NỮ NHÂN 1 |
NỮ NHÂN 2 | NỮ NHÂN 3
( Trich đọan từ Kinh Viên Giác)
-Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay do có đủ thứ tham dục ân
ái nên có luân hồi. Tất cả chủng tánh nơi các thế giới như noăn sanh, thai
sanh, thấp sanh, hoá sanh, đều lấy dâm dục làm chánh nhân mới thành có sinh
mạng, nên biết ái dục là cội gốc của luân hồi. Do có các dục làm trợ duyên,
phát khởi tánh ân ái, v́ thế khiến chúng sanh có sanh tử tương tục.
Dục do ái mà sanh, mạng do dục mới có, chúng sanh tham ái thân mạng là dựa
theo cội gốc tham dục, vậy tham dục là nhân, tham ái thân mạng là quả. Do
nơi cảnh dục mà sanh tâm yêu ghét; cảnh thuận với tâm ta th́ yêu, cảnh
nghịch với tâm ta th́ ghét, nên theo đó tạo đủ thứ ác nghiệp th́ sanh vào
đạo địa ngục, ngạ qủy.
( Trich đọan từ Kinh Viên Giác) |
“Virtuous man, all sentient beings [experience illusory] cyclic existence
due to all kinds of affection, love, craving, and desire [1] since
beginningless time. The different types of births in the world - be they
from egg, womb, humidity, or by transformation - are created by sexual
desire. [2] You should know that attached love is the root of cyclic
existence. Because there are all sorts of desirable [objects] that enhance
and augment the activity [3] of attached love, birth and death proceed in
unending succession.
“Desire arises because of attached love. The existence of life comes from
desire. Sentient beings’ love of their lives [in turn] relies on desire as a
base. Therefore, love and desire are the cause, love of life is the
consequence. Because the objects of desire [vary], like and dislike arise.
If the object goes against one’s grasping mind, one gives rise to hatred and
jealousy and commits evil karmic deeds. As a result, one is reborn in hell
or as a hungry ghost.
( Excerpted from SUTRA Of
OF COMPLETE ENLIGHTENMENT) |
http://www.thuvienhoasen.org/
Audio sources:
http://suoitumedia1.net/
Contents: |
http://www.sacred-texts.com/ |
62. CHUYỆN CÔ GÁI TRÊN LẦU BẢY TẦNG. (Tiền thân
Andabhuta)
63. CHUYỆN HIỀN SĨ CHÀ LÀ (Tiền
thân Takka)
64. CHUYỆN NGƯỜI VỢ KHÓ HIỂU (Tiền
thân Duràjàna)
65. CHUYỆN NỖI BẤT MĂN. (Tiền thân
Anabhirati)
66. CHUYỆN HOÀNG HẬU TỪ TÂM (Tiền
thân Mudulakkhana)
67. CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ THÔN QUÊ
(Tiền thân Ucchanga)
120. CHUYỆN GIẢI THOÁT SỰ TRÓI BUỘC (Tiền thân Bandhanamokkha)
(LXXI) Subhà ở Rừng Xoài của Jivaka (Theŕ. 150)
193. CHUYỆN HOÀNG TỬ LIÊN HOA (Tiền thân Cullapaduma)
194. CHUYỆN KẺ TRỘM NGỌC (Tiền thân Manicora)
195. CHUYỆN H̉N NÚI ĐẸP (Tiền thân
Pabbatupatthara)
196. CHUYỆN CON NGỰA BAY (Tiền thân Valàhassa)
198. CHUYỆN CON VẸT RÀDHA (Tiền
thân Ràdha)
199. CHUYỆN NGƯỜI GIA CHỦ (Tiền
thân Gahapati)
207. CHUYỆN VUA ASSAKA (Tiền thân Assaka)
212. CHUYỆN THỨC ĂN THỪA (Tiền thân Uchitthabhatta)
(Continued)
YouTube1: Text
YouTube2: Text
YouTube3: Text
YouTube4: Text
YouTube5: Text
YouTube6: Text
YouTube7: Text
YouTube8: Text
YouTube9: Text
YouTube10: Text
YouTube11: Text
YouTube12: Text
YouTube13: Text
YouTube: Phẩm Nữ Nhân |
No. 62.A ABHŪTA-JĀTAKA.
No. 63.
TAKKA-JĀTAKA.
No. 64. DURĀJĀNA-JĀTAKA.
No. 65. ANABHIRATI-JĀTAKA
No. 66. MUDULAKKHAṆA-JĀTAKA.No. 67.
UCCHAṄGA-JĀTAKA.
No. 120. BANDHANAMOKKHA-JĀTAKA.
LXXI Subhā of Jīvaka's Mango-grove.
No. 193 1.CULLA-PADUMA-JĀTAKA.
No. 194. MAṆICORA-JĀTAKA.
No. 195.
PABBATŪPATTHARA-JĀTAKA.
No. 196. VALĀHASSA-JĀTAKA.
No. 198 1 No. 199.
GAHAPATI-JĀTAKA.
No. 207.ASSAKA-JĀTAKA.
No. 212. UCCHI HA-BHATTA-JĀTAKA.
|
62. CHUYỆN CÔ GÁI TRÊN LẦU BẢY
TẦNG. (Tiền thân Andabhuta)
***YouTube
1 ***
Tṛ chơi sáo, giả mù...
Câu chuyện này do bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo bị
ái dục chi phối tâm trí. Bậc Đạo Sư hỏi:
- Tăng chúng bảo rằng ông bị ái dục chi phối, có phải vậy chăng?
- Thưa vâng, quả đúng như vậy.
- Này Tỷ-kheo, không ai canh giữ đàn bà được cả. Ngày xưa, có kẻ đầy mưu trí
canh giữ một nữ nhân từ khi nó mới lọt ḷng mà cũng không thể nào giữ nó
được.
Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ vua Brahmadatta trị v́ tại Ba-la-nại, Bồ-tát sinh làm vương tử
của bà Chánh hậu. Khi ngài lớn lên, ngài tinh thông mọi môn học thuật, và
khi vua cha băng hà, ngài lên ngôi làm một vị anh quân, trị dân đúng pháp.
Thời ấy, ngài thường chơi súc sắc với vị Tế sư của triều đ́nh, và khi ném
con bài súc sắc bằng vàng trên mặt chiếc bàn bằng bạc, ngài thường ca khúc
hát cầu may này:
Muôn vật lẽ thường t́nh,
Sông ng̣i uốn lượn quanh,
C̣n các loài thảo mộc
Là cây cối mọc thành,
Hễ gặp thời cơ tới,
Nữ nhân phạm ác hành.
|
**
YouTube 1 English
** No. 62.A ABHŪTA-JĀTAKA.
"Blindfold, a-luting."--This story was told by the Master while at Jetavana,
about another passion-tost person.
Said the Master, "Is the report true that you are passion-tost, Brother?"
"Quite true," was the reply.
"Brother, women can not be warded; in days gone by the wise who kept watch
over a woman from the moment she was born, failed nevertheless to keep her
safe." And so saying, he told this story of the past.
Once on a time when Brahmadatta was reigning in Benares, the Bodhisatta came
to life as the child of the Queen-consort. When he grew up, he mastered
every accomplishment; and when, at his father's death, he came to be king,
he proved a righteous king. Now he used to play at dice with his chaplain,
and, as he flung the golden dice upon the silver table, he would sing this
catch for luck:--
’Tis nature's law that rivers wind;
Trees grow of wood by law of kind;
And, given opportunity,
All women work iniquity.
|
V́ khúc hát này làm cho vua thắng
cuộc măi, nên theo đúng luật chơi bài, vị Tế sư mất đến cả đồng xu dính túi.
Và muốn khỏi sạt nghiệp, vị ấy quyết định t́m cho ra một cô gái chưa hề thấy
người đàn ông nào, đem về nhà khóa cửa nhốt trong pḥng. Vị ấy nghĩ thầm:
"Ta không thể nuôi một cô gái đă từng thấy đàn ông. Vậy ta phải t́m một đứa
trẻ sơ sinh, giữ kỹ nó lúc lớn lên, canh chừng nó thật cẩn mật để không ai
có thể đến gần nó và nó sẽ trung thành với người đàn ông duy nhất thôi. Lúc
ấy ta sẽ thắng vua và trở nên giàu có".
Bấy giờ vị này rất giỏi khoa tướng số, nên vừa thấy một người đàn bà nghèo
sắp sinh con, và đứa trẻ sẽ là con gái, vị ấy bèn thuê tiền để đem bà ta về
ở trong nhà ḿnh, giữ thật kỹ đến ngày sinh đứa con xong, bà ta phải đi ngay
với một số tiền. C̣n hài nhi kia được toàn phụ nữ nuôi nấng, không một nam
nhân nào được nh́n thấy nó, trừ vị Tế sư. Khi nó lớn lên, nó thuộc về quyền
sở hữu của vị Tế sư, chủ nhân của nó.
Suốt thời gian cô bé lớn dần, vị Tế sư tránh việc chơi bài với vua, nhưng
khi nó đă trưởng thành dưới quyền kiểm soát của chính ḿnh, th́ vị Tế sư lại
thách thức vua chơi bài. Ngài chấp thuận và bắt đầu cuộc chơi. Trong khi vừa
ném con súc sắc, ngài vừa hát khúc ca cầu may ấy, th́ vị Tế sư nói thêm:
- Nhưng bao giờ cô bé của hạ thần cũng là ngoại lệ đấy!
Rồi vận may cũng đổi chiều, chính vị Tế sư thắng cuộc và nhà vua thua bài.
Khi xét kỹ vấn đề trên, Bồ-tát nghi ngờ vị Tế sư có giấu kín một cô gái đức
hạnh trong nhà, nên ngài cho người ḍ t́m và quả đúng như vậy. Thế là để làm
cho cô bé kia phải sa ngă và phạm lỗi, ngài truyền đưa tới một gă điếm đàng
giảo quyệt, và hỏi gă có cách quyến rủ cô gái chăng.
- Tâu Đại vương, chắc chắn là được. Gă kia đáp.
Nghe vậy, nhà vua cho gă tiền và bảo gă thi hành lệnh ngài ngay, chớ để mất
th́ giờ lâu.
Với số tiền vua ban, gă mua đủ loại nước hoa, hương liệu và mở cửa tiệm bán
nước hoa gần nhà vị Tế sư. Bấy giờ nhà Tế sư cao bảy tầng, có bảy cổng, mỗi
cổng đều có người ngồi canh, toàn phụ nữ canh cổng, không đàn ông nào được
phép vào nhà trừ vị Bà-la-môn. Ngay cả những thúng đựng rác cũng được khám
xét thật kỹ trước khi đem vào nhà.
Chỉ riêng vị Tế sư ấy được quyền nh́n thấy cô gái, và cô bé cũng chỉ có một
nữ tỳ hầu hạ. Nữ tỳ này được giao tiền đi mua hoa tươi và nước hoa và tặng
cô chủ; trên đường đi, bà ta thường bước ngang qua cửa tiệm mà gă điếm đàng
kia mới mở. Và gă ấy biết rơ bà ta chính là người hầu của cô gái kia, bèn
đợi một ngày nọ bà ta đến gần, gă vội vă chạy bổ ra ngoài cửa hiệu, quỳ
xuống chân bà, hai tay ôm chặt đầu gối bà, miệng lắp bắp:
- Ôi mẹ ôi! Mẹ đi đâu lâu nay thế hở mẹ?
Và đồng bọn của gă đứng canh đó đều kêu lên:
- Ồ giống như tạc! Tay chân, mặt mũi, cả cách ăn mặc nữa, đều y hệt nhau!
Trong khi mọi người cứ xem xét trầm trồ không ngớt về sự giống nhau kỳ diệu
kia, người đàn bà ấy đâm ra hoát hoảng trong thật thảm hại. Bà ta ̣a ra khóc
lớn rằng đây hẳn là con trai bà! Rồi vừa khóc lóc vừa kể lể, cả hai người cứ
ôm lấy nhau mà ngă lăn ra. Sau đó gă hỏi:
- Nay mẹ đang ở đâu vậy mẹ?
- Mẹ đang ở nhà vị Tế sư đấy con ạ. Ngài có môt cô tiểu thiếp đẹp vô song,
quả là tiên trên trời mới đẹp như thế và mẹ là người hầu của nàng ấy.
- Thế mẹ đang đi đâu đấy?
- Mẹ đi mua hoa tươi và nước hoa cho nàng ấy.
- Sao mẹ c̣n đi đâu mà mua các thứ ấy nữa? Lần sau mẹ cứ đến đây, gă kia
bảo.
Và gă tặng bà già trầu cau cùng đủ thứ hoa mà không lấy tiền. Cô gái ngạc
nhiên thấy số hoa tươi và nước hoa bà ta đem về quá nhiều, bèn hỏi tại sao
vị Tế sư Bà-la-môn lại hậu hỉ với nàng thế. Bà già đáp:
- Sao con lại nói thế hở con?
- V́ số hương hoa bà đem về nhà đấy mà.
- Ồ không, chẳng phải ngà Bà-la-môn cho tiền hào phóng đâu, bà già bảo, mà
chính v́ già này lấy các thứ kia ở tiệm của con trai già đấy.
Và từ đó, bà già giữ riêng số tiền vị Bà-la-môn đưa, rồi đi đến lấy hoa tươi
cùng đủ thứ khác tại tiệm gă kia khỏi mất tiền.
Vài ngày sau, gă giả vờ đau ốm, lên giường nằm. Khi bà già ấy đến cửa tiệm
hỏi con trai bà đâu th́ được biết gă đang bị bệnh. Bà vội bước vào tận nơi,
âu yếm vuốt ve đôi vai gă và hỏi nguyên nhân cơn bệnh. Nhưng gă không đáp.
- Tạo sao con không nói cho mẹ biết hả con?
- Dù con có chết đi cũng không dám nói với mẹ đâu.
- Nhưng nếu con không nói với mẹ th́ c̣n nói với ai được nữa?
- Thế th́ mẹ ôi, bệnh của con phát ra chỉ v́ nghe mẹ cứ khen cô tiểu chủ của
mẹ đẹp tuyệt trần nên con đâm ra si t́nh phát ốm tương tư đó thôi! Nếu con
chiếm được nàng, con mới sống nổi, c̣n không th́ con đành nằm ở đây chờ
chết.
- Con ơi, con cứ để việc này cho mẹ lo liệu. Bà già nói một cách vui vẻ -
Con đừng lo lắng ǵ về chuyện đó.
Thế rồi mang một thúng chất đầy hoa tươi cùng nước hoa, mụ đem về nhà, nói
với nàng tiểu thiếp của vị Bà-la-môn:
- Chao ôi! Con trai già đang ốm tương tư v́ nàng, chỉ v́ già bảo cho nó biết
nàng đẹp tuyệt vời! Bây giờ biết làm sao đây?
Cô gái đáp:
- Nếu bà t́m cách lén đem được cậu ấy vào đây, th́ ta cho phép bà đấy.
Ngay sau đó mụ già liền bắt tay quét dọn tất cả đồ đạc hư cũ, rác rưởi trong
nhà thâu góp cả bảy tầng lầu từ rầm thượng cho đến nhà bếp, bỏ vào một thúng
đựng hoa to tướng rồi t́m cách đưa ra ngoài. Khi người ta lục soát như
thường lệ th́ mụ già đổ cả thúng rác lên đầu người đàn bà giữ cổng, khiến
người đó bỏ chạy ngay trước cách đối xử quá thô bạo như thế! Mụ già cũng làm
cách ấy với các người giữ cổng kia, khiến cho họ ngột thở v́ đống rác rưởi
trút lên đầu và mọi người la lối mụ đủ điều.
Thế là từ đó về sau, mụ già có đưa vào đưa ra bất cứ vật ǵ, cũng không ai
có gan lục soát mụ nữa! Thời cơ đă đến tay! Mụ lén đưa gă điếm đàng giấu
trong thúng hoa vào gặp cô tiểu chủ. Gă làm hư hỏng đức hạnh của cô gái ngay
và c̣n cả gan ở lại một hai ngày trong những căn gác nhỏ trên lầu. Gă lánh
mặt khi vị Tế sư đến nhà, và bầu bạn với cô gái khi vị ấy đi khỏi. Sau một
hai ngày, cô gái bảo t́nh nhân:
- Này lang quân yêu quư, chàng phải ra đi rồi đấy.
- Đúng rồi, nhưng ta muốn đánh lăo Bà-la-môn ấy một cái đă.
- Được lắm chứ.
Cô gái đáp và đem giấu gă một nơi. Sau đó vị Bà-la-môn đến, cô nàng kêu lên:
- Này phu quân yêu dấu, tiện thiếp ưa thích ca múa biết bao, ước ǵ phu quân
vui ḷng thổi sáo cho thiếp.
- Vậy ái nương hăy múa đi nào.
Vị Bà-la-môn lập tức thổi sáo lên.
***YouTube
2 ***
- Nhưng nếu phu quân nh́n thiếp th́ thiếp xấu hổ thẹn thùng quá không sao
dám múa đâu, để tiện thiếp lấy cái khăn che kín khuôn mặt khôi ngô khả ái
của phu quân trước đă, rồi tiện thiếp mới dám múa.
- Thôi được rồi, nếu ái nương quá khiêm nhượng mà không dám múa th́ cứ làm
thế đi.
Vậy là cô nàng lấy một tấm vải thật dày buộc chặt lên mặt lăo Bà-la-môn để
che mắt lăo. Và cứ giả mù như thế, lăo bắt đầu thổi sáo. Nhảy múa được một
lát, cô nàng lại kêu lên:
- Chàng yêu quư ôi, thiếp lại c̣n thích đánh chàng một cái trên đầu nữa cơ!
- Vậy th́ nàng cứ đánh đi nào!
Lăo già ngốc nghếch đáp mà không chút nghi ngờ ǵ cả. Thế là cô ả liền ra
hiệu cho gă t́nh nhân, hắn nhẹ nhàng lẻn ra sau lưng lăo Bà-la-môn đánh cho
lăo một đấm trên đầu nên thân! Cái đấm mới đích đáng làm sao, khiến hai mắt
lăo như muốn ḷi ra khỏi mặt, trên đầu lăo u lên một cục lớn! Lăo thấy đau
điếng người, liền gọi cô ả kia đến gấp, đưa tay cho lăo xem, và cô ả bèn đặt
tay ḿnh vào tay lăo:
- Ồ bàn tay nàng mềm mại quá, sao nó lại đánh đau thế này?
Bấy giờ, khi gă đểu cáng kia đánh lăo Bà-la-môn xong, gă lại đi ẩn ḿnh như
cũ. Lúc ấy cô gái mở khăn ra khỏi mặt lăo, xoa dầu lên chỗ đầu bị u. Một lát
sau lăo ra về, gă kia lại được mụ già giấu vào giỏ hoa đưa ra khỏi nhà. Lập
tức gă đến yết kiến đức vua và tâu tŕnh toàn thể cuộc phiêu lưu của gă cho
ngài hay.
Bởi thế, khi vị Bà-la-môn vào chầu, vua liền đề nghị chơi bài súc sắc, vị ấy
đồng ư và chiếc bàn chơi bài được đem ra. Khi vua ném con bài, ngài cũng ca
khúc hát ấy và vị Bà-la-môn, v́ không hay biết ǵ về sự hư hỏng của cô tiểu
thiếp, nên vẫn nói thêm:
- Bao giờ cô gái của hạ thần cũng là ngoại lệ đấy.
Nhưng lần này lăo thua cuộc!
C̣n vua đă biết rơ mọi việc xảy ra, liền bảo Tế sư:
- Sao lại trừ nàng ấy ra? Nàng ấy đă hư thân mất nết rồi. Ồ khanh cứ tưởng
là đem về nuôi một con bé từ khi lọt ḷng mẹ và nhốt nó trong bảy ṿng canh
giữ là khanh có thể vững ḷng tin vào nó ư? Này, khanh không thể tin vào một
nữ nhân nào cả, dù cho khanh có ôm nó trong ḷng, quanh quẩn suốt ngày bên
nó không rời một khắc! Chẳng hề có một người đàn bà nào giữ dạ chung thủy
với một người đàn ông duy nhất trên đời. C̣n về ả tiểu thiếp của khanh, ả
bảo khanh rằng ả muốn nhảy múa, rồi khi đă bịt mắt khanh xong xuôi, khanh
thổi sáo cho ả, th́ ả lại để gă t́nh nhân đánh lên đầu khanh đấy, sau đó lén
đưa gă ra khỏi nhà. Thế th́ ngoại lệ của khanh ở đâu chứ?
Khi nói vậy xong, nhà vua liền ngâm kệ:
Tṛ chơi sáo giả mù,
V́ vợ bé phỉnh phờ,
Bà-la-môn ngồi đó,
Cố ǵn giữ gái tơ,
Tạo nên người đức hạnh,
Trong trắng, chẳng bùn nhơ!
Học ngay từ việc ấy,
Mà sợ đám liễu bồ!
|
[paragraph continues] [290] As
these lines always made the king win the game, the chaplain was in a fair
way to lose every penny he had in the world. And, in order to save himself
from utter ruin, he resolved to seek out a little maid that had never seen
another man, and then to keep her under lock and key in his own house.
"For," thought he, "I couldn't manage to look after a girl who has seen
another man. So I must take a new-born baby girl, and keep her under my
thumb as she grows up, with a close guard over her, so that none may come
near her and that she may be true to one man. Then I shall win of the king,
and grow rich." Now he was skilled in prognostication; and seeing a poor
woman who was about to become a mother, and knowing that her child would be
a girl, he paid the woman to come and be confined in his house, and sent her
away after her confinement with a present. The infant was brought up
entirely by women, and no men--other than himself--were ever allowed to set
eyes on her. When the girl grew up, she was subject to him and he was her
master.
Now, while the girl was growing up, the chaplain forbore to play with the
king; but when she was grown up and under his own control,
he challenged the king to a game. The king accepted, and play began. But,
when in throwing the dice the king sang his lucky catch, the chaplain
added,--"always excepting my girl." And then luck changed, and it was now
the chaplain who won, while the king lost.
Thinking the matter over, the Bodhisatta suspected the chaplain had a
virtuous girl shut up in his house; and enquiry proved his suspicions true.
Then, in order to work her fall, he sent for a clever scamp, and asked
whether he thought he could seduce the girl. "Certainly, sire," said the
fellow. So the king gave him money, and sent him away with orders to lose no
time.
With the king's money the fellow bought perfumes and incense and aromatics
of all sorts, and opened a perfumery shop close to the chaplain's house. Now
the chaplain's house was seven stories high, and had seven gateways, at each
of which a guard was set,--a guard of women only,--and no man but the
brahmin himself was ever allowed to enter. The very baskets that contained
the dust and sweepings [291] were examined before they were passed in. Only
the chaplain was allowed to see the girl, and she had only a single
waiting-woman. This woman had money given her to buy flowers and perfumes
for her mistress, and on her way she used to pass near the shop which the
scamp had opened. And he, knowing very well that she was the girl's
attendant, watched one day for her coming, and, rushing out of his shop,
fell at her feet, clasping her knees tightly with both hands and blubbering
out, "O my mother! where have you been all this long time?"
And his confederates, who stood by his side, cried, "What a likeness! Hand
and foot, face and figure, even in style of dress, they are identical!" As
one and all kept dwelling on the marvellous likeness, the poor woman lost
her head. Crying out that it must be her boy, she too burst into tears. And
with weeping and tears the two fell to embracing one another. Then said the
man, "Where are you living, mother?"
"Up at the chaplain's, my son. He has a young wife of peerless beauty, a
very goddess for grace; and I'm her waiting-woman." "And whither away now,
mother?" "To buy her perfumes and flowers." "Why go elsewhere for them? Come
to me for them in future," said the fellow. And he gave the woman betel,
bdellium, and so forth, and all kinds of flowers, refusing all payment.
Struck with the quantity of flowers and perfumes which the waiting-woman
brought home, the girl asked why the brahmin was so pleased with her that
day. "Why do you say that, my dear?" asked the old woman. "Because of the
quantity of things you have brought home." "No, it isn't that the brahmin
was free with his money," said the old woman; "for I got them at my son's."
And from that day forth she kept the money the brahmin gave her, and got her
flowers and other things free of charge at the man's shop.
And he, a few days later, made out to be ill, and took to his bed. So when
the old woman came to the shop and asked for her son, she was told he had
been taken ill. Hastening to his side, she fondly stroked his shoulders, as
she asked what ailed him. But he made no reply. "Why don't you tell me, my
son?" "Not even if I were dying, could I tell you, mother." "But, if you
don't tell me, [292] whom are you to tell?" "Well then, mother, my malady
lies solely in this that, hearing the praises of your young mistress's
beauty, I have fallen in love with her. If I win her, I shall live; if not,
this will be my death-bed." "Leave that to me, my boy," said the old woman
cheerily; "and don't worry yourself on this account." Then--with a heavy
load of perfumes and flowers to take with her--she went home, and said to
the brahmin's young wife, "Alas! here's my son in love with you, merely
because I told him how beautiful you are! What is to be done?"
"If you can smuggle him in here," replied the girl, "you have my leave."
Hereupon the old woman set to work sweeping together all the dust she could
find in the house from top to bottom; this dust she put into a huge
flower-basket, and tried to pass out with it. When the usual search was
made, she emptied dust over the woman on guard, who fled away under such
ill-treatment. In like manner she dealt with all the other watchers,
smothering in dust each one in turn that said anything to her. And so it
came to pass from that time forward that, no matter what the old woman took
in or out of the house, there was nobody bold enough to search her.
** YouTube 2 English
**
Now was
the time! The old woman smuggled the scamp into the house in a
flower-basket, and brought him to her young mistress. He succeeded in
wrecking the girl's virtue, and actually stayed a day or two in the upper
rooms,--hiding when the chaplain was at home, and enjoying the society of
his mistress when the chaplain was off the premises.
A day or two passed and
the girl said to her lover, "Sweet-heart, you must be going now." "Very
well; only I must cuff the brahmin first." "Certainly," said she, and hid
the scamp. Then, when the brahmin came in again, she exclaimed, "Oh, my dear
husband, I should so like to dance, if you would play the lute for me."
"Dance away, my dear," said the chaplain, and struck up forthwith. "But I
shall be too ashamed, if you're looking. Let me hide your handsome face
first with a cloth; and then I will dance." "All right," said he; "if you're
too modest to dance otherwise." So she took a thick cloth and tied it over
the brahmin's face so as to blindfold him. And, blindfolded as he was, the
brahmin began to play the lute. After dancing awhile, she cried, "My clear,
I should so like to hit you once on the head." "Hit away," said the
unsuspecting dotard. Then the girl made a sign to her paramour; and he
softly stole up behind the brahmin [293] and smote him on the head.
Such was the force of the blow, that the brahmin's
eyes were like to start out of his head, and a bump rose up on the spot.
Smarting with pain, he called to the girl to give him her hand; and she
placed it in his. "Ah! it's a soft hand," said he; "but it hits hard!"
