiền nhiễu họ như vậy rồi xua đuổi họ đi.

Thế rồi do yêu cầu của vị ấy, bậc Đạo Sư kể câu chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi Brakmadatta là vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là một con ngựa Sindh. Nó được đặt tên là Tốc-như-phong (nhanh như gió) và là con ngựa nghi lễ của vua.

Những người nài thường đem nó đi tắm ở sông Hằng. Nơi đây, một con lừa cái trông thấy nó liền đem ḷng yêu nó. Rung động v́ nỗi say mê, con lừa cái bỏ cả ăn uống, hao ṃn tiều tụy, gầy ốm đến độ chỉ c̣n xương với da. Một trong những con lừa con của nó thấy mẹ tiều tụy như thế liền hỏi:

- Thưa mẹ, sao mẹ chẳng ăn uống ǵ cả, sao mẹ lại quá tiều tụy và nằm run rẩy một nơi thế kia? Có chuyện ǵ thế hở mẹ?

Con lừa cái chẳng nói ǵ, nhưng con nó cứ hỏi đi hỏi lại măi, nó mới kể hết chuyện cho con nghe. Thế rồi con lừa con an ủi mẹ:

- Thưa mẹ, mẹ chớ sầu bi, con sẽ mang chú ngựa ấy đến cho mẹ.

Thế rồi khi ngựa quư Tốc-như-phong xuống tắm, chú lừa con đến gần nó và nói:

- Thưa ngài, mẹ tôi yêu ngài: bà chẳng ăn uống ǵ cả và đang hao ṃn sắp chết. Xin hăy cứu sống mẹ tôi!

- Được rồi, này bạn, tôi sẽ cứu mẹ bạn. Tốc-như-phong bảo. Khi tôi tắm xong, các anh nài sẽ để tôi thao dượt một chốc bên bờ sông, bạn hăy mang mẹ bạn đến đấy.

Chú lừa con đi kiếm mẹ và đưa mẹ đến nơi ấy, rồi chú núp gần đó.

Người nài để Tốc-như-phong duỗi chân chạy. Nó ḍ t́m con lừa cái và đến với con kia.

Tốc-như-phong đến gần nó và bắt đầu đưa mũi ngửi. Con lừa cái tự nghĩ: "Nếu ta tự hạ ḿnh và cứ để cho chàng làm theo ư chàng trong lúc chàng vừa mới đến, th́ danh dự và ḷng tự cao của ta sẽ tiêu tan. Ta phải làm như thể ḿnh không muốn sự việc chàng làm". V́ thế, nó đă làm vỡ hàm Tốc-như-phong và suưt giết chết chàng ngựa! "Nàng làm ǵ ta thế?". Tốc-như-phong tự nghĩ, cảm thấy xấu hổ rồi bỏ chạy đi.

Thế rồi con lừa cái hối hận, nằm vật ra đầy đau khổ. Chú lừa con đến gần và hỏi mẹ như sau:

Mẹ v́ chàng ốm o vàng vọt,
Mẹ v́ chàng chẳng chút uống ăn.
Ngựa yêu kia mới đến gần,
Cớ sao mẹ bỗng đâm sầm phóng đi?

Nghe con bảo thế, con lừa đọc bài kệ thứ hai:

Chàng kia đến một khi kề sát,
Nếu ban đầu nhường bước tức thời,
Tiêu ma giá ngọc cao vời,
Cho nên mẹ phải vội dời chân ngay!

Qua những lời này, con lừa giải thích bản tính đàn bà cho con trai hiểu.

Bậc Đạo Sư với Tuệ giác Toàn hảo, đọc bài kệ thứ ba:

Nếu từ chối chàng trai sang trọng
Đến bên nàng mong ngóng yêu đương,
Nàng đành dằng dặc sầu thương,
Như Công-đa-lợi đau buồn Như phong!

*

Khi kể xong Pháp thoại này, bậc Đạo Sư tuyên thuyết Tứ Đế. Cuối bài giảng Tứ Đế, người chủ đất kia đắc quả Dự Lưu.

Và Ngài nhận diện Tiền thân:

- Người phụ nữ thời ấy là con lừa cái, c̣n Ta là con ngựa quư Tốc-như-phong.

-ooOoo-

(Contents)

No. 266. VĀTAGGA-SINDHAVA-JĀTAKA.
"He for whose sake," etc.--This story the Master told at Jetavana, about a certain land-owner.

At Sāvatthi, we learn, a handsome woman saw this man, who was also handsome, and fell in love. The passion within her was like a fire burning her body through and through. She lost her senses, both of body and of mind; she cared nothing for food; she only lay down hugging the frame of the bedstead.

Her friends and handmaidens asked her what troubled her at heart that she lay hugging the bedstead; what was the matter, they wished to know. The first few times she answered nothing; but as they continued pressing her, she told them what it was.

"Don't worry," said they, "we'll bring him to you;" and they went and had a talk with the man. At first he refused, but by their much asking he at last consented. They got his promise to come at a certain hour on a fixed day, and told the woman.

She prepared her chamber, and dressed herself in her finery, and sat on the bed waiting until he came. He sat down beside her. Then a thought came into her mind. [338] "If I accept his addresses at once, and make myself cheap, my pride will be humbled. To let him have his will the very first day he comes would be out of place. I will be capricious to-day, and afterwards I will give way." So no sooner had he touched her, and begun to dally, she caught his hands, and spoke roughly to him, bidding him go away, as she did not want him. He shrank back angrily, and went off home.

When the women found out what she had done, and that the man had gone off, they reproached her. "Here you are," they said, "in love with somebody, and lie down refusing to take nourishment; we had great difficulty in persuading the man, but at last we bring him; and then you'll have nothing to say to him!" She told them why it was, and they went off; warning her that she would get talked about.

The man never even came to look at her again. When she found she had lost him, she would take no nourishment, and soon died. When the man heard of her death, he took a quantity of flowers, scents, and perfumes, and went to Jetavana, where he saluted the Master and sat on one side.

The Master asked him, "How is it, lay brother, that we never see you here?" He told him the whole story, adding that he had avoided waiting on the Buddha all this time for shame. Said the Master, "Layman, on this occasion the woman sent for you through her passion, and then would have nothing to do with you and sent you away angry; and just so in olden days, she fell in love with wise persons, sent for them, and when they came refused to have anything to do with them, and thus plagued them and sent them to the right-about." Then at his request the Master told an old-world tale.

_____________________________

Once upon a time, when Brahmadatta was king of Benares, the Bodhisatta was a Sindh horse, and they called him Swift-as-the-Wind; and he was the king's horse of ceremony. The grooms used to take him to bathe in the Ganges. There a certain she-ass saw him, and fell in love.

p. 234

[paragraph continues] Trembling with passion, [339] she neither ate grass nor drank water; but pined away and became thin, until she was nothing but skin and bone. Then a foal of hers, seeing her pining away, said, "Why do you eat no grass, mother, and drink no water; and why do you pine away, and lie trembling in this place or that? What is the matter?" She would not say; but after he had asked again and again, she told him the matter. Then her foal comforted her, saying,

"Mother, do not be troubled; I will bring him to you."

So when Swift-as-the-Wind went down to bathe, the foal said, approaching him,

"Sir, my mother is in love with you: she takes no food, and she is pining away to death. Give her life!"

"Good, my lad, I will," said the horse. "When my bath is over, the grooms let me go awhile to exercise on the river bank. Do you bring your mother to that place."

So the foal fetched his mother, and turned her loose in the place; then he hid himself hard by.

The groom let Swift-as-the-Wind go for a run; he spied the she-ass, and came up to her.

Now when the horse came up and began to sniff at her, thought the ass to herself, "If I make myself cheap, and let him have his way as soon as he has come here, my honour and pride will perish. I must make as though I did not wish it." So she gave him a kick on the lower jaw, and scampered away. It broke his jaw, and half killed him. "What does she matter to me?" thought Swift-as-the-Wind; [340] he felt ashamed and made off.