Now, as soon as the scamp had struck the brahmin, he hid; and when he was
hidden, the girl took the bandage off the chaplain's eyes and rubbed his
bruised head with oil. The moment the brahmin went out, the scamp was stowed
away in his basket again by the old woman, and so carried out of the house.
Making his way at once to the king, he told him the whole adventure.
Accordingly, when the brahmin was next in attendance, the king proposed a
game with the dice; the brahmin was willing; and the dicing-table was
brought out. As the king made his throw, he sang his old catch, and the
brahmin--ignorant of the girl's naughtiness--added his "always excepting my
girl,"--and nevertheless lost!
Then the king, who did know what had passed, said to his chaplain, "Why
except her? Her virtue has given way. Ah, you dreamed that by taking a girl
in the hour of her birth and by placing a sevenfold guard round her, you
could be certain of her. Why, you couldn't be certain of a woman, even if
you had her inside you and always walked about with her. No woman is ever
faithful to one man alone. As for that girl of yours, she told you she
should like to dance, and having first blindfolded you as you played the
lute to her, she let her paramour strike you on the head, and then smuggled
him out of the house. Where then is your exception?" And so saying, the king
repeated this stanza:--
Blindfold, a-luting, by his wife beguiled,
The brahmin sits,--who tried to rear
A paragon of virtue undefiled!
Learn hence to hold the sex in fear.
|
Bằng cách ấy, Bồ-tát thuyết pháp
cho vị Bà-la-môn. Vị ấy về nhà hạch hỏi cô gái về tội hư thân mất nết mà cô
ả đă bị tố cáo trên.
- Này phu quân yêu quư, ai có thể nói như vậy về tiện thiếp đấy? Cô gái phân
trần: Tiện thiếp vô tội thật mà, chính bàn tay thiếp đánh chàng thật mà, chứ
c̣n ai vào đây nữa? Nếu phu quân không tin lời thiếp th́ thiếp xin nguyền
đem thân này ra thử lửa để chứng tỏ không hề có bàn tay nam nhân nào từng
đụng vào người thiếp cả, nhờ vậy mong chàng tin tưởng thiếp.
- Muốn thế th́ được ngay.
Vị Bà-la-môn liền bảo đem một đống củi vào và châm lửa lên. Sau đó cô gái
được gọi đến:
- Này, vị Bà-la-môn nói, nếu nàng tin tưởng lời ḿnh thật th́ hăy thử lửa
đi.
Trước đó, cô gái đă dặn ḍ mụ già nọ như sau:
- Này mẹ ôi, mẹ hăy gọi con trai mẹ đến sẵn đây để nắm lấy tay con đúng lúc
con sắp bước vào lửa nhé!
Và mụ già làm đúng như lời cô ả dặn, bảo gă kia đứng chen vào đám đông đang
vây quanh. Sau đó để đánh lừa vị Bà-la-môn, cô gái đứng trước mặt mọi người,
hăng hái thề thốt:
- Thưa phu quân, không hề có tay ai trừ tay chàng đụng vào người thiếp cả,
với lời thề chân thật này, thiếp cầu mong ngọn lửa đừng làm hại thân thiếp.
Nói vậy xong, cô ả tiến đến đống lửa vừa đúng lúc gă t́nh nhân nhảy lên chụp
lấy tay ả, hét to rằng vị Bà-la-môn thật đáng xấu hổ v́ đă bắt buộc một
thiếu nữ diễm lệ thế kia phải nhảy vào lửa đỏ! Cô gái giật mạnh tay ra khỏi
tay gă, và kêu ca rằng lời xác nhận trước đây của ả đă bị làm hỏng mất rồi,
nên bây giờ ả không thể thử lửa được nữa! Vị Bà-la-môn hỏi:
- Tại sao lại không được?
Cô ả đáp:
-Bởi v́ trước kia thiếp xác nhận không hề có bàn tay nam nhân nào đụng vào
người thiếp trừ tay chàng ra, nhưng bây giờ lại có một người đàn ông vừa
chụp lấy tay thiếp!
Nghe vậy, vị Bà-la-môn biết rằng ḿnh đă bị lừa, liền tống cổ cô ả ra khỏi
nhà bằng những cái đấm thẳng tay!
Xem đấy, chúng ta biết rơ sự hư thân mất nết của đàn bà ra sao rồi. Không có
tội lỗi nào mà chúng không phạm đến cả, rồi sau đó muốn đánh lừa các ông
chồng, th́ có lời thề thốt nào chúng không nói bừa cho xong đă chứ! Ngay
giữa ban ngày ban mặt thế mà dám cho rằng chẳng hề phạm tội ǵ cả đấy! Ḷng
dạ chúng thật giả dối điêu ngoa làm sao! Do đó từ xưa đă có tục ngữ như vầy:
Một giống toàn lừa phỉnh, dối gian,
Làm sao hiểu nổi, cứ tung tăng
Như đàn cá lội theo ḍng nước,
Lộng giả thành chân, thói các nàng!
Tựa giống ḅ tham đồng cỏ mới,
Má đào mơ ước đổi t́nh lang
Khác nào cát lún, không hề thỏa,
Độc dữ như loài rắn hổ mang!
Bọn nữ nhi thường rành mọi sự,
C̣n ghi giấu được đám hồng nhan?
|
In such wise did the
Bodhisatta expound the Truth to the brahmin. And the brahmin went home and
taxed the girl with the wickedness of which she was accused. "My dear
husband, who can have said such a thing about me?" said she. "Indeed I am
innocent; indeed it was my own hand, and nobody else's, that struck you;
and, if you do not believe me, I will brave the ordeal of fire to prove that
no man's hand has touched me but yours; and so I will make you believe me."
"So be it," said the brahmin. And he had a quantity of wood brought and set
light to it. Then the girl was summoned. "Now," said he, "if you believe
your own story, brave these flames!"
Now before this the girl had instructed her attendant as follows:--"Tell
your son, mother, to be there and to seize my hand just as I am about to go
into the fire." And the old woman did as she was bidden; and the fellow came
and took his stand among the crowd. Then, to
delude the brahmin, the girl, standing there before all the people,
exclaimed with fervour, "No man's hand but thine, brahmin, has ever touched
me; and, by the truth of my asseveration I call on this fire to harm me
not." So saying, she advanced to the burning pile,--when up dashed her
paramour, who seized her by the hand, crying shame on the brahmin who could
force so fair a maid to enter the flames! Shaking her hand free, the girl
exclaimed to the brahmin that what she had asserted was now undone, and that
she could not now brave the ordeal of fire. "Why not?" said the brahmin.
"Because," she replied, "my asseveration was that no man's hand but thine
had ever touched me; and now here is a man who has seized hold of my
hand!" But the brahmin, knowing that he was tricked, drove her from him with
blows.
Such, we learn, is the wickedness of women. What crime will they not commit;
and then, to deceive their husbands, what oaths will they not take--aye, in
the light of day--that they did it not! So false-hearted are they! Therefore
has it been said:--
A sex composed of wickedness and guile,
Unknowable; uncertain as the path
Of fishes in the water,--womankind
Hold truth for falsehood, falsehood for the truth!
As greedily as cows seek pastures new,
Women, unsated, yearn for mate on mate.
As sand unstable, cruel as the snake,
Women know all things; naught from them is hid!
_____________________________
|
Quả thật không làm sao giữ nổi đàn
bà, bậc Đạo Sư nói.
Khi pháp thoại chấm dứt, Ngài tuyên thuyết các Sự thật. Đến cuối bài giảng
ấy, vị Tỷ-kheo bị tham ái chi phối kia đắc quả Dự lưu. Bậc Đạo Sư cũng nêu
mối liên hệ giữa hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy Ta là vua Ba-la-nại kia vậy.
(Contents) |
"Even so impossible is it to ward
women," said the Master. His lesson ended, he preached the Truths, at the
close whereof the passion-test Brother won the Fruit of the First Path. Also
the Master showed the connexion and identified the Birth by saying:--"In
these days I was the king of Benares."
[Note. The cuffing of the brahmin is the subject of a Bharhut sculpture,
Plate 26, 8. For a parallel to the trick by which the girl avoids the ordeal
of fire, see Folklore 3. 291.]
|
63. CHUYỆN HIỀN SĨ CHÀ LÀ (Tiền
thân Takka)
Bọn nữ nhân đầy rẫy hận sân...,
Câu chuyện này do bậc Đạo Sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo bị
tham dục chi phối. Khi được hỏi, vị Tỷ-kheo thú nhận rằng ḿnh bị tham dục
chi phối, bậc Đạo Sư hỏi:
- Đàn bà thật vong ân bội nghĩa, tại sao ông lại để dục tham chi phối v́ họ?
Và Ngài kể câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ vua Brahmadatta trị v́ Ba-la-nại, Bồ-tát đă chọn đời ẩn sĩ, xây
dựng cho ḿnh một am thất bên bờ sông Hằng, tại đó ngài đă đạt các Thắng trí
cùng các Thiền chứng, và an trú trong Thiền lạc. Thời ấy, vị quan giữ công
khố ở thành Ba-la-nại có một cô con gái rất hung dữ, độc ác được mệnh danh
là Ác Tiểu thư, thường hay mắng chửi đánh đập gia nhân, nô tỳ của ḿnh.
Một ngày kia, bọn gia nhân đưa cô tiểu chủ đến vui chơi giải trí trên sông
Hằng; cả đám đang đùa giỡn tung tăng trên mặt nước th́ mặt trời lặn dần và
một cơn băo lớn bỗng nổi lên. V́ thế, mọi người vội vă chạy trốn, c̣n lại
bọn nữ tỳ của nàng kêu to: "Đây chính là thời cơ tống khứ kẻ ác độc này
đi!". Rồi chúng ném thẳng cô gái xuống nước và vội vă bỏ về. Mưa trút xuống
như thác, mặt trời dần khuất và màn đêm xuống rất nhanh.
Khi bọn nô tỳ về nhà mà không có cô tiểu chủ, liền bị tra hỏi tiểu thư đâu,
họ đều thưa rằng tiểu thư đă bước lên khỏi bờ sông, nhưng họ không biết nàng
đă đi đâu cả. Gia đ́nh này đi t́m kiếm khắp nơi, nhưng không thấy tung tích
cô gái đi lạc.
Trong lúc ấy, nàng kêu gào thất thanh v́ bị nước lũ cuốn theo, đến nửa đêm
th́ trôi dạt vào gần am thất của Bồ-tát. Nghe tiếng cầu cứu, ngài tự nhủ:
"Đây là tiếng đàn bà kêu cứu. Ta phải cứu người ấy khỏi nước cuốn mới được".
Thế là ngài cầm ngọn đuốc cỏ soi sáng để t́m thấy nàng giữa ḍng nước.
- Đừng sợ! Đừng sợ!
Ngài vui mừng kêu lên và lội xuống, rồi nhờ sức lực cường tráng như voi của
ngài, ngài đưa cô gái vào bờ an toàn. Sau đó, ngài nhóm lửa trong am thất để
sưởi ấm nàng và mang trái cây ngon ngọt đủ loại cho nàng dùng. Khi nàng vừa
ăn, ngài hỏi:
- Nhà cô nương ở đâu, cớ sao lại rơi xuống sông?
Cô gái kể hết mọi việc đă xảy ra cho ḿnh. Ngài bảo:
- Cô nương cứ tạm thời ở lại đây.
Ngài để cô gái ở trong am thất, c̣n phần ngài ra ở ngoài trời khoảng hai, ba
ngày. Sau đó, ngài bảo cô gái ra đi, song cô ả cứ nấn ná ở lại cho đến khi
quyến rủ được vị ẩn sĩ này say mê ḿnh mà cô vẫn không chịu đi đâu cả. Thời
gian qua cô gái dùng mọi vẻ yêu kiều của mỹ nhân kế khiến ngài mất hết thiền
lực trí tuệ. Ngài vẫn cùng nàng ấy sống trong rừng.
Nhưng nàng lại không thích ở nơi hiu quạnh măi, nên đ̣i ngài đem về nơi có
dân cư. Thế là ch́u theo lời năn nỉ ỉ ôi kia, ngài đành đem nàng ấy ra đi
đến một làng ở biên địa, nuôi sống nàng bằng cách bán quả chà là, nên được
gọi tên là "Hiền sĩ Chà Là". Dân làng nhờ ngài dạy cho cách biết trước lúc
được mùa hoặc mất mùa, rồi trả tiền cho ngài và biếu ngài một túp lều để
sống ở cổng làng.
***YouTube 3 ***
Bấy giờ vùng biến địa hay bị bọn cướp từ núi xuống tàn hại phá phách. Ngày
kia bọn chúng tấn công ṿ làng ngài đang ở và cướp của cải. Chúng bắt dân
làng khốn khổ kia thu góp hết tài sản cho chúng rồi cao chạy xa bay, mang
theo cô tiểu thư con quan thủ khố cùng với nhiều người khác về sào huyệt của
chúng. Đến nơi, chúng thả mọi người kia ra, song giữ lại cô gái có nhan sắc
ấy để làm áp trại phu nhân của viên tướng cướp thủ lănh.
Khi Bồ-tát biết việc này, ngài suy nghĩ: "Chắc nàng sẽ không chịu ở xa ta
đâu. Nàng sẽ trốn về đây với ta". Thế rồi ngài vẫn ở đó chờ đợi nàng trở về.
Trong lúc ấy nàng thấy rất hạnh phúc và được phỉ nguyện với bọn cướp kia,
nên cứ nơm nớp lo sợ có ngày vị Hiền sĩ bán chà là đến bắt nàng đi về lần
nữa. Nàng nghĩ thầm: "Ta sẽ được an lạc hơn nếu vị ấy chết đi. Vậy ta phải
nhắn tin cho vị ấy giả vờ làm vẻ thương yêu để dụ vị ấy đến đây mà chịu chết
cho xong". Sau đó nàng t́m cách đưa tin cho ngài biết là nàng đang khổ sở
lắm, và nàng mong ước ngài đến cứu đi về.
Ngài tin lời nàng, vội lên đường đến cổng làng của bọn cướp, nhắn tin cho
nàng. Nàng bảo:
- Bây giờ ta trốn đi chắc phải rơi vào tay tên thủ lănh và hắn giết ta thôi.
Vậy ta hăy đợi đến nửa đêm rồi đào tẩu.
Thế là nàng đem giấu ngài trong pḥng, vào nửa đêm tên cướp trở về nực nồng
hơi rượu, nàng hỏi hắn:
- Này lang quân, chàng sẽ làm ǵ nếu t́nh địch ở trong tay chàng?
Hắn bảo sẽ làm thế này thế nọ đối với t́nh địch. Nàng bảo:
- Có lẽ gă kia cũng không ở đâu xa xôi như chàng tưởng đâu. Hiện nó đang ở
trong pḥng kế bên ấy.
Cầm vội ngọn đuốc, tên cướp chạy vào chụp lấy Bồ-tát đánh đấm khắp ḿnh mẩy
cho hả giận. Cam ḷng chịu đựng những cái đánh đấm kia, Bồ-tát không hề kêu
than ǵ, mà chỉ th́ thầm:
- Ôi phường vong ân bội nghĩa, thật là gian ác. Bọn lừa đảo điêu ngoa xảo
trá thế là cùng. Ngài chỉ nói chứng ấy thôi.
Sau khi đă đánh đập và trói chân Bồ-tát lại, tên cướp ăn uống xong liền nằm
lăn ra ngủ. Sáng dậy, sau giấc ngủ tiêu tan hết cơn say sưa hồi hôm, tên
cướp lại đánh đập Bồ-tát lần nữa, ngài cũng không kêu than ǵ, mà chỉ lặp
lại mấy lời trên. Tên cướp ngạc nhiên trước chuyện này và hỏi lư do tại sao
khi bị đánh đập, ngài cứ nói măi như thế.
Hiền sĩ Chà Là đáp:
|
http://1066.htm
No. 63.
TAKKA-JĀTAKA.
** YouTube 3 English
**
"Wrathful are women."--This story was told by the Master while at Jetavana,
about another passion-tost Brother. When on being questioned the Brother
confessed that he was passion-tost, the Master said, "Women are ingrates and
treacherous; why are you passion-tost because of them?" And he told this
story of the past.
_____________________________
Once on a time when Brahmadatta was reigning in Benares, the Bodhisatta, who
had chosen an anchorite's life, built himself a hermitage by the banks of
the Ganges, and there won the Attainments and the Higher Knowledges, and so
dwelt in the bliss of Insight. In those days the Lord High Treasurer of
Benares had a fierce and cruel daughter, known as Lady Wicked, who used to
revile and beat her servants and slaves. And one day they took their young
mistress [296] to disport herself in the Ganges; and the girls were playing
about in the water, when the sun set and a great storm burst upon them.
Hereon folks scampered away, and the girl's attendants, exclaiming, "Now is
the time to see the last of this creature!" threw her right into the river
and hurried off. Down poured the rain in torrents, the sun set, and darkness
came on. And when the attendants reached home without their young mistress,
and were asked where she was, they replied that she had got out of the
Ganges but that they did not know where she had gone. Search was made by her
family, but not a trace of the missing girl could be found.
Meantime she, screaming loudly, was swept down by the swollen stream, and at
midnight approached where the Bodhisatta dwelt in his hermitage. Hearing her
cries, he thought to himself, "That's a woman's voice. I must rescue her
from the water." So he took a torch of grass and by its light descried her
in the stream. "Don't be afraid; don't be afraid!" he shouted cheerily, and
waded in, and, thanks to his vast strength, as of an elephant, brought her
safe to land. Then he made a fire for her in his hermitage and set luscious
fruits of divers kinds before her. Not till she had eaten did he ask, "Where
is your home, and how came you to fall in the river?" And the girl told him
all that had befallen her. "Dwell here for the present," said he, and
installed her in his hermitage, whilst for the next two or three days he
himself abode in the open air. At the end of that time he bade her depart,
but she was set on waiting till she had made the ascetic fall in love with
her; and would not go. And as time went by, she so wrought on him by her
womanly grace and wiles that he lost his Insight. With her he continued to
dwell in the forest. But she did not like living in that solitude and wanted
to be taken among people. So yielding to her importunities he took her away
with him to a border village, where he supported her by selling dates, and
so was called the Date-Sage 1. And the villagers paid
him to teach them what were lucky and unlucky seasons, and gave him a hut to
live in at the entrance to their village.
Now the border was harried by robbers from the mountains; and they made a
raid one day [297] on the village where the pair lived, and looted it. They
made the poor villagers pack up their belongings, and off they went--with
the Treasurer's daughter among the rest--to their own abodes. Arrived there,
they let everybody else go free; but the girl, because of her beauty, was
taken to wife by the robber chieftain.
And when the Bodhisatta learned this, he thought to himself, "She will not
endure to live away from me. She will escape and come back to me." And so he
lived on, waiting for her to return. She meantime was very happy with the
robbers, and only feared that the Date-sage would come to carry her away
again. "I should feel more secure," thought she, "if he were dead. I must
send a message to him feigning love and so entice him here to his death." So
she sent a messenger to him with the message that she was unhappy, and that
she wanted him to take her away.
And he, in his faith in her, set out forthwith, and came to the entrance of
the robbers' village, whence be sent a message to her. "To fly now, my
husband," said she, "would only be to fall into the robber chieftain's hands
who would kill us both. Let us put off our flight till night." So she took
him and hid him in a room; and when the robber came home at night and was
inflamed with strong drink, she said to him, "Tell me, love, what would you
do if your rival were in your power?"
And he said he would do this and that to him.
"Perhaps he is not so far away as you think," said she. "He is in the next
room."
Seizing a torch, the robber rushed in and seized the Bodhisatta and beat him
about the head and body to his heart's content. Amid the blows the
Bodhisatta made no cry, only murmuring, "Cruel ingrates! slanderous
traitors!" And this was all he said. And when he had thus beaten, bound, and
laid by the heels the Bodhisatta, the robber finished his supper, and lay
down to sleep. In the morning, when he had slept off his over-night's
debauch, he fell anew to beating the Bodhisatta, who still made no cry but
kept repeating the same four words. And the robber was struck with this and
asked why, even when beaten, he kept saying that. [298]
|
- Này nghe đây, rồi người sẽ hiểu rơ. Trước kia ta là ẩn sĩ độc cư trong
rừng hoang, đă chứng đắc Thiền định Thắng trí. Sau đó, ta cứu người đàn bà
này ra khỏi sông Hằng và giúp đỡ nó đủ mọi nhu cầu, song đă bị nó quyến rủ
nên mất hết Thắng trí. Rồi ta từ bỏ rừng sâu, đem nó về làng sinh sống, từ
đó nó bị cướp mang đi. Nó lại nhắn tin cho ta là nó đang chịu khổ sở và xin
ta đến giải cứu nó. Nay nó đưa ta vào tay ngươi, v́ vậy ta cứ kêu lên như
thế đó.
Nghe vậy, tên cướp bắt đầu suy nghĩ lại, hắn thầm nhủ: "Nếu cô ả chẳng chút
thương tiếc một người tốt đă từng làm ơn cô ả nhiều như vậy, th́ ả sẽ không
làm hại ta sao được? Ả phải chết!".
Thế là sau khi an ủi Bồ-tát xong, hắn đánh thức cô ả dậy, vừa cầm kiếm trong
tay, hắn vừa bảo rằng hắn sắp giết Bồ-tát ngoài cổng làng. Rồi bảo ả giữ
chặt Hiền sĩ Chà Là, hắn tuốt kiếm ra, làm vẻ sắp giết ngài, nhưng lại chặt
làm đôi cô ả đàn bà kia. Xong xuôi hắn tắm gội cho Bồ-tát sạch sẽ từ đầu đến
chân và tiếp đăi ngài đủ món cao lương mỹ vị suốt mấy ngày liền cho thỏa
thích.
- Thế bây giờ ngài định đi đâu? Cuối cùng tướng cướp hỏi:
- Trần thế chẳng có ǵ vui thú đối với ta cả, bậc hiền sĩ nói. Ta sẽ sống
đời ẩn sĩ như xưa kia tại am thất cũ trong rừng.
- Thế th́ kẻ hèn này cũng muốn làm ẩn sĩ.
Như vậy cả hai đều trở thành ẩn sĩ sống tại am thất trong rừng kia, cùng đắc
các Thắng trí và các Thiền chứng, cho đến khi mạng chung th́ thọ sanh lên
Phạm thiên giới.
*
Kể câu chuyện ấy xong, bậc Đạo Sư nêu lên sự liên hệ giữa hai câu chuyện qua
các vần kệ sau:
Bọn nữ nhân đầy rẫy hận sân,
Nói mồm hai lưỡi, bọn vong ân,
Kẻ gieo chia rẽ, rồi gây chiến,
Vậy hỡi Tỷ-kheo, hăy bước chân
Thẳng tiến đường thanh cao chánh hạnh
Rồi ngươi thấy Cực-lạc siêu trần.
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự thật. Lúc kết thúc
bài giảng, vị Tỷ-kheo bị tham dục chi phối đắc quả Dự lưu. Và bậc Đạo Sư
nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, Ànanda là tướng cướp và Ta chính là Hiền sĩ Chà Là kia vậy.
-ooOoo-(Contents) |
"Listen," said the Date-Sage, "and you shall hear. Once I was a hermit
dwelling in the solitude of the forest, and there I won Insight. And I
rescued this woman from the Ganges and helped her in her need, and by her
allurements fell from my high estate. Then I quitted the forest and
supported her in a village, whence she was carried off by robbers. And she
sent me a message that she was unhappy, entreating
me to come and take her away. Now she has made me fall into your hands. That
is why I thus exclaim."
This set the robber a-thinking again, and he thought, "If she can feel so
little for one who is so good and has done so much for her, what injury
would she not do to me? She must die." So having reassured the Bodhisatta
and having awakened the woman, he set out sword in hand, pretending to her
that he was about to kill him outside the village. Then bidding her hold the
Date-Sage he drew his sword, and, making as though to kill the sage, clove
the woman in twain. Then he bathed the Date-Sage from head to foot and for
several days fed him with dainties to his heart's content.
"Where do you purpose to go now?" said the robber at last.
"The world," answered the sage, "has no pleasures for me. I will become a
hermit once more and dwell in my former habitation in the forest."
"And I too will become a hermit," exclaimed the robber. So both became
hermits together, and dwelt in the hermitage in the forest, where they won
the Higher Knowledges and the Attainments, and qualified themselves when
life ended to enter the Realm of Brahma.
_____________________________
After telling these two stories, the Master chewed the connexion, by
reciting, as Buddha, this stanza:--
Wrathful are women,
slanderers,
ingrates,
The sowers of
dissension and fell
strife!
Then, Brother, tread the path of holiness,
And Bliss therein thou shalt not fail to find.
[299] His lesson ended, the Master preached the Truths, at the close whereof
the passion-tost Brother won the Fruit of the First Path. Also, the Master
identified the Birth by saying, "Ānanda was the robber-chief of those days,
and I myself the Date-Sage."
--------------------------------------------------------------------------------
Footnotes
156:1 There is a play here upon the word takka, which cannot well be
rendered in English. The word takka-pa ito, which I have rendered 'Date
Sage,' would--by itself--mean 'Logic Sage,' whilst his living was got takkaṁ
vikkinitvā 'by selling dates.' There is the further difficulty that the
latter phrase may equally well mean by selling buttermilk.'
|
64. CHUYỆN NGƯỜI VỢ KHÓ HIỂU (Tiền
thân Duràjàna)
Chàng tưởng má hồng yêu mến chăng?...
Câu chuyện này do bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một nam cư sĩ.
Chuyện kể rằng thời ấy tại Xá-vệ có một nam cư sĩ thọ Tam quy và Ngũ giới,
là một đệ tử thuần thành của Phật, Pháp, Tăng. Nhưng vợ người này là một nữ
nhân độc ác, nham hiểm. Vào những ngày người vợ ấy phạm lỗi lầm, nàng nhu ḿ
nhẫn nhục như một nữ tỳ được mua về với giá một trăm đồng tiền, c̣n những
ngày nàng không phạm tội ǵ, th́ nàng lên mặt bà chủ nhà hay giận dữ và khắc
nghiệt. Người chồng không sao hiểu nổi nàng. Nàng cứ làm khổ người chồng đến
độ chàng không đến yết kiến đức Phật được.
Một ngày kia, chàng mang hương hoa đến, sau khỉ đảnh lễ kính cẩn xong, chàng
ngồi xuống th́ bậc Đạo Sư bảo:
- Này nam cư sĩ, làm sao đă bảy tám ngày qua ông không đến hội kiến Như Lai?
- Bạch Thế Tôn, vợ con có ngày th́ dễ bảo như một tỳ nữ mua về với giá một
trăm đồng tiền, vào ngày khác th́ hay giận dữ khắt khe như một bà chủ. Con
không làm sao hiểu vợ con được. Chính v́ vợ con làm phiền ḷng con đến độ
con không đến hầu đức Thế Tôn lâu nay.
Khi nghe người ấy nói vậy, bậc Đạo Sư bảo:
- Này cư sĩ, ông đă được các bậc hiền trí từ xưa nói cho biết rằng thật khó
hiểu được bản tính nữ nhân.