Then the ass repented, and lay down on the spot in grief. And her son the foal came up, and asked her a question in the following lines:


"He for whose sake you thin and yellow grew,
And would not eat a bite,
That dear beloved one is come to you;
Why do you take to flight?"

Hearing her son's voice, the ass repeated the second verse:


"If at the very first, when by her side
He stands, without delay
A woman yields, all humbled is her pride:
Therefore I ran away."

In these words she explained the feminine nature to her son.

_____________________________

p. 235

The Master, in his perfect wisdom, repeated the third stanza:


"If she refuse a suitor nobly born
Who by her side would stay,
As Kundalī mourned Windswift, she must mourn
For many a long day."

When this discourse was ended, the Master declared the Truths and identified the Birth:--at the conclusion of the Truths, this land-owner entered on the Fruit of the First Path:--"This woman was the she-ass, and I was Swift-as-the-Wind."

 

269. Chuyện Nàng Sujàta (Tiền thân Sujàta)

Kẻ hưởng được bề ngoài duyên dáng..,

Chuyện này do bậc Đạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ-Viên, về một cô gái, tên là Sujàta, dâu ông Cấp Cô Độc, con gái của vị phú thương Dhananjaya và là em út của nữ cư sĩ Visàkhà.

Cô ta về làm dâu nhà ông Cấp Cô Độc với ḷng đầy kiêu ngạo v́ nghĩ rằng cô vốn xuất thân từ một gia đ́nh sang trọng. Cô rất bướng bỉnh, thô lỗ, nóng nảy và hung tợn. Cô từ chối các bổn phận đối với cha mẹ mới hay đối với chồng ḿnh. Cô đi khắp nhà nói năng thô lỗ và c̣n đánh đập cả mọi người.

Một hôm, bậc Đạo Sư cùng năm trăm Tỷ-kheo đến viếng ông Cấp Cô Độc. Mọi người ngồi xuống, vị đại thương gia ngồi bên cạnh Thế tôn và nghe Ngài thuyết pháp. Lúc ấy, Sujàta đang la mắng những người giúp việc.

Bậc Đạo Sư ngưng nói và hỏi tiếng ǵ ồn ào như vậy. Vị thương gia giải thích rằng đó là con dâu thô lỗ của ông, cô ta đă không cư xử đúng đắn với chồng và cha mẹ chồng, cô chẳng hề bố thí và chẳng có điểm nào tốt cả; cô không có ḷng tín thành mộ đạo, cô đi khắp nhà, la mắng suốt ngày đêm. Bậc Đạo Sư truyền gọi cô ta đến.

Người phụ nữ kia đến và sau khi đảnh lễ bậc Đạo Sư, cô đứng một bên. Rồi bậc Đạo Sư hỏi cô:

- Này Sujàta, có bảy loại vợ mà một người đàn ông có thể gặp; cô thuộc về loại nào?

Cô ta trả lời:

- Bạch Thế Tôn, Ngài dạy vắn tắt quá, con không hiểu được, xin Ngài giải thích thêm.

- Được rồi, - bậc Đạo Sư dạy - Hăy chú ư nghe đây.

Rồi Ngài đọc các bài kệ sau:

Tâm địa xấu, điều hay chẳng thiết,
Yêu người ngoài, lại ghét bỏ chồng,
Của tiền chồng tạo phá tan,
Vợ này Phá hoại nhà chàng xứng tên.

Vật chồng tặng do tiền mua bán,
Nghề tinh chuyên, cuốc xẻng nông gia,
Cố t́nh lấy cắp dần dà,
Vợ nào như thế, gọi là Tặc gian.

Quên phận sự, hung tàn lười biếng,
Lại tham lam, xấu miệng sân đầy,
Chuyên quyền với kẻ dưới tay
Mang danh là loại vợ đây Cao cường.

C̣n kẻ vẫn mến thương điều tốt,
Chăm sóc chồng như một mẹ hiền,
Của tiền chồng tạo, giữ ǵn,
Mẫu nghi mới gọi đúng tên vợ này.

Tôn trọng chồng cũng tày như thế
Đàn em thơ kính nể người anh,
Nhún nhường, tuân phục chồng ḿnh,
Vợ là Hiền muội, đúng t́nh chất chơn.

Kẻ luôn mừng đón chồng khi thấy
Như bạn bè sau mấy độ xa,
Hiến dâng, đức độ, nghiêm ḥa,
Vợ nào như thế, gọi ra Thân bằng.

Sợ hung tàn, tâm an chịu khổ,
Chẳng cuồng si, đầy đủ kiên tŕ,
Chân t́nh, chiều chuộng măi ghi,
Vợ kia được gọi Nô tỳ chính danh.

Này Sujàta, trên đây là bảy loại người vợ mà một người đàn ông có thể có. Ba loại người vợ bị gọi là vợ phá hoại, vợ bất lương và cao cường phu nhân sẽ tái sinh vào địa ngục. Bốn loại người vợ c̣n lại sẽ được sanh vào cơi trời thứ năm.

Vợ Cao cường, Tặc gian, Phá hoại,
Giận dữ hoài, chẳng biết kính ai,
Hết đời, bỏ xác, đầu thai
Xuống miền địa ngục khó ngày thoát đi.

Vợ Thân bằng, Mẫu nghi, Hiền muội,
Hoặc Nô tỳ, trong cơi đời này,
Ngoan hiền, tự chủ lâu dài,
Hết đời, bỏ xác, lên trời sống vui.

Khi bậc Đạo Sư thuyết giảng về bảy loại người vợ như thế, Sujàta đắc quả Dự Lưu, và khi bậc Đạo Sư hỏi rằng nàng thuộc loại vợ nào, th́ nàng thưa:

- Bạch Ngài, con là kẻ nô tỳ.

Nói xong nàng cung kính đảnh lễ đức Phật và được Ngài tha thứ.

Như vậy chỉ với một lời khuyên bảo, bậc Đạo Sư đă thuần hóa được người phụ nữ xấu tánh kia. Sau bữa ăn, Ngài tuyên thuyết về các bổn phận trong giáo hội và rồi Ngài vào Hương pḥng.

Bấy giờ các Tỷ-kheo họp tại Pháp đường và ca ngợi bậc Đạo Sư:

- Này các pháp hữu, chỉ với một lần khuyên bảo duy nhất, bậc Đạo Sư đă thuần hóa được người phụ nữ xấu tánh kia và khiến cho nàng đắc quả Dự Lưu.

Bậc Đạo Sư bước vào và hỏi xem họ ngồi với nhau đang thảo luận chuyện ǵ. Họ thuật lại như trên. Ngài dạy:

- Đây chẳng phải là lần đầu tiên Ta thuần hóa Sujàta bằng một lời khuyên bảo duy nhất đâu!

Rồi Ngài kể tiếp một chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là thái tử do Chánh cung hoàng hậu sinh ra. Ngài lớn lên và được giáo dục tại Takkasila. Sau khi vua cha băng hà, ngài nối ngôi và trị v́ rất công chính.

Mẫu hậu ngài là một người đàn bà nóng nảy, dữ tợn, thô lỗ, gắt gỏng, ác khẩu. Ngài chỉ mong sao khuyên bảo được mẹ, nhưng ngài cũng nhận thấy rằng không nên làm điều ǵ bất kính đối với mẹ. V́ thế, ngài cố t́m một cơ hội để hé lộ dần ẩn ư.

Một hôm ngài đi vào vườn hoa và mẹ ngài cũng theo ngài. Một con chim cưỡng xanh đang kêu the thé trên đường. Khi ấy, các triều thần đều bịt tai lại và la lên:

- Cái giọng thật kinh khủng! Cái tiếng kêu ấy thật ghê rợn! Đừng gây ra cái tiếng ấy nữa!

Bấy giờ Bồ-tát đang đi qua vườn hoa với mẹ và đoàn người du lăm. Một con chim Cu đậu trong đám lá rậm của một cây sàla, hót lên âm điệu ngọt ngào. Mọi người đứng đó đều thích thú khi nghe nó hót, vỗ đôi bàn tay rồi ch́a tay ra và yêu cầu nó:

- Ôi! Thật là giọng hót êm dịu, một giọng hót tốt lành, một giọng hót thanh lịch! Hót lên, chim ơi, hót lên đi!

Rồi họ cứ đứng đó, rướn cổ lên chờ nghe.

Bồ-tát chú ư đến hai sự việc này, nghĩ rằng đây là dịp may để tiết lộ ẩn ư của ḿnh cho mẫu hậu.

- Thưa mẹ - ngài nói - Tiếng kêu của con chim cưỡng trên đường làm cho ai nghe cũng phải bịt tai và thốt lên: Đừng gây ra cái tiếng ấy nữa! Đừng gây ra cái tiếng ấy nữa! Và họ bịt tai lại v́ âm thanh dữ dằn chẳng được ai ưa cả.

Thế rồi ngài đọc các bài kệ sau:

Kẻ hưởng được vẻ ngoài duyên dáng,
Thoạt nh́n vào, tươi sáng đẹp thay,
Nhưng buông lời nói chối tai,
Đời này đời kế chẳng ai yêu v́!

Chim Cu kia, thường khi mẹ thấy,
Lốm đốm đen xấu vậy mặc dầu,
Tiếng kêu êm dịu ngọt ngào,
Bao nhiêu kẻ đón người chào mến thương.

Mong tiếng mẹ dịu dàng thanh lịch,
Lời khôn ngoan bỏ hết tự kiêu,
Âm thanh êm ái mỹ miều
Giảng bày Thánh pháp ư nêu tỏ tường.

Khi Bồ-tát khuyến dụ mẫu hậu bằng ba bài kệ trên, ngài đưa mẹ vào cách suy nghĩ của ḿnh. Sau đó, mẹ ngài sống theo chính đạo. Chỉ bằng một lời nói, Bồ-tát đă làm cho mẹ thành một người phụ nữ biết quên ḿnh. Rồi về sau, khi từ trần, Bồ-tát đi theo nghiệp của ḿnh.

*

Khi kể xong Pháp thoại này, bậc Đạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Sujàta là mẹ của vị vua ở Ba-la-nại, c̣n Ta chính là vị vua ấy.

-ooOoo-
 
http://j2122.htm
No. 269. SUJĀTA-JĀTAKA.

"Those who are dowered," etc.--This story the Master told while living in Jetavana about one Sujātā, a daughter-in-law of Anātha-piṇḍika, daughter of the great merchant Dhanañjaya, and youngest sister of Visākhā.

We are told that she entered the house of Anātha-piṇḍika full of haughtiness, thinking how great a family she had come from, and she was obstinate, violent, passionate, and cruel; refused to do her part towards her new father and mother, or her husband; and went about the house with harsh words and hard blows for everyone.

One day, the Master and five hundred brothers visited Anātha-piṇḍika's house, and took their seats. The great merchant sat beside the Blessed One, hearkening to his discourse. At the same time Sujātā happened to be scolding the servants.

The Master ceased speaking, and asked what that noise was. The merchant explained that it was his rude daughter-in-law; that she did not behave properly towards her husband or his parents, she gave no alms, and had no good points; faithless and unbelieving, she went about the house scolding day and night. The Master bade send for her.

The woman came, and after saluting the Master, she stood on one side. Then the Master addressed her thus:

"Sujātā, there are seven kinds of wife a man may have; of which sort are you?" She replied, "Sir, you speak too shortly for me to understand; please explain." "Well," said the Master, "listen attentively," and he uttered the following verses:



"One is bad-hearted, nor compassionates
The good; loves others, but her lord she hates.
Destroying all that her lord's wealth obtains 1,
This wife the title of Destroyer gains. p. 240

"Whate’er the husband gets for her by trade,
Or skilled profession, or the farmer's spade,
[348] She tries to filch a little out of it.
For such a wife the title Thief is fit.

"Careless of duty, lazy, passionate,
Greedy, foul-mouthed, and full of wrath and hate,
Tyrannical to all her underlings
All this the title High and Mighty brings.

"Who evermore compassionates the good,
Cares for her husband as a mother would,
Guards all the wealth her husband may obtain--
This wife the title Motherly will gain.

"She who respects her husband in the way
Young sisters reverence to elders pay,
Modest, obedient to her husband's will,
The Sisterly is this wife's title still.

"She whom her husband's sight will always please
As friend that friend after long absence sees,
High-bred and virtuous, giving up hen life
To him--this one is called the Friendly wife.

"Calm when abused, afraid of violence,
No passion, full of dogged patience,
True-hearted, bending to her husband's will,
Slave is the title given to her still."


[349] "These, Sujātā, are the seven wives a man may have. Three of these, the Destructive wife, the Dishonest wife, and Madam High and Mighty are reborn in hell; the other four in the Fifth Heaven.


"They who are called Destroyer in this life,
The High and Mighty, or the Thievish wife,
Being angry, wicked, disrespectful, go
Out of the body into hell below.

"They who are called the Friendly in this life,
Motherly, Sisterly, or Slavish wife,
By virtue and their long self-mastery
Pass into heaven when their bodies die."


Whilst the Master was explaining these seven kinds of wives, Sujātā attained to the Fruit of the First Path; and when the Master asked to which class she belonged, she answered, "I am a slave, Sir!" and respectfully saluting the Buddha, gained pardon of him.

Thus by one admonition the Master tamed the shrew; and after the meal, when he had declared their duties amidst the Brotherhood, he entered his scented chamber.

Now the Brethren gathered together in the Hall of Truth, and sang the Master's praises. "Friend, by a single admonition the Master has tamed a shrew, and raised her to Fruition of the First Path!" The Master entered, and asked what they were talking of as they sat together. They told him. Said he, "Brethren, this is not the first time that I have tamed Sujātā by a single admonition." And he proceeded to tell an old-world tale.

_____________________________

Once upon a time, while Brahmadatta reigned over Benares, the Bodhisatta was born as the son of his Queen Consort. When he grew up

p. 241

he received his education at Takkasilā, and after the death of his father, became king and ruled in righteousness.

His mother was a passionate woman, cruel, harsh, shrewish, ill-tongued. The son wished to admonish his mother; but he felt he must not do anything so disrespectful; so he kept on the look-out for a chance of dropping a hint.

One day he went down into the grounds, and his mother went with him. [350] A blue jay screeched on the road. At this all the courtiers stopped their ears, crying--

"What a harsh voice, what a shriek!--don't make that noise!"

While the Bodhisatta was walking through the park with his mother, and a company of players, a cuckoo, perched amid the thick leaves of a sāl 1 tree, sang with a sweet note. All the bystanders were delighted at her voice; clasping their hands, and stretching them out, they besought leer--"Oh, what a soft voice, what a kind voice, what a gentle voice!--sing away, birdie, sing away!" and there they stood, stretching their necks, eagerly listening.

The Bodhisatta, noting these two things, thought that here was a chance to drop a hint to the queen-mother. "Mother," said he, "when they heard the jay's cry on the road, every body stopped their ears, and called out--Don't make that noise! don't make that noise! and stopped up their ears: for harsh sounds are liked by no body." And he repeated the following stanzas:


"Those who are dowered with a lovely-hue,
Though ne’er so fair and beautiful to view,
Yet if they have a voice all harsh to hear
Neither in this world nor the next are dear.

"There is a bird that you may often see;
Ill-favoured, black, and speckled though it be,
Yet its soft voice is pleasant to the ear:
How many creatures hold the cuckoo dear!

"Therefore your voice should gentle be and sweet,
Wise-speaking, not puffed up with self-conceit.
And such a voice--how sweet the sound of it!--
Explains the meaning of the Holy Writ 2."


When the Bodhisatta had thus admonished his mother with these three verses, he won her over to his. way of thinking; and ever afterwards sin followed a right course of living. And he having by one word made his mother a self-denying woman afterwards passed away to fare according to his deeds.