Và Ngài nói thêm:
- Nhưng v́ các tiền kiếp đă trở nên lẫn lộn trong trí ông nên ông không nhớ
nổi.
Nói vậy xong Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát làm một vị giáo
sư danh tiếng lừng lẫy khắp nơi, với năm trăm thanh niên Bà-la-môn thọ giáo
với ngài. Trong số đó có một thanh niên từ phương xa đến, chàng đă yêu một
thiếu nữ và cưới người đó làm vợ.
Dù chàng đang sống tại Ba-la-nại, chàng vẫn không thể nào đến hầu sư phụ
trong hai ba lần liền, v́ vợ chàng là người đàn bà độc ác, hễ ngày nào phạm
lỗi lầm th́ nàng ra vẻ nhu ḿ như một tỳ nữ, c̣n ngày nào không làm ǵ sai
trái th́ nàng lên mặt một bà chủ hay nóng giận, khắc nghiệt. Chồng nàng
không thể nào hiểu nổi tính nàng ra sao cả, và chán quá, bực ḿnh, khổ sở v́
nàng đến độ chàng không đến hầu hạ sư phụ. Bấy giờ, bảy tám ngày sau, chàng
lại đến hội kiến ngài, và được Bồ-tát hỏi tại sao lâu nay vắng mặt.
Chàng đáp:
- Bạch sư phụ, nguyên nhân là tại vợ con.
Rồi chàng kể cho Bồ-tát nghe, nàng đă nhu ḿ ra sao trong lúc làm vẻ như một
tỳ nữ, lúc khác lại khắt khe chuyên quyền khiến chàng không sao hiểu nàng
được. Và chàng quá phiền muộn khổ sở v́ tánh t́nh thất thường của nàng nên
đă vắng mặt như thế.
- Này cậu trai Bà-la-môn, rơ ràng như vậy, vào ngày lầm lỗi, đàm bà tỏ ra
khúm núm trước mặt chồng ḿnh và nhẫn nhục như bọn tỳ nữ; c̣n ngày nào không
lầm lỗi, họ tỏ ra cứng đầu bướng bỉnh với cả phu quân. Đàn bà độc ác nham
hiểm như thế đấy, khó mà biết được bụng dạ họ ra sao. Vậy cậu không nên quan
tâm đến những sở trường sở đoản của họ làm ǵ.
Nói vậy xong, Bồ-tát ngâm kệ này để khích lệ đệ tử ngài:
Chàng tưởng má hồng yêu mến chăng?
Này chàng trai hỡi, chớ vui mừng!
Tưởng là nàng chẳng yêu chàng nữa?
Nhẫn nại mà thôi, chớ oán hờn.
Ḷng dạ đàn bà ai hiểu được.
Như bầy cá lội nước tung tăng!
Đó là lời khuyến cáo của Bồ-tát đối với đệ tử ngài, nên từ đó chàng chẳng
c̣n quan tâm đến tính thất thường của nàng nữa. C̣n nàng, khi nghe nói nết
hạnh kém cỏi của ḿnh đă đến tai Bồ-tát, th́ nàng bỏ ngay thói hư tật xấu
kia, không c̣n tái phạm.
Phần người vợ của nam cư sĩ này tự nhủ: "Người ta bảo là đức Phật đă hiểu rơ
thói hư tật xấu của ḿnh rồi!". Từ đó nàng không c̣n sai phạm lỗi lầm như
trước kia.
*
Khi chấm dứt pháp thoại, bậc Đạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Đến lúc kết
thúc bài giảng, vị nam cư sĩ đắc quả Dự lưu. Sau đó bậc Đạo Sư nêu liên hệ
giữa hai chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy hai vợ chồng kia là hai vợ chồng ngày nay, và Ta chính là vị
giáo sư ấy.
-ooOoo-(Contents) |
http://067.htm
No. 64.
DURĀJĀNA-JĀTAKA. **
YouTube 4 English
**
"Think’st thou."--This story was told by the Master while at Jetavana, about
a lay-brother. Tradition says that there dwelt at Sāvatthi a lay-brother,
who was stablished in the Three Gems and the Five Commandments, a devout
lover of the Buddha, the Doctrine and the Brotherhood.
But his wife was a
sinful and wicked woman. On days when she did wrong, she was as meek as a
slave-girl bought for a hundred pieces; whilst on days when she did not do
wrong, she played my lady, passionate and tyrannical. The husband could not
make her out. She worried him so much that he did not go to wait on the
Buddha.
One day he went with perfumes and flowers, and had taken his seat after due
salutation, when the Master said to him:--"Pray how comes it, lay-brother,
that seven or eight days have gone by without your coming to wait upon the
Buddha?" "My wife, sir, is one day like a slave-girl bought for a hundred
pieces, while another day finds her like a passionate and tyrannical
mistress. I cannot make her out; and it is because she has worried me so
that I have not been to wait upon the Buddha."
Now, when he heard these words, the Master said, "Why, lay-brother, you have
already been told by the wise and good of bygone days that it is hard to
understand the nature of women."
And he went on to add "but his previous
existences have come to be confused in his mind, so that he cannot
remember." And so saying, he told this story of the past.
_____________________________
Once on a time when Brahmadatta was reigning in Benares, the Bodhisatta came
to be a teacher of world-wide fame, with five hundred young brahmins
studying under him. [300] One of these pupils was a young brahmin from a
foreign land, who fell in love with a woman and made her his wife. Though he
continued to live on in Benares, be failed two or three times in his
attendance on the master. For, you should know, his wife was a sinful and
wicked woman, who was as meek as a slave on days when she had done wrong,
but on days when she had not done wrong, played my lady, passionate and
tyrannical. Her husband could not make her out at all; and so worried and
harassed by her was he that he absented himself from waiting on the Master.
Now, some seven or eight days later he renewed his attendances, and was
asked by the Bodhisatta why he had not been seen of late.
"Master, my wife is the cause," said he. And he told the Bodhisatta how she
was meek one day like a slave-girl, and tyrannical the next; how he could
not make her out at all, and how he had been so worried and harassed by her
shifting moods that he had stayed away.
"Precisely so, young brahmin," said the Bodhisatta; "on days when they have
done wrong, women humble themselves before their husbands and become as meek
and submissive as a slave-girl; but on days when they have not done wrong,
then they become stiff-necked and insubordinate to their lords. After this
manner are women sinful and wicked; and their nature is hard to know. No
heed should be paid either to their likes or to their dislikes." And so
saying, the Bodhisatta repeated for the edification of his pupil this
Stanza:--
Think’st thou a woman loves thee?--be not glad.
Think’st thou she loves thee not?--forbear to grieve.
Unknowable, uncertain as the path
Of fishes in the water, women prove. Such was the Bodhisatta's instruction to his pupil, who thenceforward
paid no heed to his wife's caprices. And she, hearing that her misconduct
had come to the ears of the Bodhisatta, ceased from that time forward from
her naughtiness.
_____________________________
So too this lay-brother's wife said to herself, "The Perfect Buddha himself
knows, they tell me, of my misconduct," and thenceforth she sinned no more.
His lesson ended, the Master preached the Truths, at the close whereof the
lay-brother won the Fruit of the First Path. Then the Master shewed the
connexion and identified the Birth by saying--"This husband and wife were
also the husband and wife of those days, and I myself the teacher."
|
65. CHUYỆN NỖI BẤT MĂN. (Tiền thân
Anabhirati)
***YouTube
4 ***
Khác ǵ xa lộ, các ḍng sông...
Câu chuyện này do bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, cũng về một nam
cư sĩ như chuyện trước. Người này, trong lúc t́m hiểu, đă biết chắc chắn về
sự hư hỏng của vợ ḿnh, liền căi vă với nàng, kết quả là người ấy bực bội
đến độ bảy tám ngày liền không đến yết kiến bậc Đạo Sư.
Một ngày kia, chàng đến tinh xá, đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống. Khi được
hỏi tại sao chàng vắng mặt bảy tám ngày qua, chàng đáp:
- Bạch Đức Thế Tôn, vợ con hư hỏng khiến con quá phiền ḷng về việc ấy đến
độ không đến đây được.
Bậc Đạo Sư bảo:
- Này cư sĩ, ngày xưa người hiền thiện đă khuyên ông đừng buồn giận v́ thói
hư tật xấu của đàn bà mà phải giữ ḷng b́nh thản; tuy vậy, ông đă quên
chuyện này v́ ṿng luân hồi sinh tử đă che mắt ông.
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của vị cư sĩ, Ngài kể một câu chuyện quá
khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị v́ Ba-la-nại, Bồ-tát là một vị giáo sư
tiếng tăm lừng lẫy khắp nơi, như trong chuyện trước. Một đệ tử của ngài biết
được vợ ḿnh hư hỏng, lấy làm phiền muộn về điều khám phá trên, đến độ lánh
mặt đi vài ngày, nhưng một ngày kia được vị giáo sư hỏi thăm lư do vắng mặt
của chàng, chàng liền thổ lộ tâm sự của ḿnh. Sau đó vị giáo sư bảo:
- Này con, chẳng có ǵ riêng tư trong bọn đàn bà cả. Họ là của chung cho mọi
người đấy. V́ vậy khi người trí biết được nhược điểm của họ, các vị ấy không
tức giận v́ họ nữa.
Nói vậy xong, ngài ngâm kệ này để khích lệ tinh thần đệ tử:
Khác ǵ xa lộ, các ḍng sông,
Nhà trọ, sân vườn, các quán ăn,
Tửu điếm mở ra mời tất cả.
Thập phương lữ khách, thói ân cần
Thường t́nh nhi nữ là như thế,
Người trí không hề tỏ hận sân
Hạ cố bận ḷng v́ nhược điểm
Của loài liễu yếu, bọn hồng quần.
Đó là lời khuyến cáo của Bồ-tát đối với đệ tử ngài, từ đó về sau vị này giữ
b́nh thản trước mọi việc làm của nữ giới. C̣n người vợ kia cũng được cảm hóa
ngay khi nghe vị giáo sư đă biết rơ bản chất ḿnh, nên nàng từ bỏ thói hư
tật xấu cũ. Và vợ của người cư sĩ cũng vậy, khi nghe rằng bậc Đạo Sư đă hiểu
rơ bản chất của ḿnh, liền từ bỏ thói hư tật xấu cũ.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự thật. Đến lúc kết
thúc bài giảng, vị cư sĩ đắc quả Dư lưu. Bậc Đạo Sư cũng nêu sự liên hệ giữa
hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Hai vợ chồng này ngày nay cũng là hai vợ chồng ngày xưa, và ta chính là vị
giáo sư Bà-la-môn ấy.
-ooOoo-
(Contents) |
http://w68.htm
No. 65.
ANABHIRATI-JĀTAKA.
"Like highways."--This story was told by the Master while at Jetavana, about
just such another lay-brother as the last. This man, when on enquiry he
assured himself of his wife's misconduct, came to words with her, with the
result that he was so upset that for seven or eight days he failed in his
attendance. One day he came to the monastery, made his bow to the Blessed
One and took his seat. Being asked why he had been absent for seven or eight
days, he replied, "Sir, my wife has misconducted herself, and I have been so
upset about her that I did not come."
"Lay-brother," said the Master, "long ago the wise and good told you not to
be angered at the naughtiness found in women, but to preserve your
equanimity this, however, you have forgotten, because re-birth has hidden it
from you." And so saying, he told--at that lay-brother's request--this story
of the past.
_____________________________
Once on a time when Brahmadatta was reigning in Benares, the Bodhisatta was
a teacher of world-wide reputation, as in the foregoing story. And a pupil
of his, finding his wife unfaithful, was so affected by the discovery that
he stayed away for some days, but being asked one day by his teacher what
was the reason of his absence, he made a clean breast of it, Then said his
teacher, "My son, there is no private property in women: they are common to
all. And therefore wise men knowing
their frailty, are nod excited to anger against them." And so saying, he
repeated this stanza for his pupil's edification:--
Like highways, rivers, courtyards, hostelries,
Or taverns, which to all alike extend
One universal hospitality,
Is womankind; and wise men never stoop
To wrath at frailty in a sex so frail.
Such was the instruction which the Bodhisatta imparted to his pupil, who
thence forward grew indifferent to what women did. And as for his wife, she
was so changed by hearing that the teacher knew what she was, that she gave
up her naughtiness thenceforth.
_____________________________
So too that lay-brother's wife, when she heard that the Master knew what she
was, gave up her naughtiness thenceforth.
His lesson ended, the Master preached the Truths, at the close whereof the
lay-brother won the Fruit of the First Path. Also the Master shewed the
connexion and identified the Birth by saying, "This husband and wife were
also the husband and wife of those days, and I myself the brahmin teacher."
|
66. CHUYỆN HOÀNG HẬU TỪ TÂM (Tiền
thân Mudulakkhana)
Trước thời ta được Từ tâm...
Câu chuyện này được bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, về tính tham
đắm ái dục. Chuyện kể rằng một thiện gia nam tử ở Xá-vệ, sau khi nghe đức
Phật thuyết pháp, liền thành tâm hướng về Tam Bảo. Vị ấy xuất gia sống đời
Phạm hạnh, theo đúng Chánh đạo, thực hành Thiền định và không bao giờ xao
lăng trầm tư đối với đề tài Thiền quán mà vị ấy đă chọn.
Một ngày kia, trong lúc đang khất thực tại thành Xá-vệ, vị ấy chợt gặp một
nữ nhân có nhan sắc quyết rủ, khiến vị ấy ham thích nên đă vi phạm giới luật
tu hành là đưa mắt ngắm nàng! Dục tham bỗng khởi lên trong tâm vị ấy, khiến
chẳng khác ǵ cây sung bị búa ŕu đốn ngă xuống đất.
Từ ngày ấy, do dục tham chi phối, thâm tâm vị ấy đều mất hết sinh thú trong
đời sống tu hành, cũng chẳng t́m được Pháp lạc, vị ấy chẳng khác ǵ một con
thú hoang trong rừng, cứ để râu tóc, móng tay chân mọc dài ra dần và y phục
bẩn thỉu hôi hám.
Khi các vị đồng Phạm hạnh biết được tâm trạng khổ đau của vị ấy, liền bảo:
- Này Hiền giả, tại sao tâm trí Hiền giả chẳng được như trước?
Vị ấy đáp:
- Niềm an lạc của ta đă mất rồi.
Tăng chúng liền dẫn vị ấy đến yết kiến bậc Đạo Sư, ngài hỏi tại sao chúng
Tăng dẫn vị Tỷ-kheo ấy đến dù vị ấy không muốn.
- Bạch Thế Tôn, v́ niềm an lạc của vị ấy đă mất rồi.
- Này Tỷ-kheo, có đúng vậy chăng?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Vậy ai đă khiến ông phải phiền năo?
- Bạch Thế Tôn, trên đường đi khất thực, con đă vi phạm giới luật của bậc
Thánh khi nh́n ngắm một nữ nhân, và tham dục khởi lên trong tâm con, v́ thế
con sinh ra phiền năo.
Bậc Đạo Sư liền bảo:
- Này Tỷ-kheo, chẳng có ǵ lạ khi ông vi phạm giới luật v́ ham dục lạc, ông
đă nh́n ngắm một đối tượng trái với giới luật và bị tham dục chi phối.
Thuở xưa, ngay cả những bậc đă đắc năm Thắng trí và tám Thiền chứng, những
bậc đă dập tắt dục tham nhờ uy lực của Thiền quán, tâm đă được thanh tịnh và
đôi chân đă có thể rảo bước giữa không gian, ngay cả các vị Bồ-tát, mà chỉ
v́ vi phạm giới luật khi nh́n ngắm một đối tượng ngoài thông lệ, nên phải để
mất hết Thiền lực, tâm bị tham dục khuấy động và phải chịu đại phiền năo.
Thế th́ trận cuồng phong đủ năng lực xô ngă núi Tu-Di có sá ǵ mà quan tâm
đến một ngọn đoài trọc không lớn hơn con voi; cơn gió thổi mạnh làm bật gốc
cây hồng đào vĩ đại có màng ǵ bụi cỏ bên vách đá; hay cơn gió càn quét khô
cạn cả đại dương có kể ǵ đến cái ao bé tí kia chứ? Nếu tham dục có uy lực
làm cuồng si tâm trí của các vị Bồ-tát đă giác ngộ và thanh tịnh, th́ làm
sao tham dục lại phải nao núng trước ông kia chứ? Này, ngay cả những người
đă thanh tịnh cũng bị tham dục làm lạc hướng và người đă đạt đến vinh quang
tột đỉnh cũng phải chịu khổ nhục suy tàn.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào một
gia đ́nh Bà-la-môn giàu có tại quốc độ Kàsi. Khi ngài trưởng thành và việc
học vấn đă hoàn măn, ngài từ bỏ dục tham, xuất gia sống đời ẩn sĩ, đi vào
chốn độc cư ở núi Tuyết Sơn. Tại đó, nhờ thành tựu các pháp môn đưa đến
Thiền định, ngài đă đạt các Thắng trí và các Thiền chứng, và sống an vui như
vậy trong Thiền lạc vi diệu.
V́ thiếu muối và giấm, một ngày kia ngài vào Ba-la-nại, tại đó ngài đến cư
trú trong ngự viên của nhà vua. Ngày kế tiếp, sau khi đă tắm rửa xong thân
ḿnh, ngài xếp chiếc y bằng vỏ cây vẫn thường đắp, khoác lên vai tấm da linh
dương màu đen, buộc các cuộn tóc rối thành một búi trên đỉnh đầu và mang đ̣n
gánh với hai thúng trên lưng, ngài bắt đầu du hành để khất thực.
Trên đường đi đến cổng hoàng cung, oai nghi của ngài khiến nhà vua thán phục
và truyền mời ngài vào. Thế là vị ẩn sĩ được đặt lên một bảo tọa cực kỳ huy
hoàng lộng lẫy và thết đăi mọi thứ cao lương mỹ vị. Khi ngài nói lời tùy hỷ
công đức, ngài lại được mời đến cư ngụ ở hoa viên. Vị ẩn sĩ nhận lời mời và
trong mười sáu năm liền sống ở hoa viên, thường thuyết giáo cho cả hoàng gia
và thọ hưởng ngự thiện do vua cúng dường.
Bấy giờ, một ngày kia vua phải ra chốn biên địa để dẹp loạn. Song trước khi
khởi hành, vua ủy thác cho Hoàng hậu được mệnh danh là Từ Tâm, phải cung cấp
các vật dụng cần thiết cho vị ẩn sĩ thanh tịnh kia. V́ vậy, sau khi vua ra
đi, Bồ-tát vẫn thường đi đến cung điện khi ngài muốn.
Một ngày kia hoàng hậu Từ Tâm đă chuẩn bị một bữa cơm dâng cúng Bồ-tát,
nhưng v́ ngài đến muộn nên hoàng hậu vô pḥng tắm rửa. Sau khi tắm nước hoa
xong, bà vận xiêm y hết sức lộng lẫy, và nằm xuống đợi ngài đến trên một bảo
tọa nhỏ trong một khách sảnh rộng lớn.
Khi vừa xuất khỏi Thiền định, thấy đă trễ giờ, Bồ-tát liền phi hành qua
không gian để đến cung điện. Chợt nghe tiếng sột soạt của chiếc y bằng vỏ
cây, hoàng hậu vội vă đứng dậy để đón tiếp ngài. Trong lúc vội vàng, chiếc y
của hoàng hậu tuột xuống, để lộ mọi vẻ kiều diễm của bà trước mặt vị ẩn sĩ
khi ngài vừa đến cửa. Thấy vậy, ngài bỗng ham thích chiêm ngưỡng sắc đẹp nữ
nhân kỳ diện kia nên đă phạm Giới đức: Lửa dục nhen nhúm trong tâm ngài,
khiến ngài giống như thân cây to bị chiếc ŕu đốn ngă.
Lập tức ngài đánh mất Thiền lực, ngài chẳng khác ǵ con quạ bị cắt cụt đôi
cánh. Ngài vẫn đứng yên tay nắm chặt thức ăn, nhưng ngài không ăn được mà
bước ra đi,
***YouTube 5 ***toàn thân rung động v́ dục vọng, ngài trở về am thất trong vườn
hoa, nằm xuống trên sàng tọa bằng gỗ, và suốt bảy ngày liền chịu đói khát,
toàn thân bị siết chặt trong ṿng vây của sắc đẹp yêu kiều kia, nội tâm ngài
như bị lửa dục thiêu đốt bừng bừng.
Vào ngày thứ bảy, nhà vua trở về sau khi đă b́nh định biên thùy. Vừa ngự
vương xa giữa đám rước linh đ́nh quanh hoàng thành xong, vua đi vào cung.
Rồi vua muốn thăm vị ẩn sĩ kia ngay, bèn đi đến hoa viên. Tại am thất, vua
thấy Bồ-tát đang nằm trên sàng tọa. Tưởng vị ẩn sĩ bị bệnh, vua ra lệnh quét
dọn sạch sẽ am thất và vừa vỗ vào chân ẩn sĩ ấy vừa hỏi ngài bị bệnh ǵ.
- Tâu Đại vương, tâm ta đang bị dục tham trói buộc: đó là căn bệnh duy nhất
của ta.
- Ngài có tham dục đối với ai?
- Tâu Đại vương, với hàng hậu Từ Tâm đấy.
- Vậy th́ từ nay Hoàng hậu thuộc về ngài, trẫm ban nàng cho ngài đấy. Nhà
vua bảo.
Sau đó, nhà vua cùng vị ẩn sĩ đến cung điện ra lệnh cho hoàng hậu phục sức
cực kỳ lộng lẫy rồi trao bà cho Bồ-tát. Nhưng trong lúc ban tặng hoàng hậu,
nhà vua bí mật ủy thác bà phải đem hết sức ḿnh cứu nạn cho vị ẩn sĩ thanh
tịnh ấy. Hoàng hậu bảo:
- Xin Thánh thượng đừng lo ngại, thần thiếp sẽ đi cứu ngài.
Thế là cùng với hoàng hậu, vị tu khổ hạnh ra khỏi cung điện. Sau khi đă vượt
qua Đại hoàng môn, hoàng hậu kêu lên rằng hai người phải có một ngôi nhà để
ở, thế là ngài phải trở lại để xin vua một cái nhà. Và vua ban cho hai vị
một túp lều đổ nát mà khách qua đường dùng làm nhà tắm. Vị ẩn sĩ đưa hoàng
hậu đến đó nhưng bà không chịu bước vào trong v́ nó dơ bẩn quá.
Ngài kêu lên:
- Vậy ta c̣n phải làm ǵ nữa?
Bà đáp:
- Này, chàng hăy dọn dẹp nhà cửa cho sạch sẽ.
Bà lại bảo ngài trở về cung vua xin một cái cuốc và một cái thúng, rồi bảo
ngài khuân hết mọi rác rưới dơ bẩn đi. Xong lại bảo đi t́m phân ḅ về trét
lên các bức tường. Hết việc ấy, bà bảo ngài đi đóng cái giường, cái ghế,
trải một tấm nệm, lấy một b́nh nước, một cái chén, cứ mỗi lúc lại bảo đi t́m
một món. Kế đó bà lại bảo ngài đi gánh nước về và thêm cả ngàn việc khác
nữa. Thế là ngài ra đi t́m nước đổ đầy b́nh, xong lấy nước về tắm rửa và dọn
giường. Vừa khi ngài ngồi trên giường cùng bà, bà liền nắm râu ngài kéo ngài
xuống đối mặt ḿnh và bảo:
- Thế ngài đă quên rằng ngài là một Bà-la-môn thanh thịnh rồi sao?
Nghe thế, ngài liền tỉnh ngộ sau một thời gian cuồng tâm loạn trí. (Nhân đây
cũng nên nhắc lại bài thuyết giảng bắt đầu bằng: Như vậy Dục tham Triền cái
được gọi là Ác dục v́ chúng phát khởi từ Vô minh, này các Tỷ-kheo, những ǵ
phát khởi từ Vô minh đều tạo nên khối Si ám dày đặc).
Thế là sau khi hồi tỉnh, ngài suy nghĩ thấy rơ bằng cách nào, khát ái này
trở nên mănh liệt dần dần sẽ đưa ngài đến bốn đọa xứ. Ngài kêu lên:
- Nội ngày hôm nay ta quyết đưa nữ nhân này trả lại cho nhà vua và bay thẳng
lên núi!
Ngài liền cùng hoàng hậu đến yết kiến vua và nói:
- Tâu Đại vương, ta không c̣n ham muốn hoàng hậu nữa, chính v́ hoàng hậu mà
trước đây khát ái đă bừng dậy trong ḷng ta.
Nói vậy xong, ngài ngâm kệ:
Trước thời ta được Từ Tâm,
Ḷng ta chỉ một ước mong: chiếm nàng.
Đến khi nhan sắc nữ hoàng
Ngự trong tâm trí, ta càng đắm mê,
Dục tham dồn dập tứ bề,
Đại vương, ta quyết bay về núi xưa.
Lập tức Thiền lực trước kia đă mất nay trở lại với ngài. Nhảy vụt lên từ mặt
đất và trụ giữa hư không, ngài thuyết pháp cho vua và phi hành qua không
gian đến dăy Tuyết Sơn. Ngài không bao giờ trở lại đường thế tục nữa, mà tu
tập phát khởi Từ Bi tâm cùng với Thiền quán không gián đoạn, cho đến khi
ngài mệnh chung và tái sanh vào Phạm thiên giới.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư thuyết giảng Bốn Sự thật. Vào lúc kết
thúc bài giảng, vị Tỷ-kheo đắc quả A-la-hán. Bậc Đạo Sư cũng nêu lên mối
liên hệ giữa hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy Ànanda là nhà vua, Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) là Từ Tâm và Ta
là ẩn sĩ ấy.
-ooOoo-
(Contents) |
http://j1069.htm
No. 66.
MUDULAKKHAṆA-JĀTAKA.
"Till Gentle-heart was mine."--This story was told by the Master while at
Jetavana, about concupiscence. Tradition says that a young gentleman of
Sāvatthi, [30;3] on hearing the Truth preached by the Master, gave his heart
to the Doctrine of the Three Gems. Renouncing the world for the Brother's
life, he rose to walk in the Paths, to practise meditation, and never to
slacken in his pondering over the theme he had chosen for thought. One day,
whilst he was on his round for alms through Sāvatthi, he espied a woman in
brave attire, and, for pleasure's sake, broke through the higher morality
and gazed upon her! Passion was stirred within him, he became even as a
fig-tree felled by the axe. From that day forth, under the sway of passion,
the palate of his mind, as of his body, lost all its gust; like a brute
beast, he took no joy in the Doctrine, and suffered his nails and hair to
grow long and his robes to grow foul.