_____________________________
 
374. Chuyện Chàng Tiểu Xạ Thủ (Tiền thân Culladhanuggaha)

Bờ kia chàng đă bước lên....,

Chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, về sự cám dỗ một vị Tỷ-kheo do người vợ cũ của thời chưa xuất gia tu tập.

Khi vị Tỷ-kheo thú nhận chính v́ người vợ này mà vị ấy đă từ bỏ Hội chúng và hối tiếc việc xuất gia, bậc Đạo Sư bảo:

- Này Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ nữ nhân này mới làm hại ông. Ngày xưa cũng vậy, chính v́ người này mà ông đă bị chặt đầu.

Rồi theo lời thỉnh cầu của chư Tăng, Ngài kể chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahamadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh làm Sakka Thiên chủ. Thuở ấy, một thanh niên Bà-la-môn ở Ba-la-nại đă học xong mọi môn học thuật ở Đại học Takkasilà, và sau khi thiện xảo môn bắn cung, chàng nổi danh là Tiểu xạ thủ thông minh. Lúc ấy vị giáo sư nghĩ thầm: "Thanh niên này đă đạt kỹ năng bằng ta", rồi đem gả con gái cho chàng. Chàng cưới vợ xong, lại muốn trở về Ba-la-nại, liền khởi hành.

Nửa đường có con voi tàn phá một vùng nọ, nên không ai dám đi lên chỗ ấy. Chàng Tiểu xạ thủ thông minh kia cứ đem vợ cùng trèo lên đường vào rừng, mặc dù mọi người cố cản ngăn. Khi chàng đến giữa rừng, con voi xuất hiện tấn công chàng. Xạ thủ bắn một mũi tên vào trán voi xuyên thủng ra phía sau đầu nó, con voi ngă xuống chết ngay tại chỗ.

Sau khi làm cho nơi ấy b́nh an, chàng lại lên đường qua cánh rừng khác. Tại đó năm mươi tên cướp đang phá hoại xa lộ. Cũng trên nơi này, mặc dù nhiều người cố ngăn cản, chàng cứ trèo lên cho đến khi t́m thấy một nơi bằng phẳng, bọn cướp đă giết nai đem nướng và ăn thịt sát bên xa lộ. Bọn cướp thấy chàng đi đến với cô vợ phục sức sang trọng rực rỡ, liền cố hết sức bắt lấy chàng.

Tên tướng cướp có tài đoán được tính t́nh người khác, chỉ vừa liếc nh́n chàng, đă nhận ra chàng là một anh hùng lỗi lạc, nên không chịu để cho bọn chúng nổi dậy chống lại chàng, dù chàng chỉ đơn thân độc kiếm. C̣n chàng Xạ thủ thông minh bảo vợ đi đến bọn cướp và dặn:

- Nàng hăy đến bảo với bọn chúng cho ta một miếng thịt và đem về cho ta.

Thế là nàng đi đến và bảo:

- Cho tôi một miếng thịt.

Tướng cướp nói:

- Ông ấy là người quư tộc đấy.

Và y bảo bọn cướp cho nàng một miếng thịt. Bọn kia đáp:

- Sao? Nó lại đ̣i ăn thịt nướng của ta ư?

Rồi bọn chúng cho nàng một miếng thịt sống.

Chàng Xạ thủ vốn tự cao về ḿnh, liền nổi giận v́ bọn cướp cho chàng thịt sống. Bọn chúng bảo:

- Sao nữa? Chỉ ḿnh nó là nam nhi, c̣n chúng ta là nữ nhi ư?

Thế là vừa hăm dọa chàng, chúng vừa vùng lên chống phá chàng. Chàng Xạ thủ bắn trọng thương ngă xuống đất bốn mươi chín tên cướp, trừ một tên, v́ chàng không c̣n mũi tên nào để bắn tướng cướp kia. Trước đó trong bao tên của chàng chỉ có năm mươi mũi tên. Chàng đă dùng một mũi tên bắn chết con voi, nay chỉ c̣n số tên đủ để bắn cả bọn trừ một người.

V́ thế chàng đá tướng cướp xuống đất ngồi trên ngực y và bảo vợ mang kiếm đến để chặt đầu y. Ngay lúc ấy, nàng bỗng đem ḷng say mê tướng cướp, liền đặt chuôi kiếm vào tay y và vỏ kiếm vào tay chồng nàng. Tướng cướp chụp chuôi kiếm, đưa kiếm ra và chặt đầu chàng Xạ thủ.

Sau khi giết chồng nàng xong, tướng cướp chiếm lấy người vợ và trong khi cả hai cùng lên đường, tướng cướp hỏi nguồn gốc, nàng bảo:

- Em là con gái của một giáo sư danh tiếng lẫy lừng thế gian ở Đại học Takkasilà.

- Bằng cách nào hắn lấy nàng làm vợ được? Y hỏi.

- Cha em rất hài ḷng v́ hắn đă học được mọi nghệ thuật như bậc thầy nên đem em gả cho hắn. Và v́ em yêu chàng nên em để chàng giết chồng hợp pháp của ḿnh. Nàng đáp lại.

Tướng cướp suy nghĩ: "Nữ nhân này giờ đây đă giết chồng hợp pháp của nó. Vậy khi thấy một đàn ông khác, nó cũng sẽ đối xử với ta như vậy. Ta phải từ bỏ nó mới được".

Khi lên đường, tướng cướp thấy con đường bị chận ngang bởi con suối nhỏ thường ngày, nay lại ngập nước, y bảo:

- Này ái nương, có con cá sấu hung dữ trong suối này. Ta phải làm sao bây giờ?

- Tướng quân ôi - nàng đáp - xin lấy hết nữ trang em đang đeo buộc thành một bó trong áo chàng, đem sang bên kia bờ suối rồi trở lại đây đưa em qua.

- Tốt lắm. Y đáp lại.

Rồi cầm hết nữ trang của nàng, lội xuống ḍng suối như thể một kẻ hết sức vội vàng, y đă lên bờ bên kia, bỏ rơi nàng và chạy trốn.

Thấy vậy nàng kêu to:

- Lang quân ơi, chàng đi như thể chàng sắp bỏ em vậy. Sao chàng lại làm thế? Hăy trở lại đem em cùng đi.

Và nàng ngâm vần kệ đầu bảo:

Bờ kia chàng đă bước lên
Với bao tài sản của em góp thành.
Mau mau quay trở lại nhanh
Mang em qua với bạn t́nh, chàng ơi!

Tướng cướp nghe nàng nói trong lúc y đứng ở bờ bên kia, liền ngâm vần kệ thứ hai:

Ư nàng dời đổi nhất thời
Từ ḷng chung thủy luyện tôi bao lần
Đến màn t́nh ái lông bông,
Chóng chầy nàng cũng thay ḷng phản ta,
Nếu ta không kịp chạy xa
Từ đây nàng hỡi, đôi ta chia ĺa.

Nhưng khi tướng cướp bảo:

- Ta quyết đi đây, nàng cứ ở lại nơi này.

Th́ nàng kêu gào than khóc, c̣n y chạy trốn với tài sản tư trang của nàng. Đó là số phận dành cho kẻ dại khờ tội nghiệp v́ quá si mê t́nh ái.

Bỗng nhiên lâm cảnh bơ vơ khốn đốn như thế, nàng đành đến gần một bụi cây quế và ngồi khóc. Lúc ấy, Sakka Thiên chủ nh́n xuống trần gian, thấy nàng đắm say dục vọng giờ đây than khóc v́ mất cả phu quân lẫn t́nh lang. Nghĩ rằng ngài sẽ đi khiển trách nàng và khiến cho nàng biết hổ thẹn, ngài đem Màtali, thần lái thiên xa, và Pancasikha, một nhạc thần, cùng đến bên bờ suối và bảo:

- Này, Màtali, thần sẽ biến thành con cá, Pancasikha sẽ biến thành con chim và ta sẽ biến thành chó rừng (Sigala). Rồi ngậm một miếng thịt, ta sẽ đi đến trước nữ nhân kia và khi thần Màtali thấy ta ở đó th́ phải nhảy ra khỏi nước, rớt ngay trước mặt ta, ta sẽ nhả miếng thịt đă ngậm trong miệng và nhảy lên chụp con cá. Vừa lúc ấy, thần Pancasikha phải nhào đến chụp miếng thịt và bay lên không, c̣n thần Màtali lặn ngay xuống nước.

Thiên chủ Sakka dạy bảo các vị thần như thế, vị đáp:

- Tốt lành thay, tâu Thiên chủ.

Màtali liền biến thành con cá, Pancasikha biến thành con chim và Sakka biến thành chó rừng. Vừa ngậm miếng thịt trong mồm, ngài đi đến ngay trước nữ nhân. Con cá nhảy lên khỏi nước rơi ḿnh xuống trước chó rừng. Chó thả miếng thịt đang ngậm trong mồm, vùng lên bắt cá. Con cá nhảy nữa và rơi xuống nước, c̣n con chim chụp lấy miếng thịt bay vụt lên không. Như vậy, chó rừng mất cả thịt lẫn cá và ngồi ủ rủ nh́n về phía bụi quế. Nữ nhân thấy thế liền bảo:

- V́ quá tham lam nên chó mất cả thịt lẫn cá.

Và như thể nàng đă thấy rơ ư nghĩa tṛ đời trớ trêu này, nàng bật cười ḍn dă.

Chó rừng nghe thế, liền ngâm vần kệ thứ ba:

Ai làm bụi quế ngân nga
Tiếng cười, dù chẳng múa ca tiệc tùng,
Vỗ tay thích thú? Hồng nhan,
Đừng cười, khi phải khóc than buồn phiền.

Nghe vậy, nàng ngâm vần kệ thứ tư:

Chó ngu, mày phải ước nguyền
Giá đừng mất cá, thịt liền một khi.
Đồ ngu, phải biết sầu bi
Những ǵ xảy đến, ngu si do mày!

Chó rừng liền đáp vần kệ thứ năm:

Lỗi người dễ thấy lắm thay,
Chắc là khó thấy: "Lỗi này của tôi".
Nàng nên tính giá thiệt tḥi
Khi nàng mất hết cả đôi bạn đời.

Nghe thế, nàng lại đáp vần kệ này:

Cẩu vương, quá đúng như lời,
Nên ta quyết chí vội dời chân nhanh
Để t́m thêm bạn chung t́nh,
Cố làm người vợ trung thành khó chi!

Khi ấy Sakka Thiên chủ nghe những lời nói của nữ nhân bạc ác vô hạnh kia, liền ngâm vần kệ cuối cùng:

Kẻ nào ăm trộm cái ghè
Sẽ c̣n ăn trộm mai kia nồi đồng,
Người gây tai họa cho chồng
Vẫn tàn tệ vậy, hoặc c̣n tệ hơn!

Lời Sakka Thiên chủ làm cho nàng phải hổ thẹn và hốn hận ăn năn, rồi sau đó ngài trở về cơi của ngài.

*

Đến đây bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại, rồi tuyên thuyết các Sự Thật. Vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo thối thất đă đắc Sơ quá Dự Lưu.

Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy, Tỷ-kheo thối thất này là chàng xạ thủ, người vợ mà vị ấy đă rời bỏ là nữ nhân kia, và Ta chính là Sakka Thiên chủ.

-ooOoo-
(Contents)
 
380. Chuyện Thiên Nữ Àsankà (Tiền thân Àsankà)

À-sà-ti mọc trên vườn thiên giới..

Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự cám dỗ một Tỷ-kheo do người vợ cũ gây ra.

Hoàn cảnh này sẽ xuất hiện trong Tiền thân Indriya, số 423.

Bậc Đạo Sư nhận thấy vị Tỷ-kheo này thối thất do mơ tưởng đến người vợ cũ, v́ thế Ngài bảo:

- Này Tỷ-kheo, nữ nhân này đang làm hại ông, ngày xưa cũng v́ kẻ ấy mà ông đă hy sinh cả bốn đạo quân và sống ba năm liền ở vùng Tuyết Sơn trong cảnh đầy gian khổ.

Nói xong Ngài kể một chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh vào một gia đ́nh Bà-la-môn tại một làng trong xứ. Khi ngài lớn lên, ngài học các nghệ thuật ở Đại học Takkasilà, sau đó trở thành một vị khổ hạnh đạt được các Thắng trí và các Thiền chứng, sống bằng củ quả ở rừng Tuyết Sơn. Vào thời ấy có một thiếu nữ đức hạnh vẹn toàn từ cơi trời Ba mươi ba giáng trần, đầu thai làm một thiếu nữ trong đóa hoa sen trên hồ nước. Trong khi các hoa khác già cỗi héo tàn, rơi rụng th́ hoa ấy lớn dần và đứng thẳng trên cành.

Vị khổ hạnh đến tắm trong hồ nhận thấy thế, nghĩ thầm: "Các hoa khác rơi rụng, song hoa này cứ lớn dần ra và thẳng đứng, sao lạ thế này?" Ngài liền mặc áo tắm và lội đến đó, mở đóa sen ra, ngài trông thấy cô bé gái. Ngài cảm thấy thương yêu nàng như con ḿnh, liền đem cô bé về thảo am, chăm sóc nuôi nấng. Nàng lớn dần đến năm mười sáu tuổi trở thành rất xinh đẹp, dung sắc nàng vượt hẳn dung sắc loài người, nhưng chưa đạt đến dung sắc chư Thiên.

Một hôm Thiên chủ Sakka hiện xuống hội kiến Bồ-tát. Thiên chủ thấy thiếu nữ này liền hỏi chuyện và được biết nàng ở đâu ra. Ngài hỏi:

- Nàng cần những thứ ǵ, thưa Tôn giả?

- Một chỗ cư trú, y phục nữ trang và thực phẩm, này Thiên chủ.

Ngài liền hóa hiện một cung bằng pha lê cho nàng ở, cùng với bảo tọa, y phục, nữ trang, thực phẩm thần và tiên tửu. Thiên cung này bay xuống trần gian và dừng lại ở nơi nàng đang sống. Khi nàng bước vào trong cung, nó lại bay lên đến giữa không trung. Nàng chuẩn bị đủ mọi thứ phụng dưỡng Bồ-tát trong khi nàng sống trong cung này.

Một người kiểm lâm thấy nàng liền hỏi ngài:

- Thưa Tôn giả, nàng ấy là ǵ của ngài?

- Con gái ta đấy.

Người ấy liền đi về Ba-la-nại tŕnh vua:

- Tâu Đại vương, tiểu thần vừa thấy trong vùng Tuyết Sơn cô con gái của một vị khổ hạnh có dung sắc tuyệt thế.

Vua bị cám dỗ khi nghe chuyện này vội bảo người kiểm lâm làm hướng đạo cùng đi với vua và bốn đạo binh về hướng ấy. Cắm lều trại xong, vua đem người kiểm lâm và đám cận thần đến thảo am. Vua kính chào Bồ-tát và bảo:

- Thưa Tôn giả, nữ nhân là thứ bất tịnh đối với đời tu hành, vậy để trẫm chăm sóc tiểu thư.

Bấy giờ Bồ-tát đă đặt cho cô gái tên Àsankà v́ nàng được ngài đem về nuôi nhờ ngài lội qua hồ nước do ḷng nghi hoặc (Àsankà): "Cái ǵ ở trong hoa sen này?". Ngài không nói thẳng với vua: "Hăy đem nàng đi", mà lại bảo:

- Thưa Đại vương, nếu ngài biết tên con gái ta th́ hăy đem nàng đi.

- Thưa Tôn sư, nếu ngài nói ra th́ trẫm sẽ biết..

- Ta sẽ không nói đâu, khi nào ngài biết tên ấy th́ cứ đem nàng đi.