When his friends among the Brethren became aware of his troubled state of
mind, they said, "Why, sir, is your moral state otherwise than it was?" "My
Joy has gone," said he. Then they took him to the Master, who asked them why
they had brought that Brother there against his will. "Because, sir, his joy
is gone," "Is that true, Brother?" "It is, Blessed One." "Who has troubled
you?" "Sir, I was on my round for alms when, violating the higher morality,
I gazed on a woman; and passion was stirred within me. Therefore am I
troubled." Then said the Master, "It is little marvel, Brother, that when,
violating morality, you were gazing for pleasure's sake on an exceptional
object, you were stirred by passion. Why, in bygone times, even those who
had won the five Higher Knowledges and the eight Attainments, those who by
the might of Insight had quelled their passions, whose hearts were purified
and whose feet could walk the skies, yea even Bodhisattas, through gazing in
violation of morality on an exceptional object, lost their insight, were
stirred by passion, and came to great sorrow. Little recks the wind which
could overturn Mount Sineru, of a bare hillock no bigger than an elephant;
little recks a wind which could uproot a mighty Jambu-tree, of a bush on the
face of a cliff; and little recks a wind which could dry up a vast ocean, of
a tiny pond. If passion could breed folly in the supremely-enlightened and
pure-minded Bodhisattas, shall passion be abashed before you? Why, even
purified beings are led astray by passion, and those advanced to the highest
honour, come to shame." And so saying, he told this story of the past.
_____________________________
Once on a time when Brahmadatta was reigning in Benares, the Bodhisatta was
born into a rich brahmin family in the Kāsi country. When he was grown up
and had finished his education, he renounced all Lusts, and, forsaking the
world for the hermit's life, went to live in the solitudes of the Himalayas.
There by due fulfilment of all preparatory forms of meditation, he won by
abstract thought the Higher Knowledges and the ecstatic Attainments; and so
lived his life in the bliss of mystic Insight.
Lack of salt and vinegar brought him one day to Benares, where he took
up his quarters in the king's pleasaunce. Next day, after seeing to his
bodily needs, he folded up the red suit of bark which he commonly wore,
threw over one shoulder a black antelope's skin, knotted his tangled locks
in a coil on the top of his head, and with a yoke on his back from which
hung two baskets, set out on his round in quest of alms. Coming to the
palace-gates on his way, his demeanour so commended him to the king that his
majesty had him brought in So the ascetic was seated on a couch of great
splendour and fed with abundance of the daintiest food. And when he thanked
the king, he was invited to take up his dwelling in the pleasaunce. The
ascetic accepted the offer, and for sixteen years abode in the pleasaunce,
exhorting the king's household and eating of the king's meat.
Now there came a day when the king must go to the borders to put down a
rising. But, before he started, he charged his queen, whose name was
Gentle-heart, to minister to the wants of the holy man. So, after the king's
departure, the Bodhisatta continued to go when he pleased to the palace.
One day Queen Gentle-heart got ready a meal for the Bodhisatta; but as he
was late in coming, she betook herself to her own toilette. After bathing in
perfumed water, she dressed herself in all her splendour,
and lay down, awaiting his coming, on a little couch in the spacious
chamber.
Waking from rapture of Insight, and seeing how late it was, the Bodhisatta
transported himself through the air to the palace. Hearing the rustling of
his bark-robe, the queen started up hurriedly to receive him. In her hurry
to rise, her tunic slipped down, so that her beauty was revealed to the
ascetic as he entered the window; and at the sight, in violation of Morality
he gazed for pleasure's sake on the marvellous beauty of the queen. Lust was
kindled within him; he was as a tree felled by the axe. At once all Insight
deserted him, and he became as a crow with its wings clipped. Clutching his
food, still standing, he ate not, but took his way, all a-tremble with
desire, from the palace to his hut in the pleasaunce, set it down beneath
his wooden couch and thereon lay for seven whole days a prey to hunger and
thirst, enslaved by the queen's loveliness, his heart aflame with lust.
On the seventh day, the king came back from pacifying the border. After
passing in solemn procession round the city, he entered his palace. Then, wishing to see the ascetic, he took his way to the pleasaunce, and
there in the cell found the Bodhisatta lying on his couch. Thinking the holy
man had been taken ill, the king, after first having the cell cleaned out,
asked, as he stroked the sufferer's feet, what ailed him. "Sire, my heart is
fettered by lust; that is my sole ailment." "Lust for whom?" "For
Gentle-heart, sire." "Then she is yours; I give her to you," said the king.
Then he passed with the ascetic to the palace, and bidding the queen array
herself in all her splendour, gave her to the Bodhisatta. But, as he was
giving her away, the king privily charged the queen to put forth her utmost
endeavour to save the holy man.
"Fear not, sire," said the queen; "I will save him." So with the queen the
ascetic went out from the palace. But when he had passed through the great
gate, the queen cried out that they must have a house to live in; and back
he must go to the king to ask for one. So back he went to ask the king for a
house to live in, and the king gave them a tumble-down dwelling which
passers-by used as a jakes. To this dwelling the ascetic took the queen; but
she flatly refused to enter it, because of its filthy state.
"What am I to do?" he cried. "Why, clean it out," she said. And she sent him
to the king for a spade and a basket, and made him remove all the filth and
dirt, and plaster the walls with cowdung, which he had to fetch. This done,
she made him get a bed, and a stool, and a rug, and a water-pot, and a cup,
sending him for only one thing at a time. Next, she sent him packing to
fetch water and a thousand other things. So off he started for the water,
and filled up the water-pot, and set out the water for the bath, and made
the bed. And, as he sat with her upon the
bed, she took him by the whiskers and drew him towards her till they were
face to face, saying, "Hast thou forgotten that thou art a holy man and a
brahmin?"
Hereon he came to himself after his interval of witless folly.
(And here should be repeated the text beginning, "Thus the hindrances of
Lust and Longing are called Evils because they spring from Ignorance,
Brethren; [306] that which springs from Ignorance creates Darkness.")
So when he had come to himself, he bethought him how, waxing stronger and
stronger, this fatal craving would condemn him hereafter to the Four States
of Punishment 1." This self-same day," he cried, "will I restore this woman
to the king and fly to the mountains!" So he stood with the queen before the
king and said, "Sire, I want your queen no longer; and it was only for her
that cravings were awakened within me." And so saying, he repeated this
Stanza:--
Till Gentle-heart was mine, one sole desire
I had,--to win her. When her beauty owned
Me lord, desire came crowding on desire.
Forthwith his lost power of Insight came back to him. Rising from the earth
and seating himself in the air, he preached the Truth to the king; and
without touching earth he passed through the air to the Himalayas. He never
came back to the paths of men; but grew in love and charity till, with
Insight unbroken, he passed to a new birth in the Realm of Brahma.
_____________________________
His lesson ended, the Master preached the Truths, at the close whereof that
Brother won Arahatship itself. Also the Master shewed the connexion and
identified the Birth by saying, "Ānanda was the King of those days,
Uppala-vaṇṇā was Gentle-heart, and I the hermit."
--------------------------------------------------------------------------------
Footnotes
164:1 Hell, the brute-creation, ghostdom, devildom.
|
67. CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ THÔN QUÊ
(Tiền thân Ucchanga)
T́m kiếm chồng con thật dễ dàng...,
Câu chuyện này do Bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một người đàn
bà ở thôn quê.
Một thuở nọ, trong quốc lộ Kosala, có ba người đang cày ruộng ở ven rừng,
cùng lúc, một bọn cướp phá hại dân chúng trong rừng xong và đang đào tẩu.
Các nạn nhân chạy vào rừng t́m kiếm bọn vô lại nhưng hoài công, khi đến tận
nơi ba người cày ruộng, họ la lên:
- Đây là bọn sơn tặc giả dạng nông phu!
Thế là họ kéo cả ba tội nhân đến tŕnh vua Kosala. Lúc bấy giờ có một người
đàn bà đến cung vua khóc than kể lễ thảm thiết xin có được cái ǵ đó để che
thân. Nghe tiếng kêu than, nhà vua ra lệnh ban cho người đàn bà ấy một tấm
áo, nhưng nàng từ chối bảo rằng đấy không phải là thứ nàng muốn xin. V́ vậy
thị nữ của vua trở lại tŕnh rằng người đàn bà ấy không cần áo quần mà cần
một tấm chồng! Sau đó vua truyền đưa người đàn bà vào chầu và hỏi có phải
nàng muốn kiếm chồng thật chăng.
- Tâu Đại vương, đúng thế, người đàn bà đáp. V́ người chồng mới thực sự là
vật che thân cho đàn bà, c̣n người đàn bà nào không có chồng th́ dù cho nàng
ấy mặc áo quần đáng giá cả ngàn đồng tiền, cũng chẳng khác ǵ ḿnh trần thân
trụi!
Và để làm cho lư lẽ này thêm vững mạnh, nàng lại ngâm câu tục ngữ này:
Khác nào đất nước v́ vua,
Chẳng khác ḍng sông suối cạn khô,
Cũng vậy ḿnh trần thân lại trụi
V́ không tùng trúc cạnh đào tơ!
Nh́n xem quả thật nàng trơ trọi
Dù co mười anh ruột một nhà!
Vua hài ḷng với lời giải đáp của người đàn bà, nên vua hỏi mối liên hệ giữa
nàng với ba tội nhân kia ra sao. Nàng đáp rằng, một người là chồng nàng, một
người là con trai nàng.
- Này, hăy nhận lấy một đặc ân của trẫm, vua bảo, trẫm sẽ ban cho nàng một
trong ba người ấy, nàng chọn người nào?
- Tâu Đại vương, nàng đáp, nếu tiện thiếp c̣n sống, tiện thiếp có thể lấy
chồng khác sinh con khác; song nay cha mẹ thiếp đă mất rồi, chẳng bao giờ
thiếp có anh em nào khác nữa. Vậy tâu Đại vương, thiếp xin chọn người anh.
Nhà vua đẹp ư với nàng, bèn thả cả ba người, vậy chính người đàn bà này là
phương tiện cứu nguy cho ba người đàn ông.
Khi Tăng chúng biết được chuyện này, liền khen ngợi người đàn bà kia trong
pháp đường th́ bậc Đạo Sư bước vào. Ngài hỏi Tăng chúng đang bàn luận vấn đề
ǵ và được kể như trên; Ngài bảo:
- Đây không phải là lần đầu tiên, này các Tỷ-kheo, người đàn bà này cứu nguy
cho ba mạng sống ấy, mà ngày xưa cũng vậy.
Nói xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ khi vua Brahamadatta trị v́ ở Ba-la-nại, ba người đàn ông cày
ruộng ở ven rừng và mọi chuyện xảy ra như chuyện trên.
Khi được vua hỏi muốn chọn người nào trong ba người, nàng đáp:
- Tâu Đại vương, Đại vương có thể gia ân ban cho tiện thiếp cả ba người
chăng?
Vua đáp:
- Không, trẫm không thể.
- Vậy tâu Đại vương, nếu tiện thiếp không thể xin tha cả ba, th́ mong Đại
vương ban cho thiếp người anh trai.
Vua đáp:
- Hăy nhận lấy người chồng hay con trai của nàng đi, chứ anh trai th́ có
quan hệ ǵ?
Người đàn bà đáp:
- Hai người kia có thể thay thế được, chứ anh trai th́ không bao giờ có nữa.
Nói vậy xong, nàng lại ngâm khúc hát:
T́m kiếm chồng con thật dễ dàng,
Tha hồ chọn chúng, đứng đầy đường,
Song t́m đâu được người anh nữa,
Dù khổ đau cho đến đoạn trường?
Vua đẹp ư, phán:
- Nàng ấy nói chí lư!
Vua bèn ra lệnh đưa ba người đàn ông kia từ ngục thất đến giao cho người đàn
bà, nàng liền đưa cả ba người ra về.
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư bảo, chính người đàn bà này thuở xưa
kia đă có lần cứu mạng cho cả ba người đàn ông.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, Ngài nêu sự liên hệ giữa hai chuyện và nhận diện
Tiền thân:
- Người đàn bà và ba người đàn ông ngày nay cũng là người đàn bà và ba người
đàn ông ngày trước và Ta chính là vua ấy.
-ooOoo-
(Contents) |
http://wj1/j1070.htm
No. 67.
UCCHAṄGA-JĀTAKA.
"A son's an easy find."--This story was told by the Master while at
Jetavana, about a certain country-woman.
For it fell out once in Kosala that three men were ploughing on the
outskirts of a certain forest, and that robbers plundered folk in that
forest and made their escape. [307] The victims came, in the course of a
fruitless search for the rascals, to where the three men were ploughing.
"Here are the forest robbers,
p. 165
disguised as husbandmen," they cried, and hauled the trio off as prisoners
to the King of Kosala. Now time after time there came to the king's palace a
woman who with loud lamentations begged for "wherewith to be covered."
Hearing her cry, the king ordered a shift to be given her; but she refused
it, saying this was not what she meant. So the king's servants came back to
his majesty and said that what the woman wanted was not clothes but a
husband 1. Then the king had the woman brought into his presence and asked
her whether she really did mean a husband.
"Yes, sire," she answered; "for a husband is a woman's real covering, and
she that lacks a husband--even though she be clad in garments costing a
thousand pieces--goes bare and naked indeed."
(And to enforce this truth, the following Sutta should be recited here:--
Like kingless kingdoms, like a stream run dry,
So bare and naked is a woman seen,
Who, having brothers ten, yet lacks a mate.)
Pleased with the woman's answer, the king asked what relation the three
prisoners were to her. And she said that one was her husband, one her
brother, and one her son. "Well, to mark my favour," said the king, "I give
you one of the three. Which will you take?" "Sire," was her answer, "if I
live, I can get another husband and another son; but as my parents are dead,
I can never get another brother. So give me my brother, Sire." Pleased with
the woman, the king set all three men at liberty; and thus this one woman
was the means of saving three persons from peril.
When the matter came to the knowledge of the Brotherhood, they were lauding
the woman in the Hall of Truth, when the Master entered. Learning on enquiry
what was the subject of their talk, he said, "This is not the first time,
Brethren, that this woman has saved those three from peril; she did the same
in days gone by." And, so saying, he told this story of the past.
_____________________________
Once on a time when Brahmadatta was reigning in Benares, three men were
ploughing on the outskirts of a forest, and everything came to pass as
above.
Being asked by the king which of the three she would take, the woman said,
"Cannot your majesty give me all three?" "No," said the king, "I cannot."
[308] "Well, if I cannot have all three, give me my brother." "Take your
husband or your son," said the king. "What matters a brother?" "The two
former I can readily replace," answered the woman, "but a brother never."
And so saying, she repeated this stanza:--
A son 's an easy find; of husbands too
An ample choice throngs public ways. But where
Will all my pains another brother find?
"She is quite right," said the king, well-pleased. And he bade all three men
be fetched from the prison and given over to the woman. She took them all
three and went her way.
_____________________________
p. 166
"So you see, Brethren," said the Master, "that this same woman once before
saved these same three men from peril." His lesson ended, he made the
connexion and identified the Birth by saying, "The woman and the three men
of to-day were also the woman and men of those bygone days; and I was then
the king."
[Note.--Cf. for the idea of the verse Herodotus 118-120, Sophocles Antigone
909-912; and see this passage discussed in the Indian Antiquary for
December, 1881.]
--------------------------------------------------------------------------------
Footnotes
165:1 Cf. 'femme couverte.'
|
|
http://kinhtieubo4-12.htm
120. CHUYỆN GIẢI THOÁT SỰ TRÓI BUỘC (Tiền thân Bandhanamokkha)
Chỗ này kẻ ngu nói...,
Câu chuyện này, khi trú tại Kỳ Viên, bậc Đạo Sư đă kể về thiếu nữ Bà-la-môn
Cinca. Câu chuyện này sẽ được kể trong Tiền thân Mahàpaduma, Chương mười hai
(số 472). Lúc bấy giờ, bậc Đạo sư nói:
- Này cá Tỷ-kheo, không phải chỉ nay thiếu nữ Bà-la-môn này vu cáo Ta điều
không có thật. Thuở trứơc, nó cũng đă vu cáo rồi.
Nói vậy xong, bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ Ba-la-nại, Bồ-tát lớn lên trong gia
đ́nh một người cố vấn tế tự, và sau khi cha mất, Bồ-tát kế nghiệp chức vụ
ấy. Lúc ấy hoàng hậu được vua cho một ước nguyện.
- Này Hoàng Hậu, nàng muốn ǵ, hăy nói lên.
Hoàng hậu nói như sau.
- Lơøi ước nguyện của thiếp không khó thực hiện. Từ nay trở đi Đại vương
không được nh́n một nữ nhân khác với con mắt luyến ái.
Ban đầu, vua từ chối, nhưng sau, bị nàng bức bách nhiều lần, không thể bỏ
qua lời của hoàng hậu, vua phải chấp nhận, và từ đấy trở đi, vua không bao
giờ nh́n một nữ nhân nào trong số mười sáu ngàn vũ nữ.
Rồi một cuộc nổi loạn khởi lên ở biên điạ. Quân lính ở biên địa, sau hai ba
lần giao chiến với các tên cướp, đưa tin về cho vua là họ không thể dẹp loạn
được. Vua muốn đi đến đấy, liền tập họp một đội binh lớn, cho gọi hoàng hậu
đến và nói.
- Này hiền thê, ta ra biên địa, tại đấy chiến trận đủ loại xảy ra,sẽ đưa đến
chiến thắng hay chiến bại. Những chỗ ấy không thích hợp với nữ nhân. Hoàng
hậu hăy ở lại đây.
Hoàng hậu nói.
- Thưa Đại vương, thiếp không thể ở lại đây.
Khi bị vua từ chối nhiều lần, hoàng hậu nói.
- Vậy sau khi đi được mỗi dặm,Đại vương hăy gửi một người về để hỏi thăm sức
khoẻ của thiếp.
Nhà vua chấp nhận. Bồ-tát ở lại trong thành, c̣n vua ra đi với một đội quân
lớn, cứ đi mỗi dặm, lại gửi một người về với trách nhiệm tin cho biết sức
khoẻ của nhà vua và hỏi thăm hoàng hậu có được an lạc không. Khi có một
người đàn ông đi về, nàng hỏi:
- Vua sai ngươi về có mục đích ǵ?
- Để hỏi hoàng hậu có được an lạc không.
Hoàng hậu bảo người ấy đến và sống phi pháp với nó. Vua đi đường được ba
mươi hai dặm, gửi về ba mươi hai người, và hoàng hậu sống phi pháp với tất
cả bọn họ.
Sau khi dẹp loạn xong, b́nh định được quốc độ, trên đường về, vua cũng gửi
về ba mươi hai sứ giả. Hoàng hậu cũng sống phi pháp với họ. Cho quân thắng
trận dừng chân gần thành, vua gửi tin nhắn Bồ-tát sửa soạn thành phố để đón
tiếp ngài.
Bồ-tát cho sửa soạn thành phố xong, mới sửa soạn cung điện để đón vua và đi
đến cung thất của hoàng hậu. Hoàng hậu thấy thân thể của Bồ-tát tuyệt đẹp,
không thể dằn ḷng nổi, liền nói:
- Này Bà-la-môn, hăy đáp lại t́nh yêu của ta.
Bồ-tát nói:
- Chớ nói vậy! Hăy kính trọng vua. Tôi sợ điều bất thiên. Tôi không thể làm
như vậy được.
- Sáu mươi bốn tên sứ giả đă không kính trọng vua, đă không sợ điều bất
thiện, vậy ngươi lại kính trọng vua và sợ điều bất thiện sao?
- Thưa vâng, nếu họ suy nghĩ, họ đă không làm như vậy, nhưng v́ tôi có biết
điều phải, tôi sẽ không làm việc ác này.
- Đừng nói bậy nhiều như vậy! Nếu ngươi không làm theo lời ta, ta sẽ bảo
chặt đầu ngươi.
- Thôi được, dầu cắt đầu tôi trong một đời này hay trong trăm ngàn đời, tôi
cũng không thể làm như vậy.
- Hăy để đấy, rồi sẽ biết tay ta.
Hoàng hậu đe dọa Bồ-tát, rồi đi vào trong pḥng của ḿnh, lấy móng tay cào
trên thân, lấy dầu thoa tay chân, mặc áo dơ bẩn vào, giả bệnh và cho gọi các
nữ tỳ:
- Nếu vua có hỏi hoàng hậu ở đâu, th́ trả lời hoàng hậu bị bệnh.
Trong lúc ấy Bồ-tát đi đón vua. Sau khi đi ṿng quanh thành phố, vua ngự lên
cung điện, không thấy hoàng hậu, liền hỏi hoàng hậu ở đâu. Khi được trả lời
hoàng hậu bị bệnh, vua đi vào pḥng hoàng hậu, xoa lưng hoàng hậu và hỏi:
- Hoàng hậu đau bệnh ǵ?
Hoàng hậu im lặng. Khi vua hỏi lần thứ ba, hoàng hậu nh́n vua và nói:
- Thưa Đại Vương, nay Đại vương c̣n sống, nhưng nữ nhân như thiếp cần phải
có một người chồng.
- Ái khanh nói ǵ lạ vậy?
- Đại vương đặt địa vị cố vấn tế tự ở lại giữ thành, nó lấy cớ là sửa sang
nội cung, đến đây, và v́ thiếp không làm theo lời nó, nó đánh đậo thiếp cho
thoả măn ư của nó rồi bỏ đi.
***YouTube
6 ***
Vua đùng đùng nổi giận, như muối và đường bỏ vào lửa, vụt đi ra khỏi cung
pḥng. Vua cho gọi các người gác cửa, các lính bộ binh đến, bảo họ bắt
Bồ-tát ngay, trói cánh tay ra sau lưng như người bị xử án chém, rồi dẫn ra
khỏi thành, đến pháp trường xử trảm. Họ đi thật mau, trói cánh tay vị cố vấn
tế tự ra sau lưng và cho đánh trống báo tin có hành quyết. Bồ-tát suy nghĩ:
"Như vậy nhà vua đă bị hoàng hậu độc ác đầu độc trước rồi. Hôm nay, ta phải
cứu ta khỏi tay ương này với sức của ḿnh". V́ thế, Bồ-tát nói với những
người lính:
- Trước khi các người giết ta, hăy đưa ta yết kiến vua.
- Để làm ǵ?
- V́ ta là người phục vụ vua, đă làm được nhiều công việc. Ta biết tài sản
chôn dấu rất nhiều. Chính ta quản lư đất ruộng nhà vua. Nếu ta không gặp
vua, th́ nhiều tải sản sẽ bị tiêu diệt. Sau khi ta nói cho vua biết gia sản
của vua, các ngươi hăy làm bổn phận của ḿnh.
Họ đưa vị cố vấn tế tự đến gặp vua. Vua thấy vị ấy liền nói:
- Này Bà-la-môn, ngươi không xấu hổ đối với ta sao? Sao ngươi lại làn ác
hạnh như vậy?
|
http://j1/j1123.htm
No. 120.
[437] BANDHANAMOKKHA-JĀTAKA.
"Whilst folly's speech"--This story was told by the Master while at
Jetavana, about the brahmin-girl Ciñcā, whose history will be given in the
Twelfth Book in the Mahāpaduma-jātaka 1. On this occasion the Master said,
"Brethren, this is not the first time Ciñcā has laid false accusations
against me. She did the like in other times." So saying he told this story
of the past.
_____________________________
Once on a time when Brahmadatta was reigning in Benares, the Bodhisatta was
born into the chaplain's family, and on his father's death succeeded to the
chaplaincy.
Now the king promised to grant whatsoever boon his queen should ask of him,
and she said,--"The boon I ask is an easy one; henceforth you must not look
on any other woman with eyes of love." At first he refused, but, wearied by
her unceasing importunity, was obliged to give way at last. And from that
day forward he never cast a glance of love at any one of his sixteen
thousand nautch-girls.
Now a disturbance arose on the borders of his kingdom, and after two or
three engagements with the robbers, the troops there sent a letter to the
king saying that they were unable to carry the matter through. Then the king
was anxious to go in person and assembled a mighty host. And he said to his
wife, "Dear one, I go to the frontier, where battles will rage ending in
victory or defeat. The camp is no place for a woman, and you must stay
behind here."
"I can't stop if you go, my lord," said she. But finding the king firm in
his decision she made the following request instead,--"Every league,
send a messenger to enquire how I fare." And the king promised to do so.
Accordingly, when he marched out with his host, leaving the Bodhisatta in
the city, the king sent back a messenger at the end of every league to let
the queen know how he was, and to find out how she fared. Of each man as he
came she asked what brought him back. And on receiving the answer that he
was come to learn how she fared, they queen beckoned the messenger to her
and sinned with him. Now the king journeyed two and thirty leagues and sent
two and thirty messengers [438], and the queen sinned with them all. And
when he had pacified the frontier, to the great joy of the inhabitants, he
started on his homeward journey, despatching a second series of thirty-two
messengers. And the queen misbehaved with each one of these, as before.
Halting his victorious army near the city, the king sent a letter to the
Bodhisatta to prepare the city for his entry. The preparations in the city
were done, and the Bodhisatta was preparing the palace for the king's
arrival, when he came to the queen's apartments. The sight of his great
beauty so moved the queen that she called to him to satisfy her lust. But
the Bodhisatta pleaded with her, urging the king's honour, and protesting
that he shrank from all sin and would not do as she wished. "No thoughts of
the king frightened sixty-four of the king's messengers," said she; "and
will you for the king's sake fear to do my will?"
Said the Bodhisatta, "Had these messengers thought with me, they would not
have acted thus. As for me that know the right, I will not commit this sin."
"Don't talk nonsense," said she. "If you refuse, I will have your head
chopped off."
"So be it. Cut off my head in this or in a hundred thousand existences; yet
will I not do your bidding."
"All right; I will see," said the queen menacingly. And retiring to her
chamber, she scratched herself, put oil on her limbs, clad herself in dirty
clothes and feigned to be ill. Then she sent for her slaves and bade them
tell the king, when he should ask after her, that she was ill.
Meantime the Bodhisatta had gone to meet the king, who, after marching round
the city in solemn procession, entered his palace. Not seeing the queen, he
asked where she was, and was told that she was ill. Entering the royal
bed-chamber, the king caressed the queen and asked what ailed her. She was
silent; but when the king asked the third time, she looked at him and said,
"Though my lord the king still lives, yet poor women like me have to own a
master."
"What do you mean?"
"The chaplain whom you left to watch over the city came here on pretence of
seeing after the palace; and because I would not yield to his will, [439] he
beat me to his heart's content and went off."
Then the king fumed with rage, like the crackling of salt or sugar in the
fire; and he rushed from the chamber. Calling his servants, he bade them
bind the chaplain with his hands behind him, like one condemned to death,
and cut off his head at the place of execution. So away they hurried and
bound the Bodhisatta. And the drum was beaten to announce the execution.
Thought the Bodhisatta, "Doubtless that wicked queen has already poisoned
the king's mind against me, and now must I save myself from this peril." So
he said to his captors, "Bring me into the king's presence before you slay
me." "Why so?" said they. "Because, as the king's servant, I have toiled
greatly on the king's business, and know where great treasures are hidden
which I have discovered. If I am not brought before the king, all this
wealth will be lost. So lead me to him, and then do your duty."