Vua chấp thuận, từ đó cứ suy xét cùng với đám cận thần: "Tên nàng là ǵ nhỉ?" và đưa ra đủ thứ tên khó đoán với Bồ-tát: "Những tên nọ tên kia là tên nàng". Song Bồ-tát bảo không phải và từ chối lời thỉnh cầu. V́ vậy một năm trôi qua trong khi vua xem xét tên nàng.

Sư tử và nhiều dă thú đến vồ lấy mọi người và binh sĩ của vua, lại thêm nhiều hiểm họa v́ rắn rết, ruồi muỗi. Nhiều người khác chết v́ lạnh. Vua bảo Bồ-tát:

- Trẫm cần ǵ nàng ấy nữa?

Và vua bỏ đi.

Thiếu nữ Àsankà hiện ra trên cửa sổ pha lê mở rộng. Vua thấy nàng liền bảo:

- Chúng ta không t́m ra tên nàng nên chúng ta sẽ ra đi, nàng cứ ở lại Tuyết Sơn này.

- Tâu Đại vương, nếu ngài ra đi, ngài sẽ chẳng bao giờ t́m được một vương phi như thiếp nữa. Trên cơi trời Ba mươi ba, tại vườn Cittalatà, có một loài cây leo tên Àsàvat́. Trái của nó chứa một thứ tiên tửu, những ai uống rượu ấy một lần là phải say suốt bốn tháng nằm yên trên thiên tọa. Nó chỉ sinh trái một lần trong một ngàn năm, cho nên các Thiên tử, dù ham mê rượu nồng, vẫn chịu nhịn khát để đón chờ tiên tửu ấy. Họ bảo nhau: "Ta sẽ hái quả cây này", rồi cứ liên tục đến canh chừng cây ấy suốt cả ngàn năm và bảo nhau: "Cây mọc có tốt chăng?"

C̣n Đại vương, chỉ trong ṿng một năm đă sinh ḷng bất măn, hễ ai hái được kết quả của niềm hy vọng là đạt hạnh phúc. Thiếp xin ngài khoan bất măn vội.

Do vậy, nàng ngâm ba vần kệ đầu:

À-sà-ti mọc trên vườn Thiên giới
Một ngàn năm chỉ sinh trái một lần,
Chư Thiên hằng kham nhẫn măi chờ trông.

Quá hy vọng, Đại vương, đầy ngon ngọt,
Chim hy vọng không bao giờ tổn thất,
Nó đạt tṛn mong ước dẫu xa vời.

Tâu Đại vương, quá hy vọng ngọt bùi!
Cứ hy vọng, Đại vương, hy vọng măi.

Vua lại mê say v́ lời nàng, rồi triệu tập quần thần một lần nữa và cố đoán tên nàng, cứ mỗi lần đoán mười tên măi đến khi một năm nữa trôi qua. Song tên nàng vẫn không ở trong số mười lời phỏng đoán kia, nên Bồ-tát từ chối lời vua thỉnh cầu. Nàng lại hiện ra trên khung cửa sổ và vua bảo:

- Thôi nàng ở lại đây, trẫm sắp ra đi.

- Tại sao ra đi, tâu Đại vương?

- V́ trẫm không thể nào đoán ra tên nàng.

- Tâu Đại vương, tại sao ngài không thể đoán ra? Niềm hy vọng không phải là không có thành công. Một con hạc đậu trên đỉnh đồi cũng đạt được mong ước, tại sao ngài không thể đạt được chứ? Tâu Đại vương, hăy kham nhẫn. Một chim hạc đă t́m nơi ăn trong một hồ sen, song nó bay lên tận đỉnh đồi. Nó ở lại đó hôm ấy và hôm sau tự nhủ: "Ta sống thật an lạc tại đỉnh đồi này. Nếu không cần xuống đồi, ta cứ ở đây t́m thức ăn nước uống và đậu tại đây hôm nay thật thích thú biết bao".

Chính ngay hôm ấy, Sakka Thiên chủ đă dẹp tan các thần Asura (A-tu-la) và làm chúa tể cơi trời Ba mươi ba, tự nhủ: "Mọi mong ước của ta đă đạt được đỉnh cao thành tựu. Hôn nay có ai trong rừng chưa đạt niềm mong ước chăng?" Suy xét như vậy ngài thấy con hạc và nghĩ: "Ta sẽ làm cho niềm mong ước của con hạc được thành tựu". Không xa con hạc đậu có một ḍng suối, Thiên chủ đưa con suối đầy thức ăn lên đỉnh đồi, như thế chim hạc không cần đi đâu vẫn có cá ăn nước uống thỏa thích suốt ngày ở nơi ấy. Sau đó ḍng suối đổ xuống và trôi đi xa. Tâu Đại vương, con hạc đă đạt kết quả niềm hy vọng của nó như vậy, tại sao Đại vương sẽ không đạt được kia chứ? Xin Đại vương cứ hy vọng nữa, hy vọng măi.

Nàng nói và ngâm vần kệ c̣n lại.

Vua nghe chuyện nàng kể, lại say mê sắc đẹp nàng, bị lời nàng lôi cuốn, nên ở thêm một năm nữa để phỏng đoán cả trăm tên nàng. Sau ba năm, vua t́m đến Bồ-tát và hỏi:

- Thưa Tôn giả, tên nàng có nằm trong trăm tên này chăng?

- Thưa Đại vương, ngài không biết tên ấy đâu.

Vua vái chào Bồ-tát và bảo:

- Chúng tôi xin từ giă lên đường.

Và vua ra đi.

Thiếu nữ Àsankà lại đứng bên cửa sổ pha lê. Vua trông thấy nàng liền bảo:

- Thôi nàng ở lại, chúng ta sắp lên đường.

- Tại sao thế, tâu Đại vương?

- Nàng làm ta đẹp ḷng v́ lời nói chứ không phải v́ t́nh yêu của nàng. Ta say mê lời nói dịu ngọt của nàng, nên đă ở đây ba năm ṛng, nay ta quyết ra đi.

Rồi vua ngâm các vần kệ sau:

Lời nói nàng nghe quả thật dịu êm,
Song hành động không thỏa ḷng mong đợi.
Hoa hữu sắc vô hương là cỏ dại,

Lời hứa kia dẫu đẹp chẳng thi hành
Với bạn thân, ta phải ném cho nhanh,
Chẳng đem tặng, cứ để dành măi măi,
T́nh bạn kia tất nhiên là suy thoái.

Ta chỉ nên hứa trước việc ḿnh làm,
Đừng hứa suông những việc chẳng đảm đang.
Nếu ta nói mà không làm phận sự,
Các trí nhân xét xem liền thấy rơ.

Đạo quân ta hao tổn, cạn kho lương,
Ta hoài nghi đời sống đă suy tàn,
Đă đến lúc ra đi, đành từ biệt.

Khi nàng Àsankà nghe lời vua liền đáp:

- Tâu Đại vương, ngài biết tên thiếp rồi, ngài vừa nói ra tên ấy. Xin hăy nói cho phụ thân biết tên thiếp và đem thiếp cùng ra đi.

Nói vậy xong, nàng liền ngâm vần kệ:

Tâu Đại vương, vừa nói ra tên thiếp,
Hăy đến ngay, cha thiếp nhận cầu hôn.

Vua đến gặp Bồ-tát và nói:

- Thưa Tôn giả, tiểu thư tên là Àsankà.

- Thưa Đại vương, ngài đă biết tên nàng, vậy hăy đem nàng ra đi.

Vua kính lễ Bồ-tát và đến cung pha lê bảo nàng:

- Này, quư cô nương, phụ thân nàng đă gả nàng cho ta, vậy hăy đến đây ngay.

- Tâu Đại vương, thiếp sẽ đi xin phép phụ thân. Nàng bảo.

Rồi từ cung pha lê, nàng bước xuống đảnh lễ Bồ-tát, được ngài ưng thuận và cho phép ra đi cùng nhà vua. Vua đem nàng về Ba-la-nại, cùng nàng sống hạnh phúc, sinh được thêm nhiều hoàng tử và công chúa. C̣n Bồ-tát tiếp tục hành Thiền định và tái sinh lên cơi Phạm thiên.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Vào lúc các Sự Thật kết thúc, vị Tỷ-kheo được an trú vào Sơ quả (Dự lưu). Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Àsankà là người vợ cũ kia, vua là vị Tỷ-kheo bất măn này và vị khổ hạnh chính là Ta.

-ooOoo-


(Contents)
 
386.Chuyện Con Lừa (Tiền thân Kharaputta)

Bậc trí bảo Dê quả thật ngu...,

Bậc Đạo Sư kể chuyện này tại Kỳ Viên về sự cám dỗ của người vợ cũ đối với một Tỷ-kheo.

Khi Tỷ-kheo ấy thú nhận rằng ḿnh đang mơ tưởng đời thế tục, bậc Đạo Sư bảo:

- Này Tỷ-kheo, nữ nhân này đang làm hại ông, ngày xưa ông cũng đă nhảy vào lửa v́ kẻ ấy, và đă được các trí nhân cứu mạng.

Rồi Ngài kể câu chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vị vua mệnh danh Senaka trị v́ tại Ba-la-nại, Bồ-tát là Sakka Thiên chủ, vua Sekana kết thân với một vua loài Nàga (Rắn thần).

Tương truyền vị vua rắn Nàga này thường rời thế giới Nàga đi quanh quẩn trên cơi đất kiếm mồi. Bọn trai làng thấy vậy bảo nhau:

- Đây là con rắn.

Rồi chúng lấy đất đá đập rắn. Nhân lúc vua đang du ngoạn trong ngự viên thấy chúng và nghe chúng đang đánh một con rắn, liền bảo:

- Đừng cho chúng đánh rắn, đuổi chúng đi.

Và lệnh này được thi hành ngay.

Do đó vua Nàga được cứu mạng, khi trở về thế giới Nàga, vị ấy lấy nhiều châu báu, rồi nửa đêm đi đến cung thất vua dâng các tặng vật và thưa:

- Tiểu thần được ngài cứu mạng.

Từ đó vị ấy kết giao với vua nên cứ lui tới yết kiến ngài.

Vua rắn Nàga truyền lệnh cho một cung nữ Nàga, vốn tham đắm dục lạc vô độ, đến hầu cận vua và bảo vệ ngài. Vua rắn c̣n cho ngài một câu chú thần và bảo:

- Hễ khi nào ngài không thấy nàng ấy, xin cứ đọc chú thần này.

Một hôm vua vào ngự viên cùng với cung nữ Nàga và vui đùa trên hồ sen.

Cung nữ Nàga nh́n thấy một con rắn nước, liền bỏ lốt người và t́nh tự với rắn nước. Vua không thấy cô gái, liền hỏi:

- Nàng đi đâu rồi?

Và vua đọc thần chú. Ngay lúc đó vua thấy tà hạnh của nàng nên lấy gậy tre đánh nàng. Nàng tức giận bỏ về thế giới Nàga và khi được hỏi:

- Tại sao nàng trở về?

- Thân hữu của ngài đánh thiếp trên lưng v́ thiếp không tuân lệnh.

Nàng đáp và chỉ vết thương.

Vua Nàga không biết sự thật, liền gọi bốn thanh niên Nàga ra lệnh cho họ vào vương thất vua Senaka và dùng hơi độc thoát ra từ lỗ mũi để giết vua tan như trấu. Họ vào cung thất đúng giờ đi ngủ. Khi họ vừa đến, vua nói với hoàng hậu:

- Này ái hậu, nàng có thấy cô gái Nàga đâu không?

- Tâu Đại vương, thiếp không thấy.

- Hôm nay lúc chúng ta đang tắm trong hồ, nàng Nàga ấy bỏ lốt người và ân ái với một con rắn nước. Ta bảo đừng làm vậy, rồi đánh cho nó một gậy tre để trừng trị nó, nay ta sợ nó đă có thể trở về cơi rắn Nàga và nói dối trá với thân hữu ta, tiêu hủy luôn thiện chí của vị ấy đối với ta.

Các thanh niên Nàga nghe vậy liền quay về cơi rắn Nàga lập tức và tâu tŕnh vua rắn. Vị ấy xúc động liền đến ngay vương thất kể lại mọi chuyện và được vua tha thứ. Sau đó vị ấy nói:

- Xin cho tôi chuộc lỗi và đền bù bằng cách này.

Rồi trao cho vua một thần chú biết được mọi thứ âm thanh:

- Tâu Đại vương, đây là một thần chú vô giá, nếu ngài cho ai thần chú này, lập tức ngài sẽ nhảy vào lửa mà chết.

- Quư báu thay. Vua đáp và nhận thần chú.

Từ đó vua hiểu được mọi tiếng nói, thậm chí cả tiếng loài kiến. Một hôm ngài ngự trên bảo tọa ăn các thứ bánh cứng với mật ong và mật mía. Rồi một giọt mật ong, một giọt mật mía và một miếng bánh rơi xuống đất. Một con kiến thấy vậy liền kêu lên:

- B́nh mật ong của vua bị vỡ trên bảo tọa rồi, xe mật mía và xe bánh đổ rồi. Mau mau đến ăn mật ong, mật mía và bánh ngọt, các cậu ơi.

Vua nghe tiếng kêu ấy bật cười lớn. Hoàng hậu ngồi gần nghĩ thầm "Chúa thượng thấy ǵ khiến ngài cười to vậy?"

Khi vua đă ăn phần thực phẩm cứng ấy, đă tắm mát xong, lại ngồi xếp bằng, một con ruồi bảo vợ nó:

- Này nàng ơi, chúng ta hăy ân ái cùng nhau.

- Này phu quân, xin hăy thứ lỗi cho thiếp, một lát nữa, nô tỳ đang đem hương liệu đến dâng đức vua, trong khi ngài xoa thân thể, một vài bụi phấn sẽ rơi xuống chân, thiếp sẽ đậu ở đó cho thơm tho rồi chúng ta sẽ ân ái cùng nhau trên lưng ngài. Vợ nó đáp.

Vua nghe tiếng ruồi liền bật cười lần nữa. Hoàng hậu lại nghĩ: "Ngài đă trông thấy ǵ khiến ngài cười lớn vậy?".

Lần khác, khi vua đang dùng bữa tối, một cục cơm rớt xuống đất, bầy kiến kêu to:

- Một xe cơm đă đổ trong cung vua, thế mà chẳng có ai ăn hết.

Vua nghe vậy lại cười lớn, hoàng hậu cầm chiếc muỗng vàng dâng thức ăn cho vua, suy nghĩ: "Có phải v́ thấy ta mà Chúa thượng cười ta chăng?". Bà về hậu cung với nhà vua và đến giờ ngủ, bà hỏi:

- Tâu Đại vương, tại sao Đại vương cười lớn ban năy?

- Nàng có liên hệ ǵ đến việc ta cười ư?

Song cứ nghe hỏi đi hỏi lại măi, vua đành kể chuyện cho bà. Sau đó bà bảo:

- Cho thiếp thần chú hiểu biết âm thanh đó đi.

- Không thể được. Ngài đáp.

Song dù bị từ chối nhiều lần, bà vẫn thúc giục vua. Vua đáp:

- Nếu ta cho nàng thần chú này, ta sẽ chết mất.

- Dù Đại vương có từ trần đi nữa, cũng cứ cho thiếp thần chú ấy đi mà.

Vua bị mănh lực nữ nhân thôi thúc, đành chấp nhận bảo:

- Thôi được.

Rồi vua ngự lên vương xa, đi vào ngự viên và nói:

- Ta sẽ nhảy vào lửa sau khi cho thần chú này.

Ngay lúc ấy, Sakka Thiên chủ nh́n xuống cơi đất và thấy việc này, ngài bảo:

- Hôn quân si ám này biết ḿnh sắp nhảy vào lửa do áp lực nữ nhân, hiện đang ra đi, vậy ta hăy cứu mạng vua ấy.