Accordingly, they brought him before the king, who asked why reverence had
not restrained him from such wickedness.
|
|
- Thưa đại vương, tôi sinh ra trong gia đ́nh Bà-la-môn thượng lưu. Từ trước
đến nay, tôi không sát sanh ngay cả một con kiến. Từ trước đến nay, tôi
không lấy của không cho, ngay cả một cọng cỏ. từ trước đến nay, tôi không
nh́n đến một nữ nhân của người khác với con mắt luyến ái, dù chỉ một cái
liếc mắt đưa t́nh. Từ trước đến nay, tôi không nói một lời nói dối, dầu chỉ
để đùa vui. Tôi không có uống rượu, dù chỉ một giọt bằng ngọn cỏ Kusa. Tôi
hoàn toàn vô tội đối với đại vương. Nhưng hoàng hậu độc ác kia đă cầm tay
tôi với tâm tư đầy dục vọng, nói toạc cho tôi biết ác hạnh bí mật của ḿnh
trước khi đi vào cung pḥng. Trước tôi đă có sáu mươi bốn người sứ giả đến
đÂy, đem theo thông điệp của đại vương gửi hoàng hậu, những người ấy đều có
tội. Hăy gọi họ đến đây và hỏi từng người trong bọn họ có làm như hoàng hậu
đă bảo hay không.
Vua cho gọi sáu mươi bốn người kia và hoàng hậu đến và hỏi họ có làm như
hoàng hậu đă bảo hay không. Họ thú nhận có làm. Nhà vua sai trói họ lại và
ra lệnh chặt đầu cả sáu mươi bốn người ấy. Đến đây, Bồ-tát thưa:
- Thưa đại vương, những người này không có tội! Chuùng chỉ làm theo sở thích
của hoàng hậu. Chúng vô tội, vậy hăy tha cho chúng! C̣n hoàng hậu cũng không
có tội. Tánh dâm dục của hoàng hậu không bao giờ thoả măn, sanh ra đă như
vậy rồi! Hoàng hậu chỉ làm thuận theo bản tánh của ḿnh thôi! Do vậy, hăy
tha thứ cho hoàng hậu.
Như vậy, bằng nhiều cách, Bồ-tát làm cho vua hiểu rơ sự việc, cứu mạng sống
sáu mươi bốn người ấy và bà hoàng hậu ngu si, và xin vua ban cho họ những
trú xứ để ở. Sau khi tất cả mọi người được giải thoát và được cho chỗ ở,
Bồ-tát đến vua và thưa:
- Thưa Đại vương, lời nói buộc tôi không căn cứ của kẻ ngu si và đui mù làm
cho các bậc hiền trí bị trói vào chỗ không xứng đáng, bị trói quặp cánh tay
sau lưng; c̣n lời nói của bậc hiền trí là nguyên nhân khiến kẻ ngu si thoát
khỏi bị trói tay sau lưng. Như vậy, lời kẻ ngu trói buộc một cách không
thích đáng, c̣n lời nói bậc hiền trí thời giải thoát các trói buộc.
Nói vậy xong, Bồ-tát đọc bài kệ này:
Chỗ nào kẻ ngu nói,
Chúng trói kẻ vô tội,
Chỗ nào bậc trí nói,
Cứu thoát kẻ bị trói.
Như vậy, bậc Đại Sĩ với bài kệ này, thuyết pháp cho vua và nói:
- Tôi gặp sự đau khổ này là v́ c̣n sống đời gia đ́nh. Nay tôi không có công
việc ǵ trong gia đ́nh nữa. Hăy cho phép tôi được xuất gia.
Sau khi được phép xuất gia, từ bỏ bà con thân thuộc, từ bỏ tài sản lớn,
Bồ-tát làm bậc tiên nhân du sĩ, sống ở Tuyết Sơn, đạt được các thắng trí và
Thiền chứng và tái sanh lên cơi Phạm Thiên.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Đạo Sư nhận diện Tiền thân như sau:
- Thời ấy bà hoàng hậu độc ác là thiếu nữ Bà-la-môn Cinca, vua là Ànanda,
c̣n vị cố vấn tế tự là Ta vậy.
-ooOoo
(Contents) |
"Sire," answered the Bodhisatta, "I was born a brahmin, and have never taken
the life so much as of an emmet or ant. I have never taken what was not my
own, even to a blade of grass. Never have I looked with lustful eyes upon
another man's wife. Not even in jest have I spoken falsely, and not a drop
of strong drink have I ever drunk. Innocent am I, sire; but that wicked
woman took me lustfully by the hand, and, being rebuffed, threatened me, nor
did she retire to her chamber before she had told me her secret evil-doing.
For there were sixty-four messengers who came with letters from you to the
queen. Send for these men and ask each whether he did as the queen bade him
or not." Then the king had the sixty-four men bound and sent for the queen.
And she confessed to having had guilty converse with the men. Then the king
ordered off all the sixty-four to be beheaded.
But at this point the Bodhisatta cried out, "Nay, sire, the men are
not to blame; for they were constrained by the queen. Wherefore pardon them.
And as for the queen:--she is not to blame, for the passions of women are
insatiate, and she does but act according to her inborn nature. Wherefore,
pardon her also, O king."
Upon this entreaty the king was merciful, and so the Bodhisatta saved the
lives of the queen and the sixty-four men, and he gave them each a place to
dwell in. Then the Bodhisatta came to the king and said,
"Sire, the baseless
accusations of folly put the wise in unmerited bonds, but the words of the
wise released the foolish. Thus folly wrongfully binds, and wisdom sets free
from bonds." So saying, he uttered this stanza:--
Whilst folly's speech doth bind unrighteously,
At wisdom's word the justly bound go free.
When he had taught the king the Truth in these verses, he exclaimed, "All
this trouble sprang from my living a lay life. I must change my mode of
life, and crave your permission, sire, to give up the world." And with the
king's permission he gave up the world and quitted his tearful relations and
his great wealth to become a recluse. His dwelling was in the Himalayas, and
there he won the Higher Knowledges and the Attainments and became destined
to rebirth in the Brahma Realm.
_____________________________
His teaching ended, the Master identified the Birth by saying, "Ciñcā was
the wicked queen of those days, Ānanda the king, and I his chaplain."
--------------------------------------------------------------------------------
Footnotes
264:1 No. 472. Cf. note, page 143.
|
| Phẩm XIV -ooOoo- Tập Ba Mươi Kệ
(LXXI) Subhà ở Rừng Xoài của Jivaka (Theŕ. 150)
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), trong gia
đ́nh một Bà-la-môn nổi tiếng. Nàng được đặt tên là Subhà và thân nàng rất
tuyệt đẹp, nhất là về tay chân. Do vậy nàng được gọi là Subhà (người đẹp).
Khi bậc Đạo Sư ở Ràjagaha (Vương Xá), nàng khởi được ḷng tin và trở thành
một nữ cư sĩ. Về sau, nàng lo nghĩ đến kiếp người, thấy sự nguy hiểm các dục
lạc, và thấy được sự an tịnh trong nếp sống viễn ly. Nàng xuất gia với sự
hướng dẫn của bà Mahàpajàpati, và phát triển thiền quán, nàng chứng được quả
Bất lai.
Một hôm, một thanh niên ăn chơi ở Ràjagaha, trong khi c̣n trẻ tuổi, đứng ở
nơi vườn xoài ở Jivaka và thấy nàng đi vào rừng để nghỉ trưa. Nó chận đường
nàng lại và xin thỏa măn dục lạc. Nàng dạy cho nó biết, với nhiều bài kệ, sự
nguy hiểm của dục lạc và sự lựa chọn của nàng về đời sống viễn ly, thuyết
pháp cho chàng thanh niên ấy. Nhưng chàng thanh niên không có nghe nàng và
vẫn đ̣i thỏa măn các dục lạc. Vị Trưởng lăo Ni, không có dùng những lời
khuyên nhủ của ḿnh, thấy chàng ấy mê say con mắt của nàng, liền móc một con
mắt của nàng và đưa con mắt ấy cho chàng và nói: 'Đây là con mắt có tội của
nàng'. Chàng thanh niên hoảng sợ, khủng khiếp và xin lỗi nàng. Nàng đi đến
trước mặt vị Đạo Sư, và khi thấy Ngài, con mắt của nàng được chữa lành như
cũ. Do vậy, trước mặt Thế Tôn, nàng cảm xúc rung động, hoan hỷ sung sướng.
Bậc Đạo Sư biết được tâm trạng của nàng, dạy nàng và giúp nàng đạt được quả
vị cao nhất. Dằn ḷng sự vui sướng của nàng, nàng phát triển thiền quán,
chứng được quả A-la-hán, với hiểu biết ư nghĩa và hiểu về pháp. Sau đó, an
trú trong an lạc Niết bàn, nàng nghĩ đến những ǵ nàng chứng được và nói lên
câu chuyện của nàng với chàng thanh niên ăn chơi bằng những câu kệ như sau:
|
http://wws19.htm#LXXI
CANTO XIV
PSALM OF ABOUT THIRTY VERSES
LXXI
Subhā of Jīvaka's Mango-grove. 388
SHE too, having made her resolve under former Buddhas, and heaping up good
of age-enduring efficacy in this and that rebirth, fostering the root of
good and perfecting the conditions for emancipation through the ripening of
her knowledge, was in this Buddha-era reborn at Rājagaha, in the family of a
very eminent brahmin. Her name was Subhā, and truly lovely was her body in
all its members. It was for this reason that she came to be so called. While
the Master sojourned at Rājagaha, she received faith and became a
lay-disciple. Later she grew anxious over the round of life, and saw the
bane of the pleasures of sense, and discerned that safety lay in
renunciation. She entered the Order under the Great Pajāpatī the Gotamid,
and exercising herself in insight, was soon established in the fruition of
the Path of No-return.
Now one day a certain libertine of Rājagaha, in the prime of youth, was
standing in the Jīvaka Mango-grove, and saw her going to siesta; and feeling
enamoured, he barred her way, soliciting her to sensual pleasures. She
declared to him by many instances the bane of sensuous pleasures and her own
choice of renunciation, teaching him the Norm. Even then he was not cured,
but persisted. The Therī, not stopping short at her own words, and seeing
his passion for the beauty of her eyes, extracted one of them, and handed it
to him, saying: 'Come, then! here is the offending eye of her!' Thereat the
man was horrified and appalled and, his lust all gone, asked her
forgiveness. The Therī went to the Master's presence, and there, at sight of
Him, her eye became as it was before. Thereat she stood vibrating with
unceasing joy at the Buddha. The Master, knowing the state of her mind,
taught her, and showed her exercise for reaching the highest. Repressing her
joy, she developed insight, and attained Arahantship, together with thorough
grasp of the Norm in form and meaning. Thereafter, abiding in the bliss and
fruition of Nibbana, she, reflecting on what she had won, uttered her
dialogue with the libertine in these verses:
In Jīvaka's pleasant woodland walked Subhā
The Bhikkhunī. A gallant met her there
And barred the way. To him thus spake Subhā: 389 (366)
|
366. Trong rừng xoài tươi đẹp,
Của ông Jivaka,
Tỷ-kheo-ni Subhà,
Đang bộ hành đi tới,
Có chàng trẻ ăn chơi
Ngăn chặn Subhà lại
Nàng nói lên người ấy
Những lời nói như sau.
367. Ta đă xúc phạm ǵ,
Để chàng đứng chận tôi?
Thật là không xứng đáng
Để một người đàn ông
Xúc phạm nữ xuất gia,
Hỡi Hiền giả, hiểu cho.
368. Bậc Tôn sư ta dạy,
Chính học pháp như vậy,
Được bậc Thiện Thệ thuyết,
Là con đường thanh tịnh,
Không có cấu uế nào.
Sao chàng đứng chận ta.
369. Tâm ta thật thanh tịnh,
Tâm người không thanh tịnh,
Tâm người đầy tham ái,
Ta không tham, không uế,
Mọi nơi, ư giải thoát
Sao chàng đứng chận ta?
370. Nàng trẻ, không ác pháp,
Nàng xuất gia làm ǵ?
Hăy bỏ áo Cà sa!
Đến, lạc hưởng rừng hoa.
371. Toàn hoa tỏa hương ngạt,
Cây rưới bụi muôn hoa,
Xem tuổi xuân tuổi trẻ,
Là thời tiết hạnh phúc,
Hăy đến thọ hưởng lạc
Trong rừng nở trăm hoa.
372. Con đường dưới ṿm hoa,
Xào xạc gió lay động,
Nàng được lạc thú ǵ,
Khi một ḿnh vào rừng.
373. Trú xứ chúng thú dữ,
Vang tiếng voi rống dục,
Rừng lớn trống không người,
Nhiều hiện tượng hăi hùng,
Nàng lại muốn đi vào,
Không một ai bạn đường?
374. Như búp bê vàng chói,
Giống tiên nữ vườn trời,
Nàng đắp vải Kàsi,
Đẹp mịn, sáng chói nàng.
375. Ta sống nô lệ nàng,
Nếu nàng sống ở rừng,
Không một sanh loại nào,
Mà ta yêu hơn nàng,
Hỡi nàng mắt dịu hiền,
Như mắt Kin-na-ŕ.
376. Nếu nàng theo lời ta,
Nàng sẽ được hạnh phúc,
Hạnh phúc sống gia đ́nh,
Sống lâu đài che gió,
Sống có các nữ nhân,
Hầu hạ phục vụ nàng.
377. Mang lụa mịn Kàsi,
Dùng ṿng hoa, sáp đỏ,
Ta làm nhiều trang sức,
Vàng châu báu ngọc ngà.
***YouTube 7 ***
378. Nàng leo lên giường quư,
Gỗ chiên đàn, lỏi thơm,
Che màn đẹp tinh sạch,
Trải nệm mới lông dài.
379. Như sen vươn từ nước,
Phục vụ cho phi nhân,
Như vậy nàng Phạm hạnh,
Sống toàn hảo đến già.
380. Ở đây là cái ǵ,
Chàng xem là tuyệt diệu,
Trong nghĩa địa ứ đầy,
Tràn đầy những thân xác,
Chàng được thấy cái ǵ,
Trong thân xác hủy hoại,
Khi chàng thốt ra lời,
Si mê, vô ư thức?
381. Chính mắt như sơn dương,
Như Kinri giữa rừng,
Ta thấy con mắt nàng,
Dục lạc liền tăng trưởng.
382. Trong gương mặt không uế,
Sáng chói như vàng ṛng,
Chẳng khác ǵ hoa sen,
Đặt chính giữa đài sen,
Thấy con mắt của nàng,
Ḷng dục liền tăng trưởng.
383. Tuy xa ta vẫn nhớ,
Lông mi dài tuyệt đẹp,
Không ǵ ta yêu hơn,
Mắt Kinri của nàng.
384. Chàng muốn dùng phi đạo,
T́m mặt trăng mà chơi,
Muốn nhảy qua Mê-ru,
Muốn t́m đến con Phật.
385. Trên đời này, cơi trời,
Ta nay không tham ái.
Ta không biết người ấy,
Người ấy như thế nào,
Đường đạo đă giết sạch,
Giết hại tận gốc rễ.
386. Quăng đi như hố than,
Than hừng đang cháy đỏ,
Đánh giá như thuốc độc,
Đang xâm nhập đến thân,
Ta không biết người ấy,
Người ấy như thế nào,
Đường đạo đă giết sạch,
Giết hại đến gốc rễ.
387. Hăy cám dỗ nữ nhân,
Không có biết quán sát,
Hay Đạo Sư người ấy,
Đang c̣n phải học tập,
Chàng mê hoặc người ấy,
Làm hại được người ấy.
388. C̣n ta đă chánh niệm,
Đối khen chê lạc khổ,
Biết hữu vi bất tịnh,
Bám chặt tư tưởng ấy.
389. Ta là đệ tử Ni,
Của bậc đại Thiện Thệ,
Ta đă dấn thân bước
Trên đường đạo tám ngành,
Mũi tên đă nhổ lên
Không c̣n các lậu hoặc,
Ta đi đến nhà trống,
Tâm tư ta hoan hỷ.
390. Ta đă được thấy nó,
Một búp bê khéo vẽ,
Với trục quay gỗ mới,
Khéo cột với dây que,
Búp bê ấy nhảy múa,
Nhiều điệu múa khác nhau.
391. Dây que ấy được rút,
Mở ḷng rời phân tán,
Thành trống không, miếng nhỏ,
Chỗ nào ư say đắm.
392. Thân ta ví dụ vậy,
Không bộ phận không động.
Không bộ phận, không động.
Chỗ này ư say đắm.
393. Như thấy một bức vẽ,
Tô màu đỏ trên tường,
Cái thấy chàng đảo lộn,
V́ trí người thiếu sót.
394. ảo thuật xem tối thượng,
Như cây vàng trong mộng,
Mù ḷa ngươi chạy theo,
Cái trống không, không thực,
Như cái tṛ múa rối,
Được xem giữa quần chúng.
395. Mắt nàng như ḥn bi,
Đặt lỗ trống của cây,
Như những bong bóng nước,
Đầy dẫy những nước mát,
Những con người đa dạng,
Sanh ra những mủ ghèn.
396. Thiếu nữ đẹp tuyệt ấy,
Với tâm không chấp trước,
Bóc một con mắt nàng.
Trao liền cho người ấy,
Và nói hăy cầm lấy,
Con mắt này của người.
397. Khi ấy tham liền diệt,
Chàng khẩn cầu xin lỗi,
Mong rằng Phạm hạnh ni,
Được an ổn trở lại,
Tôi sẽ không c̣n dám,
Xâm phạm thế này nữa.
398. Hai hạng người thế này,
Chẳng khác ôm lửa hừng,
Tôi như nắm rắn độc,
Mong an ổn tha thứ.
399. Thoát khỏi bị xúc phạm,
Vị Tỷ-kheo-ni ấy,
Từ đấy đi đến gần
Bậc Giác ngộ thù thắng,
Thấy được tướng công đức,
Tốt đẹp và thù thắng,
Mắt của nàng hồi phục,
Được trở lại như xưa.
[ ^ ]
(Contents)
-------------------------------------------------------------------------------- |
'What have I done to offend thee, that thus in my path thou comest?
No man, O friend, it beseemeth to touch a Sister in Orders. (367)
So hath my Master ordained in the precepts we honour and follow;
So hath the Welcome One taught in the training wherein they have trained me,
Purified discipline holy. Why standest thou blocking my pathway? (368)
Me pure, thou impure of heart; me passionless, thou of vile passions;
Me who as to the whole of me freed am in spirit and blameless,
Me whence comes it that Thou dost hinder, standing obnoxious?' (369)
'Young art thou, maiden, and faultless–what seekest thou in the holy life?
Cast off that yellow-hued raiment and come! in the blossoming woodland
Seek we our pleasure. Filled with the incense of blossoms the trees waft
(370)
Sweetness. See, the spring's at the prime, the season of happiness!
Come with me then to the flowering woodland, and seek we our pleasure. (371)
Sweet overhead is the sough of the blossoming crests of the forest
Swayed by the Wind-gods. But an thou goest alone in the jungle,
Lost in its depths, how wilt thou find aught to delight or content thee?
(372)
Haunted is the great forest with many a herd of wild creatures,
Broken its peace by the tramplings of elephants rutting and savage.
Empty of mankind and fearsome 390 –is't there thou would'st go
uncompanioned? (373)
Thou like a gold-wrought statue, like nymph in celestial garden
Movest, O peerless creature. Radiant would shine thy loveliness
Robed in raiment of beauty, diaphanous gear of Benares. (374)
I would live but to serve thee, an thou would'st abide in the woodland.
Dearer and sweeter to me than art thou in the world is no creature,
Thou with the languid and slow-moving eyes of an elf of the forest. (375)
If thou wilt list to me, come where the joys of the sheltered life 391 wait
thee:
Dwell in a house of verandas and terraces, handmaidens serving thee. (376)
Robe thyself in delicate gear of Benares, don garlands, use unguents.
Ornaments many and divers I give to thee, fashioned with precious stones,
Gold work and pearls. And thou shalt mount on a couch fair and sumptuous,
(377)
Carvèd in sandalwood, fragrant with essences, spread with new pillows,
Coverlets fleecy and soft, and decked with immaculate canopies. (378)
Like to a lotus upborne on the bosom of sprite-haunted water,
Thou, O chaste anchorite, farest to old age, thy beauty unmated.' (379)
'What now to thee, in this carrion-filled, grave-filling carcass so fragile
Seen by thee, seemeth to warrant the doctrine thou speakest, infatuate?'
(380)
'Eyes hast thou like the gazelle's, like an elf's in the heart of the
mountains–
'Tis those eyes of thee, sight of which feedeth the depth of my passion.
(381)
Shrined in thy dazzling, immaculate face as in calyx of lotus,
'Tis those eyes of thee, sight of which feedeth the strength of my passion.
(382)
Though thou be far from me, how could I ever forget thee, O maiden,
Thee of the long-drawn eyelashes, thee of the eyes so miraculous?
Dearer to me than those orbs is naught, O thou witching-eyed fairy!' (383)
'Lo! thou art wanting to walk where no path is; thou seekest to capture
Moon from the skies for thy play; thou would'st jump o'er the ridges of
Meru, 392
Thou who presumest to lie in wait for a child of the Buddha! (384)
Nowhere in earth or in heaven lives now any object of lust for me.
Him I know not. What like is he? Slain, root and branch, through the Noble
Path. (385)
Hurled as live coal from the hand, and rated as deadly as poison-cup,
Him I see not. What like is he? Slain, root and branch, through the Noble
Path. (386)
Tempt thou some woman who hath not discerned what I say, or whose teacher
Is but a learner; haply she'll listen; tempt thou not Subhā;
She understandeth. And now 'tis thyself hast vexation and failure. (387)
For I have set my mind to be watchful in whatso befalls me–
Blame or honour, gladness or sorrow–and knowing the principle:–
'Foul are all composite things,' nowhere the mind of me clings to them.
(388)
Yea, the disciple am I of the Welcome One; onward the march of me
Riding the Car of the Road that is Eightfold. Drawn are the arrows
Out of my wounds, and purged is my spirit of drugging Intoxicants.
So I am come to haunts that are Empty. 393 There lies my pleasure. (389)
Oh! I have seen it–a puppet well painted, with new wooden spindles,
Cunningly fastened with strings and with pins, and diversely dancing. (390)
But if the strings and the pins be all drawn out and loosened and scattered,
So that the puppet be made non-existent and broken in pieces,
Which of the parts wilt thou choose and appoint for thy heart's rest and
solace? (391)
Such is the manner wherein persist these poor little bodies:
Take away members and attributes–nothing surviveth in any wise.
Nothing surviveth! Which dost thou choose for thy heart's rest and solace?
(392)
E'en as a fresco one sees drawn on a wall, painted in ochre,
[Giveth us naught of the true and the real, save in the seeming ;] 394
Thou herein with vision perverted [canst not distinguish;
Judgest with] wisdom of average human, fallible, worthless. (393)
O thou art blind! thou chasest a sham, deluded by puppet shows
Seen in the midst of the crowd; thou deemest of value and genuine
Conjurer's trickwork, trees all of gold that we see in our dreaming. (394)
What is this eye but a little ball lodged in the fork of a hollow tree,
Bubble of film, anointed with tear-brine, exuding slime-drops,
Compost wrought in the shape of an eye of manifold aspects?' 395 (395)
Forthwith the maiden so lovely tore out her eye and gave it him:
'èHere, then! take thou thine eye!' Nor sinned she, her heart unobstructed.
(396)
Straightway the lust in him ceasèd and he her pardon imploring:
'O that thou mightest recover thy sight, thou maid pure and holy!
Never again will I dare to offend thee after this fashion. (397)
Sore hast thou smitten my sin; blazing flames have I clasped to my bosom;
Poisonous snake have I handled–but O! be thou heal'd and forgive me!' (398)
Freed from molesting, the Bhikkhunī went on her way to the Buddha,
Chief of th' Awakened. There in his presence, seeing those features
Born of uttermost merit, straightway her sight was restored to her. (399)
'Sweet overhead is the sough of the blossoming crests of the forest
Swayed by the wind-gods.
To face p. 150.
388 Jīvakā Komārabhacca, physician to King Bimbisāra at the court of
Rājagaha, is a very prominent layman in the first chronicles of the Order,
prescribing for its members on different occasions. See Vinaya Texts
(S.B.E.), i. 191, ii. 173 ſſ., iii. 102; Majjh. Nik., i. 368 ſſ.; Dīgha
Nik., i. 49 (Dialogues, i. 67), in which the Grove is mentioned.
389 The metre now changes from śloka to that termed vetālīya, or, at least,
to a metre which in later literature became formulated under that name. It
runs approximately thus ('What have I,' etc.): ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘
_ _ _ _ _ _ || _ _ _ _ _ _
K i n t e a p a r ā d h i t a n m a y ā y a n m a ŋ o v a r i y ā n a t i t
t h a s i ?
˘ ˘ _ ˘ ˘ _ ˘ ˘ _ || ˘ ˘ _ _ _ ˘ _ ˘ _ ˘ ˘
N a h i p a b b a j i t ā y a , ā v u s o , p u r i s o s a m p h u s s a n
ā y a k a p p a t i .
390 'Although,' remarks the Commentator, 'in that wood there was then
nothing of the sort. But this he said, wishing to make her afraid.'
391 Lit., 'Come, dwell in a house.'
392 The mythical central mountain of the universe, called also Sineru.
393 Suṇṇa, for the earnest Buddhist, connoting both solitude and the
ejection of the Ego-delusion. Cf. Ps. xxxi. 46.
394 I have filled up the somewhat elliptical style of the text from the
Commentary.
395 Cf. Balzac's philosophe: 'Tiens,' dit-il, en voyant les pleurs de sa
femme, 'j'ai décomposé les larmes. Elles contiennent un peu de phosphate, de
chaux, de chlorure de sodium, du mucus et de l'eau.' –La Recherche de
l'Absolu.
|
|
http://www.buddhanet.net
193. CHUYỆN HOÀNG TỬ LIÊN HOA (Tiền thân Cullapaduma)
Nàng chính là người ấy...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh
tấn. Hoàn cảnh chuyện này sẽ được tŕnh bày trong Tiền thân Ummadanti (số
527). Bậc Đạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có thật chăng ông thối thất tinh tấn?
Vị ấy trả lời:
- Bạch Thế Tôn, con thấy một nữ nhân mặc áo quần rất đẹp, nên bị ái nhiễm và
thối thất tinh tấn.
Bậc Đạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, các nữ nhân đều vô ơn, phản bội t́nh bạn. Các bậc hiền trí
thuở xưa, với tâm tư điên cuồng đến độ cho họ uống máu đầu gối phải của
ḿnh, trọn đời mang tặng phẩm hiến dâng cho họ, nhưng vẫn không chinh phục
được tâm của nữ nhân.
Nói vậy xong, bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con
trai của bà hoàng hậu chánh cung, khi đến ngày đặt tên, được gọi là hoàng tử
Paduma (Liên Hoa). Sau Bồ-tát, c̣n có sáu người em trai nữa. Bảy người ấy
tiếp tục lớn lên, lập gia đ́nh sống bên cạnh nhà vua. Một hôm vua đứng nh́n
xuống sân thấy họ đi đến hầu vua với một tùy tùng đông đảo, vua sinh ḷng
nghi ngờ: "Những người này có thể giết ta và cướp lấy quốc độ". Nghĩ vậy,
vua cho gọi họ đến và nói:
- Này các con thân, các con không thể sống trong thành này. Hăy đi đến một
chỗ khác, và sau khi ta băng hà, hăy trở về cai trị vương quốc, v́ vương
quốc là sở hữu của gia đ́nh.
Các con vâng theo lời cha.
Họ khóc than, đi về nhà, đem theo vợ con ḿnh và nói:
- Chúng ta hăy đi bất cứ nơi nào và sống tại đấy.
Họ ra khỏi thành, lên đường, đi đến một chỗ hoang vu, không có đồ ăn nước
uống, chịu đựng đói khát không nổi, và nghĩ: "Chúng ta c̣n sống sẽ được nữ
nhân khác".
Họ giết vợ của người em út, chia thành mười ba phần, rồi ăn thịt. Bồ-tát và
vợ lấy phần ḿnh chia làm ba, để lại một phần và ăn hai phần. Như vậy trong
sáu ngày, họ giết sáu nữ thân để ăn thịt. Mỗi ngày kế tiếp Bồ-tát để lại một
phần, v́ vậy có được sáu phần. Đến ngày thứ bảy, họ có ư định giết vợ của
Bồ-tát. Nghe vậy, Bồ-tát cho họ ăn sáu phần c̣n lại, và nói:
- Hăy ăn sáu phần này, ngày mai sẽ tính.
Cho họ ăn thịt xong, khi họ nằm ngủ, Bồ-tát đem vợ chạy trốn. Người vợ đi
một lát, rồi nói:
- Thưa chàng, em không thể đi được.
Bồ-tát cơng vợ lên vai, đi đến rạng đông, ra khỏi được cảnh hoang vu. Khi
mặt trời mọc, người vợ nói:
- Thưa chàng, em khát.
Bồ-tát nói:
- Này hiền thê, không có nước.
Nghe nàng nói đi nói lại, Bồ-tát lấy gươm đâm đầu gối chân phải của ḿnh và
nói:
- Này hiền thê, không có nước uống. Đây là máu đầu gối phải của ta. Hăy ngồi
xuống và uống nó đi.
Người vợ làm như vậy. Họ tiếp tục đi, đến sông Hằng Hà hùng vĩ, họ uống
nước, tắm, ăn các loại trái và rau v.v... rồi nghỉ ngơi tại một chỗ thoải
mái. Gần một khúc quanh của sông Hằng, họ dựng lên một am thất và sống tại
đấy.
Một hôm, một tên cướp ở thượng lưu sông Hằng, phạm tội phản nghịch vua nên
tay chân, tai mũi đều bị cắt đứt, bị quăng nằm trong chiếc xuồng nhỏ và thả
trôi trên sông Hằng Hà rộng lớn, rên la v́ đau đớn, và trôi đến chỗ ấy.
***YouTube 8 *** Bồ-tát nghe tiếng than đau thương bi ai của nó, liền đi đến bờ sông Hằng,
kéo nó lên bờ, dắt nó đến am thất, và xức thuốc chữa trị vết thương. Người
vợ nói:
- Một đứa què lười biếng như thế này mà chồng ta lại mang từ sông Hằng về để
săn sóc và cứu sống!
Nói vậy xong, nàng khinh bỉ nhổ vào mặt người què ấy. Khi các vết thương của
nó được lành mạnh, Bồ-tát cho nó ở tại am thất với vợ ḿnh, rồi đem trái cây
và các loại khác từ rừng về, nuôi nó và người vợ. Trong khi họ chung sống
như vậy, nữ nhân ấy sanh ái luyến người què, thông dâm với nó và muốn giết
Bồ-tát với phương tiện ác độc, liền nói với chồng:
- Thưa chàng, khi em ngồi trên lưng chàng ra đi khỏi khu vực hoang vu, em
nh́n ḥn núi này, và cầu xin như sau: Thưa vị thần núi, nếu con được sống an
lành với chồng, con sẽ làm lễ cúng tạ ngài! Nay thần ấy làm em hoảng sợ. Em
phải làm lễ cúng tạ thần ấy.
Bồ-tát không biết vợ ḿnh lừa đảo liền bằng ḷng, sửa soạn lễ cúng, giao cho
vợ dĩa đựng đồ cúng, rồi leo lên chóp núi. Người vợ nói với chồng:
- Thưa chàng, không phải vị thần mà chính chàng mới là vị thần tối thượng.
Trước hết, em sẽ cúng dường chàng hoa rừng, đi nhiễu xung quanh chàng, đảnh
lễ chàng, rồi sau đó em cúng lễ cho vị thần núi.
Nói vậy xong, nàng đặt Bồ-tát đứng trên bờ vực thẳm, cúng dường Bồ-tát hoa
rừng, đi nhiễu xung quanh, và làm như muốn đảnh lễ chồng, nàng đứng phía sau
đánh Bồ-tát trên lưng, rồi xô Bồ-tát rơi xuống vực thẳm, và la lên v́ thỏa
măn:
- Ta đă thấy cái lưng kẻ thù ta rồi!
Và nàng xuống núi đi với người què ấy.
Bồ-tát rơi từ trên núi xuống vực thẳm nhưng bị mắc vào một chùm lá không có
gai trên chóp cây sung nên không thể xuống núi được. Bồ-tát ăn trái cây sung
và sống giữa các cành cây.
Một con kỳ-đà chúa có thân to lớn, từ chân núi thường leo lên ăn trái của
cây sung ấy. Nó thấy Bồ-tát và chạy trốn. Ngày sau nó lại đến, ăn những trái
ở một bên cây rồi bỏ đi. Nó đến nhiều lần như vậy cho đến khi nó kết thân
với Bồ-tát và hỏi:
- Làm thế nào anh đến được chỗ này?
Khi được Bồ-tát nói cho biết lư do, nó nói:
- Thôi được, anh chớ sợ.
Rồi nó bảo Bồ-tát ngồi trên lưng ḿnh, sau đó nó ḅ xuống núi, ra khỏi khu
rừng, đặt Bồ-tát trên con đường lớn và nói:
- Hăy đi theo con đường này.
Bồ-tát đi đến một ngôi làng nhỏ và sống tại đấy. Khi nghe tin phụ vương đă
mệnh chung, Bồ-tát đi đến Ba-la-nại, lên ngôi kế vị trong vương quốc thuộc
quyền sở hữu của gia đ́nh và trở thành vua Paduma. Nguyện theo Mười vương
pháp trị nước đúng luật, Bồ-tát cho xây sáu hội trường bố thí tại bốn cửa
thành, tại chính giữa thành, tại trước cửa cung điện và mỗi ngày bố thí sáu
trăm ngàn đồng tiền.
Trong lúc ấy, nữ nhân độc ác kia cơng người què trên lưng, đi ra khỏi rừng,
xin ăn giữa con đường có người qua kẻ lại, thâu lượm cháo cơm để nuôi dưỡng
người t́nh. Có người hỏi:
- Người này là ai đối với cô?
Nàng nói dối:
- Mẹ người này là chị của cha tôi. Người này là anh họ tôi. Người ta cho tôi
người này. Dầu cho chàng bị đọa đầy đến chết, tôi cũng sẽ mang chồng tôi
trên vai đi khất thực, và nuôi dưỡng chàng.
Mọi người khen:
- Thật là người vợ trung tín với chồng!
Từ đấy trở đi, người ta cho nàng cháo và cơm nhiều hơn trước. Những người
khác nói với nàng:
- Chớ sống như thế này. Vua Paduma trị v́ ở Ba-la-nại, công đức bố thí của
ngài vang dội toàn cơi Diêm-phù-đề. Vua thấy nàng sẽ hoan hỷ, và sẽ cho nàng
nhiều tài sản. Hăy để chồng nàng ngồi trong cái giỏ này và cơng đi.
Họ cổ vơ nàng và cho nàng một cái giỏ tre. Người đàn bà ác hạnh kia đặt
người què ngồi trên lưng ḿnh, rồi đi đến Ba-la-nại, xin ăn tại các nhà bố
thí và sống như vậy.
Bấy giờ Bồ-tát thường hay ngồi trên lưng voi với trang sức lộng lẫy, đi đến
nhà bố thí và sau khi tự tay bố thí cho tám hay mười người, ngài lại đi về
cung. Nữ nhân ác hạnh ấy đặt người què ngồi trong cái giỏ, mang nó trên lưng
và đứng trên đường vua đi qua. Vua thấy họ bèn hỏi:
- Người này là ai vậy?
- Thưa Đại vương, một người vợ trung tín.
Vua cho gọi nàng đến, nhận diện nàng, liền bảo đưa người què ra khỏi cái
giỏ, và hỏi:
- Người này là ǵ của nàng?
Nàng trả lời:
- Người này là con của người chị cha tôi. Gia đ́nh đó cho tôi và tôi nhận
người này làm chồng tôi.
Các người không biết nội dung câu chuyện liền nói to:
- Ôi, thật là người vợ trung tín!
Và họ tán thán nữ nhân ác hạnh ấy. Vua hỏi thêm:
- Có phải người què này do gia đ́nh cho nàng làm chồng không?
Nữ nhân ấy không nhận diện được vua nên mạnh dạn nói:
- Thưa Đại vương, đúng vậy.
- Và đây có phải là con vua Ba-la-nại không? Nàng có phải là con gái của một
vị vua, là vợ của hoàng tử Paduma?
Sau khi dằn mặt nàng, vua vạch mặt nàng:
- Chính nàng uống máu từ đầu gối của ta và v́ luyến ái với người què này,
nàng đă xô ta xuống vực thẳm. Nàng nghĩ rằng ta đă chết, nhưng ta vẫn c̣n
sống! Nay nàng đến đây với dấu hiệu tử thần in trên trán đấy!
Rồi vua nói với các triều thần:
- Hỡi các triều thần, trước kia các khanh hỏi trẫm và trẫm đă trả lời như
sau: Sáu người em trai trẫm đă giết vợ họ và đă ăn thịt vợ họ. Nhưng trẫm đă
bảo vệ vợ ḿnh an toàn, đưa nàng đến bờ sông Hằng, và sống tại một am thất.
Ở đấy trẫm cứu một kẻ què bị xử tội chết và nuôi dưỡng nó. C̣n nữ nhân đă
sanh tâm luyến ái nó, và xô trẫm xuống vực sâu, không ai khác mà chính là nữ
nhân ác hạnh này. Nhưng trẫm đă tự cứu ḿnh nhờ tỏ bày t́nh thân ái. C̣n
người què bị xử tội chết không ai khác mà chính là tên này!
Rồi Bồ-tát đọc những bài kệ này:
Nàng chính là người ấy,
C̣n ta không ai khác,
Người què chính là nó,
Bị chặt tay, chính nó.
Tuy vậy nàng vẫn nói:
- Là chồng tôi lúc trẻ.
Đàn bà thật đáng chết,
Chúng không có sự thật!
Hăy lấy một cái chày.
Đánh chết tên khốn nạn,
Kẻ độc ác ŕnh rập
Để cướp lấp vợ người.
Sau đó bắt người vợ
Ác độc, tà hạnh này,
Chấm dứt mạng sống nó,
Cắt cả mũi lẫn tai!
Bồ-tát không có thể dẹp được cơn phẫn nộ và ra lệnh trừng phạt chúng, nhưng
rồi không thi hành như đă ra lệnh. Để làm nguôi giận, Bồ-tát bảo cột cái giỏ
vào đầu nàng thật chặt, để nàng không cởi nó ra được rồi quăng kẻ què vào
giỏ và đuổi cả hai ra ngoài quốc độ của ḿnh.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc Đạo Sư thuyết giảng các Sự thật và cuối bài
giảng, vị Tỷ-kheo thối thất đă đắc quả Dự lưu.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Sáu anh em thời ấy là sáu vị Trưởng lăo, người vợ là thiếu nữ Cinca, người
què phạm tội là Đề-bà-đạt-đa, con kỳ đà chúa là Ànanda, c̣n vua Paduma là Ta
vậy.
-ooOoo-
(Contents) |
http://2046.htm
No. 193 1.
CULLA-PADUMA-JĀTAKA.
"’Tis I--no other," etc.--This story the Master told while dwelling at
Jetavana about a backsliding brother. The circumstances will be explained in
the Ummadantī Birth 2. When this brother was asked by the Master whether he
were really a backslider, he replied that he was. "Who," said the Master,
"has caused you to backslide?" He replied that he had seen a woman dressed
up in finery, and overcome by passion he had backslidden. Then the Master
said, "Brother, womankind are all ungrateful and treacherous; wise men of
old were even so stupid as to give the blood from their own right knee for
them to drink, and made them presents all their life long, and yet did not
win their hearts." And he told an old-world tale.
_____________________________
[116] Once upon a time, when king Brahmadatta reigned over, Benares, the
Bodhisatta was born as his chief queen's son. On his name-day, they called
him Prince Paduma, the Lotus Prince. After him came six younger brothers.
One after another these seven came of age and married and settled down,
living as the king's companions.
One day the king looked out into the palace courts, and as he looked he saw
these men with a great following on their way to wait upon himself. He
conceived the suspicion that they meant to slay him, and seize his kingdom.
So he sent for then, and after this fashion bespake them.
"My sons, you may not dwell in this town. So go elsewhere, and when I die
you shall return and take the kingdom which belongs to our family."
They agreed to their father's words; and went home weeping and wailing. "It
matters not where we go!" they cried; and taking their wives with them, they
left the city, and journeyed along the road. By and bye they came to a wood,
where they could get no food or drink. And being unable to bear the pangs of
hunger, they determined to save their lives at the women's cost. They seized
the youngest brother's wife, and slew her; they cut up her body into
thirteen parts, and ate it. But the Bodhisatta and his wife set aside one
portion, and ate the other between them.
Thus they did six days, and slew and ate six of the women; and each day the
Bodhisatta set one portion aside, so that he had six portions saved.
[paragraph continues] On the seventh day the others would have taken the
Bodhisatta's wife to kill her; but instead he gave them the six portions
which he had kept. "Eat these," said he; "to-morrow I will manage." They all
did eat the flesh; and when the time came that they fell asleep, the
Bodhisatta and his wife made off together.
When they had gone a little space, the woman said, "Husband, I can go no
further." So the Bodhisatta took her upon his shoulders, and at sunrise he
came out of the wood. When the sun was risen, said she--"Husband, I am
thirsty!"
"There is no water, dear wife!" said he.
But she begged him again and again, until he struck his right knee with his
sword, [117] and said,
"Water there is none; but sit you down and drink the blood here from my
knee." And so she did.
By and bye they came to the mighty Ganges. They drank, they bathed, they ate
all manner of fruits, and rested in a pleasant spot. And there by a bend of
the river they made a hermit's hut and took up their abode in it.
Now it happened that a robber in the regions of Upper Ganges had been guilty
of high treason. His hands and feet, and his nose and ears had been cut off,
and he was laid in a canoe, and left to drift down the great river. To this
place he floated, groaning aloud with pain. The Bodhisatta heard his piteous
wailing.
"While I live," said he, "no poor creature shall perish for me!" and to the
river bank he went, and saved the man. He brought him to the hut, and with
astringent lotions and ointments he tended his wounds.
But his wife said to herself, "Here is a nice lazy fellow he has fetched out
of the Ganges, to look after!" and she went about spitting for disgust at
the fellow.
Now when the man's wounds were growing together, the Bodhisatta had him to
dwell there in the hut along with his wife, and he brought fruits of all
kinds from the forest to feed both him and the woman. And as they thus dwelt
together, the woman fell in love with the fellow, and committed sin. Then
she desired to kill the Bodhisatta, and said to him, "Husband, as I sat on
your shoulder when I came out from the forest, I saw yon hill, and I vowed
that if ever you and I should be saved, and come to no harm, I would make
offering to the holy spirit of the hill. Now this spirit haunts me: and I
desire to pay my offering!"
"Very good," said the Bodhisatta, not knowing her guile. He prepared an
offering, and delivering to her the vessel of offering, he climbed the
hill-top. [118] Then his wife said to him,
"Husband, not the hill-spirit, but you are my chief of gods! Then in your
honour first of all I will offer wild flowers, and walk reverently
round you, keeping you on the right, and salute you: and after that I will
make my offering to the mountain spirit." So saying, she placed him facing a
precipice, and pretended that she was fain to salute him in reverent
fashion. Thus getting behind him, she smote him on the hack, and hurled him
down the precipice. Then she cried in her joy, "I have seen the back of my
enemy!" and she came down from the mountain, and went into the presence of
her paramour.
Now the Bodhisatta tumbled down the cliff; but he stuck fast in a clump of
leaves on the top of a fig tree where there were no thorns. Yet he could not
get down the hill, so there he sat among the branches, eating the figs. It
happened that a huge Iguana used to climb the hill from the foot of it, and
would eat the fruit of this fig tree. That day he saw the Bodhisatta and
took to flight. On the next day, he came and ate some fruit on one side of
it. Again and again he came, till at last he struck up a friendship with the
Bodhisatta.
"How did you get to this place?" he asked; and the Bodhisatta told him how.
"Well, don't be afraid," said the Iguana; and taking him on his own back, he
descended the hill and brought him out of the forest. There he set him upon
the high road, and showed him what way he should go, and himself returned to
the forest.
The other proceeded to a certain village, and dwelt there till he heard of
his father's death. Upon this he made his way to Benares. There he inherited
the kingdom which belonged to his family, and took the name of King Lotus;
the ten rules of righteousness for kings he did not transgress, and he ruled
uprightly. He built six Halls of Bounty, one at each of the four gates, one
in the midst of the city, and one before the palace; and every day he
distributed in gifts six hundred thousand pieces of money.
Now the wicked wife took her paramour upon her shoulders, and came forth out
of the forest; and she went a-begging among the people, and collected rice
and gruel to support him withal. [119] If she was asked what the man was to
her, she would reply, "His mother was sister to my father, he is my cousin
1; to him they gave me. Even if he were doomed to death I would take my own
husband upon my shoulders, and care for him, and beg food for his living!"
"What a devoted wife!" said all the people. And thenceforward they gave her
more food than ever. Some of them also offered advice, saying, "Do not live
in this way. King Lotus is lord of Benares; he has set all India in a stir
by his bounty. It will delight him to see you; so delighted will he be, that
he will give you rich gifts. Put your husband
in this basket, and make your way to him." So saying, they persuaded her,
and gave her a basket of osiers.
The wicked woman placed her paramour in the basket, and taking it up she
repaired to Benares, and lived on what she got at the Halls of Bounty. Now
the Bodhisatta used to ride to an alms-hall upon the back of a splendid
elephant richly dight; and after giving alms to eight or ten people, he
would set out again for home. Then the wicked woman placed her paramour in
the basket, and taking it up, she stood where the king was used to pass. The
king saw her. "Who is this?" he asked. "A devoted wife," was the answer. He
sent for her, and recognised who she was. He caused the man to be put down
from the basket, and asked her, "What is this man to you?"--"He is the son
of my father's sister, given me by my family, my own husband," she answered.
"Ah, what a devoted wife!" cried they all: for they knew not the ins and
outs of it; and they praised the wicked woman.
"What--is the scoundrel your cousin? did your family give him to you?" asked
the king; "your husband, is he?"
She did not recognise the king; and "Yes, my lord!" said she, as bole as you
like.
"And is this the king of Benares' son? Are you not the wife of prince Lotus,
the daughter of such and such a king, your name so and so? Did not you drink
the blood from my knee? Did you not fall in love with this rascal, and throw
me down a precipice? Ah, you thought that I was dead, and here you are with
death written upon your own forehead--and here am I, alive!" [120] Then he
turned to his courtiers. "Do you remember what I told you, when you
questioned me? My six younger brothers slew their six wives and ate them;
but I kept my wife unhurt, and brought her to Ganges' bank, where I dwelt in
a hermit's hut: I hauled a condemned criminal out of the river, and
supported him; this woman fell in love with him, and threw me down a
precipice, but I saved my life by showing kindness. This is no other than
the wicked woman who threw me off the crag: this, and no other, is the
condemned wretch!" And then he uttered the following verses:
"’Tis I--no other, and this quean is she;
The handless knave, no other, there you see;
Quoth she--'This is the husband of my youth.'
Women deserve to die; they have no truth.
"With a great club beat out the scoundrel's life
Who lies in wait to steal his neighbour's wife.
Then take the faithful harlot by and bye,
And shear off nose and ears before she die."
[121] But although the Bodhisatta could not swallow his anger, and ordained
this punishment for them, he did not do accordingly; but he
p. 85
smothered his wrath, and had the basket fixed upon her head so fast that she
could not take it off; the villain he had placed in the same, and they were
driven out of his kingdom.
_____________________________
When the Master had ended this discourse, he declared the Truths and
identified the Birth:--at the conclusion of the Truths the backsliding
Brother entered on the Fruit of the First Path:--"In those days certain
elders were the six brothers, the young lady Ciñcā was the wife, Devadatta
was the criminal, Ānanda was the Iguana, and King Lotus was I myself."
--------------------------------------------------------------------------------
Footnotes
81:1 See Pañcatantra iv. 5 (Benfey, ii. p. 305); Thibetan Tales, no. xxi.
"How a Woman requites Love."
81:2 No. 527.
83:1 The Sanskrit version says "his kinsfolk persecuted him," which gives a
reason for the state he was seen in.
|
***YouTube 9 ***
194. CHUYỆN KẺ TRỘM NGỌC (Tiền thân Manicora)
Không có Thiên thần nào...,
Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm, bậc Đạo Sư kể về Đề-bà-đạt-đa muốn sát hại
ḿnh.
Khi nghe Đề-bà-đạt-đa đang âm mưu sát hại ḿnh, bậc Đạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay mà thuở xưa cũng vậy, Đề-bà-đạt-đa đă
âm mưu sát hại ta. Nhưng kẻ ấy cũng không có thể làm như vậy được.
Nói vậy xong, bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia
đ́nh của một gia chủ tại một ngôi làng nhỏ không xa Ba-la-nại bao nhiêu. Khi
Bồ-tát đến tuổi trưởng thành, người ta đi cưới con gái của một gia đ́nh từ
Ba-la-nại về gả cho Bồ-tát. Nàng dễ thương, xinh đẹp, mỹ lệ giống như Thiên
nữ, yểu điệu giống như cây leo nở hoa, yêu kiều như con chim thần Kinnàri,
có tên là Sujàta. Nàng thủy chung, có giới hạnh, luôn luôn làm tṛn bổn phận
đối với chồng. Nàng được Bồ-tát thương mến và quư trọng, v́ vậy cả hai sống
với nhau hoan hỷ, đồng tâm, và thuận ḥa.
Một hôm Sujàtà thưa với Bồ-tát:
- Em muốn về thăm cha mẹ em.
- Lành thay, hiền thê. Hăy chuẩn bị thật đầy đủ lương thực đi đường.
Rồi Bồ-tát bảo nấu đủ loại đồ ăn và sắp đặt các lương thực đi đường. Chuẩn
bị xong, Bồ-tát ngồi phía trước đánh xe, c̣n vợ ngồi phía sau. Cả hai đi đến
gần thành Ba-la-nại, tháo đôi ḅ khỏi xe, tắm rửa và ăn uống. Rồi Bồ-tát cột
ḅ vào xe lại và ngồi phía trước, c̣n Sujàtà đă thay áo, trang điểm, và ngồi
phía sau.
Khi cỗ xe đi vào thành, vua Ba-la-nại ngồi trên lưng con voi đẹp, đang đi
xung quanh thành và đến chỗ ấy. Sujàtà vừa xuống xe và đi bộ sau xe. Vua
thấy nàng, sanh tâm luyến ái, bảo một vị cận thần đi theo ḍ hỏi nàng đă có
chồng, và về tâu với vua:
- Thần nghe nàng ấy đă có chồng, và chồng nàng đang ngồi phía trước xe.
Vua không thể chế ngự tâm ái luyến của ḿnh, và tham dục đă tràn ngập trong
ḷng, vua suy nghĩ: "Với mọi phương tiện, ta sẽ giết tên này và lấy nữ
nhân".
Vua gọi một người và bảo:
- Này người kia, hăy cầm lấy viên ngọc này, giả bộ đang đi trên đường, rồi
bỏ rơi ḥn ngọc trong xe của người ấy.
Nói vậy xong, vua giao cho anh ta một ḥn ngọc, và thúc giục anh ta đi.
Người ấy vâng lời lấy ḥn ngọc, đi đến thả nó vào trong xe rồi trở về thưa:
- Thưa Thiên tử, tôi đă thả ḥn ngọc xong.
Vua la lớn:
- Ta đă mất một ḥn ngọc!
Mọi người làm ầm ĩ lên và vua ra lệnh:
- Hăy đóng tất cả, cắt đứt mọi đường đi ra, và bắt tên ăn trộm.
Các người hầu vua làm theo đúng lệnh. C̣n người kia đem theo một số người,
đi gần đến Bồ-tát và nói:
- Này ông, hăy để xe lại. Vua mất ḥn ngọc trên vương miện. Chúng tôi phải
khám xe của ông.
Anh ta khám xe, lấy ḥn ngọc mà chính anh ta đă bỏ rơi vào, rồi bảo Bồ-tát
là kẻ ăn cắp ḥn ngọc, lấy tay chân đánh đá ngài, cột ngài ra đàng sau, dẫn
đến tŕnh vua và thưa:
- Hăy xem đây là tên trộm ḥn ngọc!
Vua ra lệnh:
- Hăy chặt đầu nó!
Các người của vua tại các ngă tư đường, đánh Bồ-tát bằng roi, rồi dẫn ngài
ra ngoại thành qua cửa phía nam.
Bấy giờ Sujàtà bỏ xe, giơ tay lên trời than khóc chạy theo chồng:
- Ôi chồng tôi! V́ tôi mà chồng tôi phải chịu cảnh đau khổ này!
Nàng đi theo và khóc than như vậy. Các người hầu của vua bắt Bồ-tát nằm ngửa
với ư định chặt đầu ngài. Thấy vậy, Sujàtà nghĩ đến công đức giới hạnh của
ḿnh và nói thầm: "Ta chắc rằng trong đời này không vị Thiên thần nào có khả
năng chận đứng bàn tay những người độc ác dă man làm hại những người có giới
hạnh".
Rồi nàng than khóc và đọc bài kệ đầu:
Không có Thiên thần nào,
Chắc các ngài đi vắng,
Có lẽ không một ai.
Bảo vệ cơi đời này
Kẻ bạo ngược hung hăn
Muốn làm ǵ th́ làm,
Có lẽ không một ai
Chận đứng được bọn chúng!
V́ nàng là người có giới hạnh than khóc như vậy nên chiếc ngai của Thiên chủ
Đế Thích trở thành nóng. Đế Thích nghĩ: "Ai lại muốn ta rời khỏi ngôi vị
Thiên chủ của ta đây?". Rồi Đế Thích xem xét địa giới, biết sự việc đă xảy
ra và nói:
- Vua Ba-la-nại đang làm một điều thật ác độc, khiến cho Sujàtà có giới hạnh
phải đau đớn. Nay ta cần phải đi xuống đó!