V́ thế ngài đem theo Sujà, ái nữ của vua loài Asura (A-tu-la) cùng xuống thành Ba-la-nại. Ngài biến thành Dê đực, c̣n Sujà biến thành Dê cái, rồi quyết định tránh cho dân chúng khỏi thấy hai vị, ngài đứng ngay trước vương xa. Vua và các con Lừa Sindh trông thấy ngài, ngoài ra không ai thấy được. Để khởi đầu câu chuyện, ngài làm như thể ngài đang t́nh tự với con Dê cái. Một con Lừa Sindh kéo xe bảo:

- Này bạn Dê, trước kia chúng ta từng nghe chứ chưa từng thấy, rằng loài dê thật ngu xuẩn và vô liêm sỉ. C̣n nay bạn đang làm việc ấy ngay trước mắt chúng ta nh́n, cái việc phải làm nơi kín đáo, riêng tư và không phải xấu hổ v́ nó. Những ǵ chúng ta đă nghe trước kia thật phù hợp với điều chúng ta đang thấy.

Và v́ thế, Lừa liền ngâm vần kệ đầu:

Bậc trí bảo dê quả thật ngu,
Những lời chân thật tự bao giờ,
Dê này không biết ḿnh phô diễn
Những việc phải làm kín đáo ư?

Dê nghe vậy, đáp lại hai vần kệ:

Này ông Lừa hỡi, nghĩ xem nào,
Rồi thấy là ông ngốc biết bao,
Ông bị buộc dây thừng trói chặt,
Hàm ông tréo, mắt chẳng nh́n cao.

Khi được thả ra chẳng chạy ngay,
V́ ông quen thói thật ngu thay,
Vua Se-nak ấy ông chuyên chở
C̣n thật ngu hơn cả chú mày!

Vua nghe hiểu câu chuyện giữa hai con vật, liền bảo xe chạy thật nhanh. Con Lừa nghe Dê nói chuyện liền ngâm vần kệ thứ tư:

Vậy này Dê chúa, dám thưa ngài,
Tôi đại ngu, ngài hiểu quá rồi,
C̣n chuyện vua Se-nak xuẩn ngốc,
Làm ơn giải thích rơ cho tôi.

Dê ngâm vần kệ thứ năm giải thích việc này:

Vua có một kho báu hiển linh,
Lại v́ hoàng hậu ném cho nhanh,
Không khuyên hoàng hậu trung thành được,
Đành phải hy sinh tính mạng ḿnh.

Vua nghe lời ấy, liền bảo:

- Này Dê chúa, chắc chắn ngài sẽ làm ích lợi cho ta, vậy hăy cho ta biết phải làm ǵ bây giờ?

Dê đáp:

- Tâu Đại vương, đối với mọi loài hữu t́nh, không ai thân thiết hơn bản thân ḿnh. Hủy hoại ḿnh và hy sinh danh dự ḿnh đă tạo được v́ một vật thân thiết nào đó điều không ích lợi ǵ cả.

Rồi Dê lại ngâm vần kệ thứ sáu:

Như ngài ở địa vị vương quân
Có thể mang nhiều nỗi ước mong,
Song phải bỏ ngay niềm ước vọng,
Nếu thân ngài phải chịu thương vong.

Đời người quả thật là quan trọng
C̣n kiếm ǵ cao hơn bản thân?
Nếu tính mạng duy tŕ trọn vẹn,
Th́ không cần ước vọng cầu mong!

Bồ-tát khuyến giáo vua như vậy. Vua hoan hỷ, hỏi:

- Này Dê chúa, ngài từ đâu đến đây?

- Thưa Đại vương, ta là Sakka Thiên chủ, đến cứu ngài khỏi chết v́ thương tưởng ngài đó.

- Tâu Thiên chủ, trẫm đă hứa cho hoàng hậu thần chú. Vậy nay trẫm phải làm ǵ?

- Không cần phải làm ǵ tổn hại đến hai vị. Chỉ cần ngài bảo: "Đây là cách được thần chú", rồi sai người đánh bà ấy vài roi, nhờ cách này, bà ấy sẽ không đ̣i nó nữa.

- Tốt lắm! Vua bảo và đồng ư ngay.

Sau khi khuyến cáo vua xong, Bồ-tát trở về cơi trời. C̣n vua vào ngự viên, triệu hoàng hậu đến chầu và bảo:

- Này Hoàng hậu, nàng muốn có thần chú chăng?

- Tâu Chúa thượng, vâng.

- Vậy th́ hăy theo thông lệ này.

- Thông lệ nào thế?

- Một trăm roi trên lưng nhưng không được kêu la.

Bà hoàng đồng ư v́ quá ham mê thần chú. Vua bảo các nữ tỳ lấy roi đánh hai bên hông bà. Bà chỉ chịu được hai ba roi rồi kêu lớn:

- Thiếp không muốn thần chú nữa!

- Nàng đă có thể giết ta chỉ v́ muốn có thần chú ấy. Vua bảo.

Rồi vua tự tay đánh trầy da lưng hoàng hậu và đuổi đi. Từ đó về sau bà chẳng dám nói đến chuyện ấy nữa.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Vào lúc các Sự Thật kết thúc, vị Tỷ-kheo được an trú vào Sơ quả (Dự lưu). Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy, vua là vị Tỷ-kheo bất măn, hoàng hậu là vợ cũ vị ấy, con lừa là Sàriputta và Sakka Thiên chủ chính là Ta.


(Contents)
 
   
   
   
All clips of ĐƯỜNG MÂY QUA XỨ TUYẾT
http://www.youtube.com/results?search_query=duongmayxutuyet 

All clips of Phẩm Nữ Nhân
http://www.youtube.com/results?search_query=nunhan
 

All clips of Hành Tŕnh Về Phương Đông
http://www.youtube.com/results?search_query=hanhtrinhvephuongdong
  

 
   
(Contents)  
List

Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam)
http://www.tranlich.com/phathoc/kinhbantien.htm

KINH VIÊN GIÁC (THE SUTRA OF COMPLETE ENLIGHTENMENT )
kinhviengiac1
kinhviengiac2

Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra) Phẩm nữ giới
http://www.tranlich.com/phathoc/nugioi.htm

KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna sutta)
The Four Arousings of Mindfulness
The Four frames of reference
The Four foundations of mindfulness.
http://www.tranlich.com/phathoc/tuniemxu.htm

Kahlil Gibran
http://www.tranlich.com/phathoc/kahlilgibran.htm

Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra)

1) Phẩm nữ giới
http://www.tranlich.com/phathoc/nugioi.htm
NỮ NHÂN 1 | NỮ NHÂN 2 | NỮ NHÂN 3

2) Kẻ Ác
http://www.tranlich.com/phathoc/keac.htm

Trung Bộ Kinh
1)
trungbokinh1.htm ( Nikaya 1 thru 4)
2) trungbokinh2.htm ( Nikaya 5 thru 8)
3) trungbokinh3.htm ( Nikaya 9 thru 12)

6) trungbokinh6.htm ( Nikaya 35 thru 40)

KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna sutta)
The Four Arousings of Mindfulness
The Four frames of reference
The Four foundations of mindfulness.
http://www.tranlich.com/phathoc/tuniemxu.htm

Thiền Sư Và Triết Gia
The Monk and the Philosopher:
Jean-Francois Revel, Matthieu Ricard,
http://www.tranlich.com/phathoc/thiensuvatrietgia.htm

YouTube: Video
http://www.youtube.com/profile_videos?user=coongnoo 
http://www.youtube.com/profile_videos?user=brainwashchinese 
http://www.youtube.com/profile_videos?user=stupidchina1 
http://www.youtube.com/profile_videos?user=stupid2china
 

 

(back to top)

 

 

Home | 81 BCND | Freedom4Vietnam | Vietnamese Songs | Vietnamese Students | Our Sponsor

 

 

Since 06-27-01
 

 .tranlich.com

 

 
 
Top|List|Directory