Đế Thích từ thiên giới đi xuống, với thần lực của ḿnh bắt ông vua độc ác
đang ngồi trên lưng voi phải rời khỏi voi và đặt vua nằm ngửa tại chỗ hành
quyết thay Bồ-tát. Rồi Đế Thích đỡ Bồ-tát dậy, trang điểm ngài với mọi thứ
đồ trang sức, rồi mặc áo mũ của vua, và đặt ngài ngồi trên lưng voi của vua.
Quân hầu của vua giơ cao búa lên chém đầu. Khi chém xong, họ mới biết là đầu
của vua! Thiên chủ Đế Thích hiện h́nh có thể thấy được, đi đến Bồ-tát, làm
lễ quán đảnh cho ngài và đặt Sujàtà lên ngôi hoàng hậu. Các vị đại thần và
các Bà-la-môn gia chủ v.v... thấy Thiên chủ Đế Thích, sung sướng nói:
- Vua phi pháp đă bị giết, chúng ta nay được vua đúng pháp do Đế Thích ban
cho chúng ta!
Đế Thích đứng giữa hư không nói:
- Đây là vua của các ngươi do Đế Thích ban cho. Bắt đầu từ nay, vua ấy sẽ
trị v́ quốc độ đúng pháp. Nếu vua làm việc phi pháp, trời sẽ mưa phi thời,
đúng thời trời không mưa, và có ba tai nạn về đói, về bệnh, về chiến tranh.
Ba tai nạn này sẽ đến cho dân chúng v́ vua ác.
Rồi Đế Thích thuyết giáo họ với bài kệ thứ hai:
Với nó, mưa phi thời,
Đúng thời, trời không mưa,
Từ trời, vua xuống đất,
Hăy nh́n rơ nguyên nhân
Kẻ này đă bị giết.
Như vậy, Đế Thích thuyết giáo đại quần chúng xong, liền trở về cơi thiên của
ḿnh. C̣n Bồ-tát trị nước đúng pháp và về sau đi lên thiên giới làm đông đảo
hội chúng chư Thiên.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc Đạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, vua phi thời là Đề-bà-lạt-đa. Đế Thích là A-na-luật-đà, Sujàtà là
mẹ của La-hầu-la (Ràhulamàtà), c̣n vị vua do Đế Thích đặt lên ngôi là Ta
vậy.
-ooOoo-
|
No. 194. MAṆICORA-JĀTAKA.
"Ye gods are here," etc.--This story the Master told during a stay in
Veḷuvana, how Devadatta tried to kill hips. Hearing that Devadatta went
about to kill him, he said, "Brethren, this is not the only time that
Devadatta has been trying to kill me; he tried to do so before, and failed."
Then he told them this story.
_____________________________
Once upon a time Brahmadatta was reigning in Benares, when the Bodhisatta
came to life as the son of a householder who lived in a village not far from
the city.
When he came to years, they fetched a young lady of family from Benares to
marry him. She was a fair and lovely maiden, beautiful as a nymph divine,
graceful like a twining creeper, ravishing as a sylph. Her name was Sujātā;
she was faithful, virtuous, and dutiful. She always did duly her devoir to
her lord and his parents. This girl was very dear and precious to the
Bodhisatta. [122] So they two dwelt together in joy, and unity, and oneness
of mind.
On a day Sujātā said to her husband, "I have a wish to see my mother and
father."
"Very good, my wife," replied he; "make ready food sufficient for the
journey." He caused food of all sorts to be cooked, and placed the
provisions in a waggon; since he drove the vehicle, he sat in front, and his
wife behind. To Benares they went; and there they unyoked the waggon, and
washed, and ate. Then the Bodhisatta yoked the oxen
p. 86
again, and sat in front; and Sujātā, who had changed her dress and adorned
herself, sat behind.
As the waggon entered the city, the king of Benares happened to he making a
solemn circuit round the place mounted upon the back of a splendid elephant;
and he passed by that place. Sujātā had come down out of the cart, and was
walking behind on foot. The king saw her: her beauty so attracted his eye,
that he became enamoured of her. He called one of his suite. "Go," said he,
"and find out whether yon woman has a husband or no." The man did as he was
bid, and came back to tell the king. "She has a husband, I am told," said
he; "do you see that man sitting in the cart yonder? He is her husband."
The king could not smother his passion, and sin entered into his mind. "I
will find some way of getting rid of this fellow," thought he, "and then I
will take the wife myself." Calling to a man, he said, "Here, my good
fellow, take this jewelled crest, and make as though you were passing down
the street. As you go, drop it in the waggon of yonder man." So saying, he
gave him a jewelled crest, and dismissed him. The man took it, and went; as
he passed the waggon, he dropped it in; then he returned, and reported to
the king that it was done.
"I have lost a jewelled crest!" cried the king: the whole place was in an
uproar.
"Shut all the gates!" the king gave order: "cut off the outlets! hunt the
thief!" The king's followers obeyed. The city was all confusion! The other
man, taking some others with him, went up to the Bodhisatta, crying--"Hullo!
stop your cart! [123] the king has lost a jewelled crest; we must search
your cart! "And search it he did, till he found the jewel which he had put
there himself. "Thief!" cried he, seizing the Bodhisatta; they beat him and
kicked him; then binding his arms behind him they dragged him before the
king, crying out--"See the thief who stole your jewel!" "Off with his head!"
was the king's command. They scourged him with whips, and tormented him at
every street corner, and cast him out of the city by the south gates.
Now Sujātā left the waggon, and stretching out her arms she ran after him,
wailing as she went--"O my husband, it is I who brought you into this woful
plight!" The king's servants threw the Bodhisatta upon his back, with the
intent to cut off his head. When she saw this, Sujātā thought upon her own
goodness and virtue, reflecting thus within herself; "I suppose there can be
no spirit here strong enough to stay the hand of cruel and wicked men, who
work mischief to the virtuous"; and weeping and wailing she repeated the
first stanza:--
"No gods are here: they must be far away;--
No gods, who over all the world hold sway:
Now wild and violent men may work their will,
For here is no one who could say them nay."
p. 87
As this virtuous woman thus lamented, the throne of Sakka 1, king of the
Gods, grew hot as he sat upon it. [124] "Who is it that would make me fall
from my godhead?" thought Sakka. Then he was ware of what was befalling.
"The king of Benares," he thought, "is doing a very cruel deed. He is making
the virtuous Sujātā miserable; now I must go thither!" So descending from
the godworld, by his own power he dismounted the wicked king from the
elephant on whose back he was riding, and laid him upon his back in the
place of execution, but the Bodhisatta he caught up, and decked him with all
kinds of ornaments, and made the king's dress come upon him, and set him on
the back of the king's elephant. The servants lifted the axe and smote off a
head--but it was the king's head; and when it was off, they knew that it was
the head of the king.
Sakka took upon him a visible body, and came before the Bodhisatta, and
consecrated him to be king; and caused the place of chief queen to be given
to Sujātā. And as the courtiers, the brahmins and householders, and the
rest, saw Sakka, king of the gods, they rejoiced, saying, "The unrighteous
king is slain! now have we received from the hands of Sakka a king who is
righteous!" And Sakka stood poised in the air, and declared, "This your
righteous king from this time forth shall rule in righteousness. If a king
be unrighteous, God sends rain out of season, and in season he sends no
rain: and fear of famine, fear of pestilence, fear of the sword--these three
fears come upon men for him." Thus did he instruct them, and spake this
second verse:--
"For him no rain falls in the time of rain,
But out of season pours and pours amain.
A king comes down from heaven upon the earth.
Behold the reason why this man is slain."
[125] Thus did Sakka admonish a great concourse of folk, and then he went
straight to his divine abode. And the Bodhisatta reigned in righteousness,
and then went to swell the hosts of heaven.
_____________________________
The Master, having ended this discourse, thus identified the Birth:--"At
that time Devadatta was the wicked king; Anuruddha was Sakka; Sujātā was
Rāhula's mother; but the king by Sakka's gift was I myself."
--------------------------------------------------------------------------------
Footnotes
87:1 India.
|
|
***YouTube 10 ***
195. CHUYỆN H̉N NÚI ĐẸP (Tiền thân
Pabbatupatthara)
Trải dài ḥn núi đẹp...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về vua Kosala.
Có tiếng đồn một vị đại thần thông dâm trong nội cung. Vua cho điều tra,
biết được sự việc ấy có thật, liền đi đến Kỳ Viên, đảnh lễ bậc Đạo Sư và
thưa:
- Bạch Thế Tôn, nay trẫm phải làm ǵ với nó?
Bậc Đạo Sư hỏi:
- Thưa Đại vương, đại thần ấy có giúp ích Đại vương không, và Đại vương có
thương nữ nhân ấy không?
Vua đáp:
- Bạch Thế Tôn, đại thần ấy đă giúp ích nhiều cho trẫm, vị ấy cai quản toàn
bộ triều đ́nh, và trẫm yêu nữ nhân ấy.
Khi nghe nói vậy, bậc Đạo Sư nói:
- Thưa Đại vương, khi các người hầu cận có lợi ích cho ḿnh và khi các nữ
nhân được thương yêu th́ không có thể hại họ được. Thuở xưa, các vua nghe
theo lời các bậc hiền trí đă giữ một thái độ thản nhiên đối với các việc như
vậy.
Rồi theo lời yêu cầu của vua, bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia
đ́nh vị đại thần, khi trưởng thành trở thành vị cố vấn cho vua trong các vấn
đề thế sự và thánh sự. Bấy giờ có một đại thần thông dâm trong nội cung. Khi
biết được sự việc này, vua suy nghĩ: "Viên đại thần giúp ích nhiều cho ta,
và ta yêu nữ nhân ấy, nên ta không thể làm hại hai người này được. Ta hăy
hỏi vị đại thần hiền trí. Nếu cần phải kham khẫn, ta sẽ kham nhẫn; nếu không
cần, ta sẽ không kham nhẫn". Vua truyền mời Bồ-tát đến, rồi hỏi:
- Thưa bậc Hiền trí, trẫm muốn hỏi một câu.
- Thưa Đại vương, xin hăy nói đi và thần sẽ trả lời.
Vua liền hỏi qua bài kệ đầu:
Trải dài ḥn núi đẹp,
Có hồ nước trong xanh,
Biết sư tử bảo vệ,
Chó rừng uống nước lành.
Nghe bài kệ, Bồ-tát suy nghĩ: "Chắc hẳn có đại thần thông dâm trong nội
cung"; và đọc bài kệ thứ hai:
Tất cả loài có chân,
Đều uống nước sông lớn.
Sông vẫn là con sông,
Nếu quư, hăy kham nhẫn.
Bậc Đại Sĩ khuyên bảo vua như vậy. Vua vâng theo lời chỉ dạy của Bồ-tát và
nói:
- Chớ làm tội lỗi như vậy nữa.
Rồi vua tha thứ cho hai người. Từ đấy về sau họ không làm như vậy nữa. C̣n
vua trọn đời làm các công đức như bố thí v.v..., và khi mạng chung, vua đi
lên thiên giới làm đông đảo hội chúng chư Thiên.
Sau khi nghe pháp thoại này, vua Kosala đă tha thứ cho cả hai người ấy, và
giữ thái độ thản nhiên.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc Đạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, vua là Ànanda, c̣n vị đại thần hiền trí là Ta vậy.
-ooOoo-
(Contents) |
http://www.sacred-texts.com/
No. 195.
PABBATŪPATTHARA-JĀTAKA.
"A happy lake," etc.--This story the Master told while dwelling at Jetavana,
about the king of Kosala.
We are told that a certain courtier intrigued in the royal harem. The king
inquired into the matter, and when he found it all out exactly he determined
to tell the Master. So he came to Jetavana, and saluted the Master; told him
how a courtier had intrigued, and asked what he was to do. The Master asked
him whether he found the courtier useful to him, and whether he loved his
wife. "Yes," was the reply, "the man is very useful; he is the mainstay of
my court; and I do love the woman." "Sire," replied the Master, "when
servants are useful, and women are dear, there is no harming them. In olden
days too kings listened to the words of the wise, and were indifferent to
such things." And he told an old-world tale.
_____________________________
Once upon a time, when Brahmadatta was king of Benares, the Bodhisatta was
born into a courtier's family. When he came of age, he became the king's
counsellor in things temporal and spiritual.
Now one of the king's court intrigued m the harem, and the king learnt all
about it. "He is a most useful servant," thought he, "and the woman is dear
to me. I cannot destroy these two. [126] I will put a question to some wise
man of my court; and if I must put up with it, put up with it I will; if
not, then I will not."
He sent for the Bodhisatta, and bade him be seated. "Wise sir," said he, "I
have a question to ask you."
"Ask it, O king! I will make answer," replied the other. Then the king asked
his question in the words of the first couplet:--
"A happy lake lay sheltered at the foot of a lovely hill,
But a jackal used it, knowing that a lion watched it still."
"Surely," thought the Bodhisatta, "one of his courtiers must have intrigued
in the harem "; and he recited the second couplet:--
"Out of the mighty river all creatures drink at will:
If she is dear, have patience--the river's a river still."
[127] Thus did the Great Being advise the king.
And the king abode by this advice, and he forgave them both, bidding them go
and sin no more. And from that time they ceased. And the king gave alms, and
did good, till at his life's end he went to fill the hosts of heaven.
p. 89
And the king of Kosala also, after hearing this discourse, forgave both
these people and remained indifferent.
_____________________________
When the Master had ended this discourse, he identified the Birth:--"At that
time Ānanda was the king, and I myself was the wise councillor."
|
| |
|
|
196. CHUYỆN CON NGỰA BAY (Tiền thân Valàhassa)
Những ai không làm theo...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh
tấn. Bậc Đạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo có thật chăng ông thối thất tinh tấn?
Tỷ-kheo ấy đáp:
- Thưa có thật.
Ngài lại hỏi:
- V́ nguyên nhân ǵ?
Vị ấy đáp:
- V́ thấy một nữ nhân trang sức xinh đẹp, nên con bị phiền năo chinh phục.
Bậc Đạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, các nữ nhân này, với sắc, tiếng, hương, vị, xúc của ḿnh,
với mưu chước cám dỗ của ḿnh, đă làm đàn ông tham đắm, khiến đối phương rơi
vào thế lực của ḿnh, và khi đă bị chi phối, các nữ nhân ấy phá hoại giới
đức, tài sản của kẻ si t́nh bằng các ác hạnh. Do vậy, nữ nhân được gọi là nữ
Dạ-xoa.
Thuở xưa, các nữ Dạ-xoa đi đến một đoàn lữ hành, với mưu chước nữ nhân, làm
các thương nhân tham đắm, khiến họ rơi vào thế lực của chúng rồi khi chúng
thấy những người đàn ông khác, chúng liền giết và ăn thịt những người trước,
chúng gặm xương nghe rạo rạo, với máu thịt chảy dài hai bên má.
Nói vậy xong, bậc Đạo Sư kể chuyện quá khứ
*
Thuở xưa, tại đảo Tambapanni thuộc xứ Tích Lan, có một thành phố Dạ-xoa trú
ẩn. Khi các tàu đắm, chúng ra sức trang điểm, đem theo các đồ ăn loại cứng
loại mềm, với nữ tỳ vây quanh, với trẻ con ôm bên nách, và đi đến gần các
người lái buôn. Nhằm mục đích làm cho các người ấy tưởng đó là thành phố có
loài người ở, chúng tạo ra khắp nơi những người đang cày bừa chăn ḅ, những
đàn ḅ đang ăn cỏ và đàn chó chạy qua lại v.v... Rồi chúng đi đến gần các
người lái buôn và nói:
- Hăy uống cháo này, hăy ăn cơm này, hăy chia đồ ăn này, hỡi các vị khách
phương xa.
Các người lái buôn không biết, nên cứ thọ hưởng các món ăn do chúng cho. Khi
các người lái buôn ăn xong, và trong lúc họ nghỉ ngơi, các nữ Dạ-xoa thân
mật hỏi:
- Các người ở đâu? Các người từ đâu lại? Các người sẽ đi đâu? Các người đến
đây để làm ǵ?
Họ trả lời:
- Chúng tôi bị vỡ tàu nên đến đây.
Các nữ Dạ-xoa nói:
- Tốt lắm, thưa các ông. Chồng của chúng tôi lên tàu ra đi đă quá ba năm.
Chắc họ đă chết rồi. Các ông là những lái buôn, chúng tôi sẽ là những người
hầu hạ các ông.
Sau khi nói vậy, chúng dùng mưu chước của đàn bà cám dỗ, làm các người lái
buôn say đắm rồi đưa họ đến thành Dạ-xoa. Nếu những người bị bắt trước c̣n
xót lại, chúng trói họ với những sợi dây chuyền thần bí, và quăng họ vào nhà
cực h́nh. Nếu chúng không t́m được những người đắm tàu để ăn thịt, chúng
thường sục sạo dọc theo bờ biển xa cho đến tận sông Kalyàni phía bên kia và
đảo Nàga phía bên này. Đây là việc làm hàng ngày của chúng.
Một hôm, năm trăm người lái buôn bị đắm tàu, lên được bờ gần thành của nữ
Dạ-xoa này. Các nữ Dạ-xoa đi đến và làm cho họ say đắm, rồi đưa họ đến thành
Dạ-xoa. Chúng trói những người đă bị bắt trước kia với những sợi dây chuyền
thần bí và quăng họ vào nhà cực h́nh. Nữ chúa Dạ-xoa lấy người thuyền
trưởng, và các nữ Dạ-xoa c̣n lại lấy những người kia, như vậy năm trăm nữ
Dạ-xoa lấy năm trăm người đi buôn ấy làm chồng.
Rồi ban đêm, khi các thương nhân đă ngủ say, nữ chúa Dạ-xoa liền dậy, đi đến
nhà cực h́nh giết những người tại đấy, ăn thịt rồi trở về. Các nữ Dạ-xoa c̣n
lại cũng làm như vậy. Sau khi ăn thịt người, nữ chúa Dạ-xoa trở về, thân thể
trở thành lạnh. Người lái buôn trưởng ôm nàng là nữ Dạ-xoa, liền nghĩ: "Năm
trăm nàng này là nữ Dạ-xoa. Chúng ta phải chạy trốn".
Sáng sớm hôm sau, khi đi rửa mặt, anh ta nói với các người đi buôn kia:
- Những nàng này là nữ Dạ-xoa, không phải là người. Khi có các người bị đắm
tàu khác đến, chúng sẽ lấy những người ấy làm chồng và ăn thịt chúng ta. Vậy
chúng ta hăy chạy trốn.
Hai trăm năm mươi người trong bọn nói:
- Chúng tôi không thể bỏ các nữ Dạ-xoa này được. Nếu các ông muốn, th́ hăy
đi đi. Nhưng chúng tôi sẽ không chạy trốn đâu.
Sau đó, người lái buôn trưởng đem theo hai trăm năm mươi người nghe lời của
ḿnh chạy trốn.
***YouTube 11 ***
Lúc bấy giờ, Bồ-tát sanh làm con ngựa toàn trắng, với đầu như con quạ, với
tóc như cỏ munja, có thần thông, có thể bay trên hư không. Bồ-tát từ Tuyết
Sơn bay lên hư không, đến ḥn đảo Tambapanni, trên các ao, hồ ở Tambapanni
và ăn các loại lúa mọc tại đấy. Trong khi bay qua như vậy, v́ ḷng từ bi, ba
lần Bồ-tát nói lớn tiếng với giọng người:
- Có người nào muốn trở về tổ quốc không?
Các người đi buôn nghe lời Bồ-tát, đi đến chấp tay và thưa:
- Thưa ngài, chúng con muốn trở về.
- Vậy hăy leo lên lưng ta.
Một số người leo lên thân ngựa, một số người nắm đuôi ngựa, một số người
chấp tay và đứng im lặng kính cẩn. Bồ-tát dùng thần lực đem hai trăm năm
mươi người ấy về tổ quốc của họ, rồi sau đó trở lại trú xứ của ḿnh.
Và khi có những người khác đến đấy, các nữ Dạ-xoa liền giết hai trăm năm
mươi người c̣n lại tại chỗ để ăn thịt.
*
Bậc Đạo Sư nói với các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, giống như những người lái buôn bị rơi vào thế lực của các
nữ Dạ-xoa, và đă mạng chung, nhưng những người khác làm theo lời của con
ngựa thần biết bay đều trở về trú xứ của ḿnh; cũng vậy, những ai không làm
theo lời khuyên dạy của các đức Phật, dù là Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni, các nam,
nữ cư sĩ, đều bị đau khổ lớn trong bốn địa ngục và chịu các h́nh phạt trong
năm loại xiềng xích. C̣n những ai biết vâng lời khuyên đều đạt được ba sanh
loại tốt đẹp, sáu cơi trời dục giới, hai mươi Phạm thiên giới và đạt trạng
thái Niết-bàn bất tử, cực lạc.
Sau khi nói vậy, bậc Chánh Đẳng đọc các bài kệ:
Những ai không làm theo
Lời dạy của đức Phật,
Họ sẽ gặp tai nạn,
Họ giống các lái buôn
Bị các nữ Dạ-xoa
Ăn thịt và mạng chung.
C̣n những ai làm theo
Lời dạy của đức Phật,
Họ sẽ được an toàn,
Họ giống các lái buôn
Được ngựa bay cứu giúp,
Đưa về tận trú xứ.
Sau khi bậc Đạo Sư kể Pháp thoại này, Ngài thuyết giảng các Sự thật. Cuối
bài giảng ấy, vị Tỷ-kheo thối thất đă đắc quả Dự-lưu và nhiều vị khác đắc
quả Dự-lưu, Nhất lai, Bất lai và A-la-hán và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, hai trăm năm mươi người lái buôn làm theo lời con ngựa bay là
hội chúng đức Phật, c̣n con ngựa bay là Ta vậy.
-ooOoo- |
No. 196. VALĀHASSA-JĀTAKA.
"They who will neglect," etc.--This story the Master told while staying in
Jetavana, about a Brother who had become a backslider.
When the Master asked him if it was really true that he was a backslider,
the Brother replied that it was true. Being questioned for the reason, he
replied that his passion had been aroused by seeing a finely dressed woman.
Then the Master thus addressed him:
"Brother, these women tempt men by their figure and voice, scents, perfumes,
and touch, and by their wiles and dalliance; thus they get men into their
power; and as soon as they perceive that this is done, they ruin them,
character, wealth and all, by their evil ways. This gives them the name of
she-goblins. In former days also a troop of she-goblins tempted a caravan of
traders, and got power over them; and afterwards, when they got sight of
other men, they killed every one of the first, and then devoured them,
crunching them in their teeth while the blood ran down over both cheeks."
And then he told an old story.
_____________________________
Once upon a time, there was in the island of Ceylon a goblin town called
Sirīsavatthu, peopled by she-goblins. When a ship is wrecked, these adorn
and deck themselves, and taking rice and gruel, with trains of slaves, and
their children on their hip, they come up to the merchants. [128] In order
to make them imagine that theirs is a city of human beings, they make them
see here and there men ploughing and tending kine, herds of cattle, dogs,
and the like. Then approaching the merchants they invite them to partake of
the gruel, rice, and other food which they bring. The merchants, all
unaware, eat of what is offered. When they have eaten and drunken, and are
taking their rest, the goblins address them thus: "Where do you live? where
do you come from? whither are you going, and what errand brought you here?"
"We were shipwrecked here," they reply. "Very good, noble sirs," the others
make answer; "’tis three years ago since our own husbands went on board
ship; they
p. 90
must have perished. You are merchants too; we will be your wives." Thus they
lead them astray by their women's wiles, and tricks, and dalliance, until
they get them into the goblin city; then, if they have any others already
caught, they bind these with magic chains, and cast them into the house of
torment. And if they find no shipwrecked men in the place where they dwell,
they scour the coast as far as the river Kalyāṇi 1 on one side and the
island of Nāgadīpa on the other. This is their way.
Now it happened once that five hundred shipwrecked traders were cast ashore
near the city of these she-goblins. The goblins came up to them and enticed
them, till they brought them to their city; those whom they had caught
before, they bound with magic chains and cast them into the house of
torment. Then the chief goblin took the chief man, and the others took the
rest, till five hundred had the five hundred traders; and they made the men
their husbands. Then in the night time, when her man was asleep, the chief
she-goblin rose up, and made her way to the house of death, slew some of the
men and ate them. The others did the same. When the eldest goblin returned
from eating men's flesh, her body was cold. The eldest merchant embraced
her, and perceived that she was a goblin. [129] "All the five hundred of
them must be goblins!" he thought to himself: "we must make our escape!"
So in the early morning, when he went to wash his face, he bespake the other
merchants in these words. "These are goblins, and not human beings! As soon
as other shipwrecked men can be found, they will make them their husbands,
and will eat us; come--let us escape!"
Two hundred and fifty of them replied, "We cannot leave them: go ye, if ye
will, but we will not flee away."
Then the chief trader with two hundred and fifty, who were ready to obey
him, fled away in fear of the goblins.
Now at that time, the Bodhisatta had come into the world as a flying horse
2, white all over, and beaked like a crow, with hair like muñja grass 3,
possessed of supernatural power, able to fly through the air. From Himalaya
he flew through the air until he came to Ceylon. There he passed over the
ponds and tanks of Ceylon, and ate the paddy that grew wild there. As he
passed on thus, he thrice uttered human speech filled with mercy,
saying--"Who wants to go home? who wants to go home? "The traders heard his
saying, and cried--"We are going home, master!" joining their hands, and
raising them respectfully to their foreheads. "Then climb up on my back,"
said the Bodhisatta. Thereat some of
p. 91
them climbed up, some laid hold of his tail, and some remained standing,
with a respectful salute. Then the Bodhisatta took up even those who stood
still saluting him, and conveyed all of them, even two hundred and fifty, to
their own country, and set down each in his own place; then he went back to
his place of dwelling.
And the she-goblins, when other men came to that place, slew those two
hundred and fifty who were left, and devoured them.
_____________________________
The Master now said, addressing the Brethren: "Brethren, even as these
traders perished by falling into the hands of she-goblins, but the others by
obeying the behest of the wonderful horse each returned safe home again; so,
even so, they who neglect the advice of the Buddhas, both Brethren and
Sisters, lay Brethren and lay Sisters, [130] come to great misery in the
four hells, places where they are punished under the five fetters, and so
forth. But those who abide by such advice come to the three kinds of
fortunate birth, the six heavens of sense, the twenty worlds of Brahma, and
reaching the state of imperishable Nirvana they attain great blessedness."
Then, becoming perfectly enlightened, he recited the following verses:
"They who will neglect the Buddha when he tells them what to do, As the
goblins ate the merchants, likewise they shall perish too.
"They who hearken to the Buddha when he tells them what to do, As the
bird-horse saved the merchants, they shall win salvation too."
When the Master had ended this discourse, he declared the Truths and
identified the Birth:--at the conclusion of the Truths the backsliding
Brother entered on the Fruit of the First Path, and many others entered on
the Fruit of the First, Second, Third or Fourth:--"The Buddha's followers
were the two hundred and fifty who followed the advice of the horse, and I
was the horse myself."
--------------------------------------------------------------------------------
Footnotes
90:1 The modern Kaelani-gaṅgā (Journ. of the Pāli Text Soc., 1888, p. 20).
90:2 On one side of a pillar in a Buddhist railing at Mathura, is a flying
horse with people clinging to it, perhaps intended for this scene (Anderson,
Catalogue of the Indian Museum, i. p. 189).
90:3 Saccharum Muñja.
|
198. CHUYỆN CON VẸT RÀDHA (Tiền
thân Ràdha)
Này con, ta đi xa...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh
tấn. Nghe nói, bậc Đạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có thật chăng ông thối thất tinh tấn.
Vị ấy đáp:
- Bạch Thế Tôn, thật vậy.
Khi được hỏi v́ lư do ǵ, vị ấy đáp:
- V́ con thấy một nữ nhân trang sức đẹp đẽ nên phiền năo khởi lên.
Bậc Đạo Sư nói với Tỷ-kheo ấy:
- Này Tỷ-kheo, không thể canh giữ đàn bà được. Thuở xưa, có người đă sắp đặt
việc canh cửa nhưng không có thể giữ được. Dầu ông có chiếm được đàn bà đi
nữa, ông cũng không thể canh giữ họ được.
Rồi bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con
vẹt, tên Ràdha, và con vẹt em tên là Potthapàda. Khi c̣n trẻ, hai con vẹt bị
một người thợ săn bắt được và đem cho một vị Bà-la-môn ở Ba-la-nại. Chúng
được Bà-la-môn ấy săn sóc như con đẻ. Nhưng người vợ vị ấy theo ác giới,
không ai canh giữ bà ta được.
Vị Bà-la-môn ấy có công việc phải đi xa và nói với hai con vẹt:
- Này các con thân, ta có công việc phải đi, dầu ban ngày hay ban đêm, các
con hăy xem mẹ con làm ǵ. Hăy xem kỹ có người đàn ông nào khác đến thăm mẹ
không.
Sau khi giao cho hai vẹt con coi sóc nữ Bà-la-môn, người cha ra đi. Nữ
Bà-la-môn ở nhà liền hành động bất chánh, đêm ngày đều có vô số người đến và
đi. Thấy vậy Potthapàda nói với Ràdha:
***YouTube 12 ***
- Vị Bà-la-môn ra đi đă giao nữ Bà-la-môn cho chúng ta canh giữ. Nay bà đang
làm ác hạnh, em sẽ nói với bà ấy.
Ràdha bảo đừng, nhưng vẹt em không nghe. Rồi Potthapàda nói với nữ
Bà-la-môn:
- Thưa mẹ, v́ sao mẹ làm ác hạnh?
Nữ Bà-la-môn ấy rất muốn giết Potthapàda, nhưng làm bộ vỗ về nó và hỏi:
- Này con thân, con là con của ta, từ nay về sau, ta sẽ không làm như vậy
nữa. Vậy này con thân, hăy đến đây.
Nữ Bà-la-môn làm bộ thương yêu gọi Potthapàda lại gần. Khi nó lại gần, nữ
Bà-la-môn bắt nó và thét:
- Sao, mày lại khuyên dạy ta à! Mày không biết lượng sức ḿnh!
Nữ Bà-la-môn nắm cổ con vẹt, giết nó và quăng xác vào ḷ.
Khi vị Bà-la-môn trở về, nghỉ ngơi xong, ông liền hỏi Bồ-tát:
- Này Ràdha thân, mẹ của chúng con như thế nào? Bà có làm tà hạnh hay không?
Hỏi vậy xong, vị Bà-la-môn đọc bài kệ đầu:
Này con, ta đi xa,
Nay ta mới về nhà,
Mẹ con như thế nào,
Có theo người khác không?
Ràdha trả lời:
- Thưa cha thân, bậc hiền trí không nói điều ǵ không đưa đến hạnh phúc, dầu
sự việc ấy có xảy ra hay không.
Ràdha giải thích việc này với bài kệ thứ hai:
Đây không phải khéo nói,
Dù nói đúng sự thật,
Như Pot-tha-pà-da
Nay đă phải nằm chết
Bị cháy dưới than hồng,
Con sợ chung số phận.
Như vậy Bồ-tát thuyết pháp cho vị Bà-la-môn, và nói:
- Nay con cũng không thể sống trong nhà này.
Sau khi xin phép vị Bà-la-môn, Bồ-tát bay đi vào rừng.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc Đạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài
giảng, vị Tỷ-kheo thối thất đă đắc quả Dự lưu và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Potthapàda là Ànanda, c̣n Ràdha là Ta vậy.
-ooOoo-
(Contents) |
http://www.sacred-texts.com/ No. 198 1.
"I come, my son," etc.--This story the Master told whilst living at
Jetavana, about a brother who was a backslider.
We hear that the Master asked him if he really were a backslider; and he
replied, yes, he was. Being asked the reason, he replied, "Because my
passions
p. 93
were aroused on seeing a woman in her finery." Then the Master said,
"Brother, there is no watching women. In days of yore, watchers were placed
to guard the doors, and yet they could not keep them safe; even when you
have got them, you cannot keep them." And he told an old-world tale.
_____________________________
Once upon a time, when Brahmadatta was king of Benares, the Bodhisatta came
into the world as a young parrot. His name was Rādha, and his youngest
brother was named Poṭṭhapāda. While they were yet quite young, both of them
were caught by a fowler and handed over to a brahmin in Benares. The brahmin
cared for them as if they were his children. [133] But the brahmin's wife
was a wicked woman; there was no watching her.
The husband had to go away on business, and addressed his young parrots
thus. "Little dears, I am going away on business. Keep watch on your mother
in season and out of season; observe whether or not any man visits her." So
off he went, leaving his wife in charge of the young parrots.
As soon as he was gone, the woman began to do wrong; night and day the
visitors came and went--there was no end to them. Poṭṭhapāda, observing
this, said to Rādha--"Our master gave this woman into our charge, and here
she is doing wickedness. I will speak to her."
"Don't," said Rādha. But the other would not listen. "Mother," said he, "why
do you commit sin?"
How she longed to kill him! But making as though she would fondle him, she
called him to her.
"Little one, you are my son! I will never do it again! Here, then, the
dear!" So he came out; then she seized him crying,
"What! you preach to me! you don't know your measure!" and she wrung his
neck, and threw him into the oven.
The brahmin returned. When he had rested, he asked the Bodhisatta:
"Well, my dear, what about your mother--does she do wrong, or no?" and as he
asked the question, he repeated the first couplet:--
"I come, my son, the journey done, and now I am at home again:
Come tell me; is your mother true? does she make love to other men?"
Rādha answered, "Father dear, the wise speak not of things which do not
conduce to blessing, whether they have happened or not"; and he explained
this by repeating the second couplet: [134]
"For what he said he now lies dead, burnt up beneath the ashes there:
It is not well the truth to tell, lest Poṭṭhapāda's fate I share."
p. 94
Thus did the Bodhisatta hold forth to the Brahmin; and he went on--"This is
no place for me to live in either"; then bidding the brahmin farewell, he
flew away to the woods.
_____________________________
When the Master had ended this discourse, he declared the Truths, and
identified the Birth:--at the conclusion of the Truths the backsliding
Brother reached the Fruit of the First Path:--"Ānanda was Poṭṭhapāda, and I
myself was Rādha."
--------------------------------------------------------------------------------
Footnotes
92:1 There are many variants of this story. Compare Gesta Romanorum, (Early
Eng. Text Soc.), no. 45, pp. 174 ff.; Boke of the Knight de la Tour Landry
(same series), p. 22. Compare no. 145.
|
199. CHUYỆN NGƯỜI GIA CHỦ (Tiền
thân Gahapati)
Cả hai, ta không nhẫn...,
Câu chuyện này khi ở tại Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất
tinh tấn. Trong lúc nói chuyện, bậc Đạo Sư bảo:
- Không bao giờ có thể canh giữ nữ nhân được. Sau khi làm ác, chúng dùng mọi
cách lừa dối chồng.
Rồi bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát được sanh ra làm
con một người gia chủ ở nước Kàsi. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát lập gia
đ́nh. Người vợ mới cưới theo ác giới, thông gian với một người thôn trưởng.
Bồ-tát biết được, t́m cách bắt quả tang.
Lúc bấy giờ, tất cả thóc lúa đều bị trôi mất trong mùa mưa, v́ thế có nạn
đói. Nhưng đó cũng là thời các cây lúa bắt đầu mọc. Tất cả dân làng cùng đi
đến vị thôn trưởng và thưa:
- Chúng tôi đang đói, hăy cho chúng tôi mượn cái ǵ để ăn. Hai tháng nữa,
khi chúng tôi gặt hái, chúng tôi sẽ trả lúa.
Họ nhận được từ tay thôn trưởng một con ḅ già và ăn thịt con ḅ ấy. Một hôm
người thôn trưởng chờ Bồ-tát đi ra ngoài, liền đi vào nhà. Trong khi chúng
đang hưởng hoan lạc với nhau th́ Bồ-tát từ cổng làng đi về nhà. Người đàn bà
ấy hướng mặt về phía cổng làng, thấy Bồ-tát đi về, liền báo cho thôn trưởng
biết. Thôn trưởng hoảng hốt run sợ. Nữ nhân ấy nói:
- Chớ sợ, em đă có cách và bày mưu. Hăy làm như ông đang đến đ̣i tiền thịt.
Em sẽ leo lên vựa lúa đứng trước cửa và nói: Không có lúa! C̣n ông đứng giữa
nhà đ̣i nằng nặc: Nhà chúng tôi có trẻ con. Hăy trả tiền thịt đây!
Nói vậy xong, nữ nhân ấy leo lên vựa lúa, ngồi trước cửa vựa lúa. Người kia
đứng giữa nhà và la to:
- Hăy trả tiền thịt đi!
Nữ nhân ấy nói:
- Trong vựa không có lúa. Khi nào gặt lúa, tôi sẽ trả. Hăy đi đi!
Khi vào nhà, Bồ-tát thấy chúng làm như vậy, liền suy nghĩ: "Đây là mưu mô do
ác nữ nhân này bày ra", liền gọi người thôn trưởng và nói:
- Này ông thôn trưởng, chúng tôi ăn thịt con ḅ già của ông, có hứa đến hai
tháng nữa chúng tôi mới trả lúa. Nửa tháng chưa qua, sao nay ông lại đến
đ̣i? Ông đến đây phải v́ lư do khác. Tôi không ưa hành động của ông làm. Nữ
nhân vô hạnh ác giới này biết rằng trong vựa không có lúa, nay lại leo lên
vựa lúa và nói to: Không có lúa! C̣n ông lại bảo: Hăy đưa đây! Ta không ưa
hành động của hai người!
Để nêu rơ ư nghĩa này, Bồ-tát đọc những bài kệ:
Cả hai, ta không nhẫn,
Cả hai, ta không ưa.
Nữ nhân này leo lên
Đứng một bên vựa lúa,
Lại nói lớn lên rằng:
Tôi không thể trả được!
Nghe đây, ông thôn trưởng,
Ta sống cực khổ thay,
Mượn con ḅ già, gầy,
Sau hai tháng mới trả,
Thời chưa đến, đ̣i nợ,
Ta không thích chuyện đó!
Nói vậy xong, Bồ-tát nằm lấy cái búi tóc người thôn trưởng, kéo ra sân quăng
gă xuống và nói:
- Mày là thôn trưởng lại vi phạm của cải trong nhà người khác!
Bồ-tát nói lên những lời mỉa mai, đánh gă cho đến kiệt sức, nắm cổ gă và
tống ra ngoài nhà. C̣n nữ nhân ác hạnh kia, Bồ-tát nắm lấy tóc, lôi nó từ
vựa lúa xuống, đánh ngă nhào và dọa:
- Nếu ngươi c̣n làm như vậy nữa, ngươi sẽ biết tay ta!
Từ đấy trở đi tên thôn trưởng không dám nh́n ngôi nhà ấy nữa, c̣n người vợ
không dám phạm tội, cho đến ư nghĩ cũng không!
*
Sau khi nói lên Pháp thoại này, bậc Đạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối
bài giảng, vị Tỷ-kheo thối thất đắc quả Dự-lưu. Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, người gia chủ trừng phạt tên thôn trưởng là Ta vậy.
-ooOoo-
(Contents) |
http://2052.htm
No. 199.
GAHAPATI-JĀTAKA.
"I like not this," etc.--This story the Master told, also about a
backsliding Brother, during a sojourn in Jetavana, and in the course of his
address he said, "Womankind can never be kept right; somehow or other they
will sin and trick their husbands." And then he told the following story.
_____________________________
Once upon a time, in the reign of Brahmadatta, king of Benares, the
Bodhisatta was born in the realm of Kāsi as a householder's son: and coming
of age he married and settled down. Now his wife was a wicked woman, and she
intrigued with the village headman. The Bodhisatta got wind of it, and
bethought him how he might put her to the test. [135]
At that time all the grain had been carried away during the rainy season,
and there was a famine. But it was the time when the corn had just sprouted;
and all the villagers came together, and besought help of their headman,
saying, "Two months from now, when we have harvested the grain, we will pay
you in kind"; so they got an old ox from him, and ate it.
One day, the headman watched his chance, and when the Bodhisatta was gone
abroad he visited the house. Just as the two were happy together, the
Bodhisatta came in by the village gate, and set his face towards home. The
woman was looking towards the village gate, and saw him. "Why, who's this?"
she wondered, looking at him as he stood on the threshold. "It is he!" She
knew him, and she told the headman. He trembled in terror.
"Don't be afraid," said the woman, "I have a plan. You know we have had meat
from you to eat: make as though you were seeking the price of the meat; I
will climb up into the granary; and stand at the door of it, crying. 'No
rice here!' while you must stand in the middle of the room, and call out
insisting, again and again, 'I have children at home; give me the price of
the meat! '
So saying, she climbed up to the granary, and sat in the door of it. The
other stood in the midst of the house, and cried, "Give me the price of the
meat':" while she replied, sitting at the granary door, "There is no rice in
the granary; I will give it when the harvest is home: leave me now!"
The goodman entered the house, and saw what they were about.
"This must be that wicked woman's plan," he thought, and he called to the
headman.
"Sir Headman, when we had some of your old ox to eat, we promised to give
you rice for it in two months' time. Not half a month has passed; then why
do you try to make us pay now? That's not the reason you are here: you must
have come for something else. I don't like your ways. That wicked and sinful
woman yonder knows that there is no rice in the garner, but she has climbed
up, and there she sits, crying [136] 'No rice here!' and you cry 'Give!' I
don't like your doings, either of you!" and to make his meaning clear, he
uttered these lines:--
"I like not this, I like not that; I like not her, I say,
Who stands beside the granary, and cries 'I cannot pay!'
"Nor you, nor you, Sir! listen now:--my means and store are small;
You gave me once a skinny cow, and two months' grace withal;
Now, ere the day, you bid me pay! I like it not at all."
So saying, he seized the headman by the lock of hair on the top of his head,
dragged him out into the courtyard, threw him down, and as he cried, "I'm
the Headman!" mocked him thus--"Damages, please, for injury done to the
chattels under another man's watch and ward!" while he thrashed him till the
man was faint. Then he took him by the neck and cast him out of the house.
The wicked woman he seized by the hair of her head, pulled her away from the
garner, knocked her down, and threatened her--"If you ever do this kind of
thing again, I'll make you remember it!"
From that day forward the headman durst not even look at that house, and the
woman did not dare to transgress even in thought.
_____________________________
[137] When this discourse was ended, the Master declared- the Truths, at the
conclusion of which the backsliding Brother reached the Fruit of the First
Path:--"The goodman who punished that headman was I myself."
|
207. CHUYỆN VUA
ASSAKA (Tiền thân Assaka)
Chính chỗ này, tôi sống...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo sư kể về một người luyến ái vợ cũ.
Tỷ-kheo ấy được bậc Đạo sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo có thật chăng ông bị ái nhiễm?
Vị ấy đáp:
- Thưa có thật vậy.
Bậc Đạo sư hỏi:
- Ông luyến ái ai?
Tỷ-kheo đáp:
- Con luyến ái vợ cũ.
Bậc Đạo sư nói:
- Này Tỷ-kheo, không phải chỉ nay ông luyến ái nữ nhân ấy. Thuở trước, v́
luyến ái nữ nhân ấy, ông đă gặp đau khổ lớn.
Rồi bậc Đạo sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, tại nước Kàsi, vua Assaka trị v́ thành Potali. Hoàng hậu tên
Ubbaŕ rất được vua yêu thương. Hoàng hậu khả ái, kiều diễm vượt xa sắc đẹp
của các nữ nhân, dù chưa là một Thiên nữ. Sau một thời gian, bà bị bệnh và
mệnh chung. Khi hoàng hậu mệnh chung, vua sầu khổ, đau đớn, ưu tư. Vua để
xác hoàng hậu nằm trong một cái ḥm, ướp với dầu và chất dẻo đặt dưới long
sàng. Vua đau khổ nằm dài, không ăn, khóc lóc, than thở. Mẹ cha, các bà con
khác, thân hữu và các cận thần, Bà-la-môn, gia chủ...đều đến khuyên giải:
- Thưa Đại vương, chớ sầu muộn. Cuộc đời là vô thường.
Nhưng họ không thể làm vua nghe lời. Trong khi vua than khóc như vậy bảy
ngày đă trôi qua.
Lúc bấy giờ, Bồ-tát là vị tu khổ hạnh đă đạt được năm Thắng trí và tám Thiền
chứng, trú dưới chân núi Hy-mă. Ngài đầy đủ trí tuệ giác ngộ, và với thiên
nhăn nh́n cơi Diêm phù đề, ngài thấy vua than khóc như vậy, liền quyết định
giúp đỡ cho vị vua này. Bồ-tát dùng thần lực bay trên hư không rồi hạ xuống
khu vườn của vua, và ngồi xuống trên phiến đá tế lễ, như một h́nh tượng bằng
vàng.
** YouTube 13 ***
Rồi một thanh niên Bà-la-môn trú ở thành Polati đi đến khu vườn, thấy
Bồ-tát, đảnh lễ ngài và ngồi xuống. Bồ-tát nói chuyện thân mật với thanh
niên ấy, và hỏi:
- Này cậu thanh niên, nhà vua có theo Chánh pháp không ?
- Thưa có, bạch Tôn giả, vua theo Chánh pháp. Nhưng hoàng hậu của vua vừa
mệnh chung, vua cho đặt thân hoàng hậu trong một cái ḥm, nằm dài bên cạnh
than khóc, nay đă là ngày thứ bảy. Sao Tôn giả không giải thoát vua khỏi nỗi
đau khổ lớn như vậy? Nay là thời gian thích hợp để Tôn giả nhiếp phục nỗi
đau khổ của nhà vua.
- Này cậu, ta không biết nhà vua, nhưng nếu vua đến hỏi ta, ta sẽ nói cho
vua biết chỗ đầu thai của hoàng hậu và khiến nàng nói cho vua nghe.
- Vậy thưa Tôn giả, hăy ngồi lại đây cho đến khi tôi đưa vua đến.
Thanh niên ấy được Bồ-tát hứa, liền đi đến cung vua, báo tin ấy và khuyên
vua:
- Đại vương nên đi đến gặp vị có thiên nhăn ấy.
Vua nói:
- Trẫm sẽ thấy hoàng hậu!
Vua vô cùng hoan hỷ ngự lên xe, đi đến đảnh lễ Bồ-tát, ngồi xuống một bên và
hỏi:
- Có đúng sự thật chăng, trẫm nghe nói Tôn giả biết được chỗ đầu thai của
hoàng hậu?
- Tôi có biết, thưa Đại vương.
- Hoàng hậu thọ sanh ở đâu?
- Thưa Đại vương, hoàng hậu say mê sắc đẹp của ḿnh, v́ vậy đă sống phóng
dật, không làm các thiện nghiệp, nay sanh làm con sâu nhỏ ăn phân ngay chính
trong vườn này.
- Trẫm không tin chuyện ấy.
- Nay tôi sẽ chỉ hoàng hậu cho Đại vương và bảo hoàng hậu nói cho Đại vương
rơ.
Bồ-tát dùng thần lực của ḿnh, và ra lệnh:
- Cả hai con vật đang lăn một ḥn phân ḅ hăy đi đến trước mặt vua!
Bồ-tát sai khiến hai con sâu đi đến như vậy rồi chỉ một con và nói:
- Thưa Đại vương, đây là hoàng hậu Ubbaŕ của Đại vương. Nó bỏ Đại vương đi
theo sau con sâu ăn phân làm chồng nó. Đại vương hăy nh́n xem.
- Thưa Tôn giả, hoàng hậu Ubbaŕ sanh ra làm con sâu ăn phân ư? Trẫm không
tin được chuyện ấy !
- Thưa Đại vương, tôi sẽ bảo nó nói lên.
- Thưa Tôn giả, hăy bảo nó nói đi.
Bồ-tát nói với thần lực của ḿnh.
- Này Ubbaŕ!
Con sâu nói bằng tiếng người, đáp lại:
- Thưa Tôn giả, cái ǵ ạ ?
Bồ-tát hỏi:
- Ngươi hăy nói tiền thân của ngươi tên là ǵ ?
- Thua Tôn giả, trước tôi là Ubbaŕ, hoàng hậu của vua Assaka. Con sâu đáp.
Bồ-tát hỏi tiếp:
- Nay ngươi thương yêu vua Assaka hay con sâu ăn phân này là chồng của ngươi
?
- Thưa Tôn giả, trong đời sống trước đây của tôi, tôi đă sống với vua, và
cùng thưởng thức sắc, tiếng, hương, vị, xúc trong ngôi vườn này. Nhưng v́
qua nhiều đời sống chết cho đến nay, tôi không biết vua là ai !Tôi sẵn sàng
giết vua Assaka và lấy máu từ cổ vua để bôi hai bàn chân con sâu ăn phân là
chồng của tôi !
Rồi giữa hội chúng của vua, con sâu đọc những bài kệ này bằng tiếng người:
Chính chỗ này tôi sống
Với vua A-sa-ka
Yêu thương, được yêu thương
Tôi đi dạo quanh vườn.
Nay các khổ lạc mới
Làm mờ cảm giác cũ,
Vậy đối với sâu chồng,
Tôi yêu hơn Đại vương!
Nghe nói vậy, vua cảm thấy hối hận ngay tại chỗ, lập tức truyền lệnh đem xác
hoàng hậu ra ngoài và gội đầu. Vua đảnh lễ Bồ-tát, rồi sau đó đi vào thành
cưới một hoàng hậu khác và trị nước đúng Chánh pháp.
C̣n Bồ-tát khuyến dạy vua xong, khiến vua hết sầu muộn, rồi đi về Hy-mă-lạp
Sơn.
*
Sau khi thuyết Pháp thoại này, bậc Đạo Sư giảng các Sự thật và cuối bài
giảng, vị Tỷ-kheo luyến ái đă đắc quả Dự lưu. Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ Ubbaŕ là người vợ cũ, vua Assaka là Tỷ-kheo bị ái nhiễm,
thanh niên Bà-la-môn là Xá-lợi-phất, c̣n vị tu khổ hạnh là Ta vậy.
-ooOoo-
(Contents)
|
http://www.sacred-texts.com/
No. 207.ASSAKA-JĀTAKA.
"Once with the great king Assaka," etc.--This story the Master told
whilst staying in Jetavana, about some one who was distracted by the
recollection of a former wife. He asked the Brother whether he were really
lovesick. The man said, Yes. "Whom are you in love with?" the Master
continued. "My late wife," was the reply. Then the Master said, "Not this
once only, Brother, have you been full of desire for this woman; in olden
days her love brought you to great misery." And he told a story.
_____________________________
Once upon a time, there was a king Assaka reigning in Potali, which is a
city of the kingdom of Kāsi. His queen consort, named Ubbarī, was very dear
to him; she was charming, and graceful, and beautiful passing the beauty of
women, though not so fair as a goddess. She died: and at her death the king
was plunged in grief, and became sad and miserable. He had the body laid in
a coffin, and embalmed with oil and ointment, and laid beneath the bed; and
there he lay without food, weeping and wailing. [156] In vain did his
parents and kinsfolk, friends and courtiers, priests and laymen, bid him not
to grieve, since all things pass away; they could not move him. As he lay in
sorrow, seven days passed by.
Now the Bodhisatta was at that time an ascetic, who had gained the Five
Supernatural Faculties and the Eight Attainments; he dwelt at the foot of
Himalaya. He was possessed of perfect supernatural insight, and as he looked
round India with his heavenly vision, he saw this king lamenting, and
straightway resolved to help him. By his miraculous power he rose in the
air, and alighted in the king's park, and sat down on the ceremonial stone,
like a golden image.
A young brahmin of the city of Potali entered the park, and seeing the
Bodhisatta, he greeted him and sat down. The Bodhisatta began to talk
pleasantly with him. "Is the king a just ruler?" he asked.
"Yes, Sir, the king is just." replied the youth; "but his queen is just
dead; he has laid her body in a coffin, and lies down lamenting her; and
to-day is the seventh day since he began.--Why do you not free the king from
this great grief? Virtuous beings like you ought to overcome the king's
sorrow."
"I do not know the king, young man," said the Bodhisatta; "but if he were to
come and ask me, I would tell him the place where she has now come into the
flesh again, and make her speak herself."
"Then, holy Sir, stay here until I bring the king to you," said the
youth. The Bodhisatta agreed, and he hastened into the king's presence, and
told him about it. "You should visit this being with the divine insight!" he
told the king.
The king was overjoyed, at the thought of seeing Ubbarī; and he entered his
chariot and drove to the place. Greeting the Bodhisatta, he sat down on one
side, and asked, "Is it true, as I am told, that you know where my queen has
come into being again?"
"Yes, I do, my lord king," replied he.
Then the king asked where it was.
The Bodhisatta replied, "O king, she was intoxicated with her beauty, and so
fell into negligence and did not do fair and virtuous acts; so now she has
become a little dung-worm in this very park."
"I don't believe it!" said the king.
"Then I will show her to you, and make her speak," answered the Bodhisatta.
"Please make her speak!" said the king.
The Bodhisatta commanded--"Let the two that are busy rolling a lump of
cow-dung, come forth before the king:" and by his power he made them do it,
and they came. The Bodhisatta pointed one out to the king: "There is your
queen Ubbarī, O king! she has just come out of this lump, following her
husband the dung-worm. Look and see."
"What! my queen Ubbarī a dung-worm? I don't believe it!" cried the king.
I will make her speak, O king!"
"Pray make her speak, holy Sir!" said he.
The Bodhisatta by his power gave her speech. "Ubbarī!" said he.
"What is it, holy Sir?" she asked, in a human voice.
"What was your name in your former character?" the Bodhisatta asked her.
"My name was Ubbarī, Sir," she replied, "the consort of king Assaka."
"Tell me," the Bodhisatta went on, "which do you love best now--king Assaka,
or this dung-worm?"
"O Sir, that was my former birth," said she. "Then I lived with him in this
park, enjoying shape and sound, scent, savour and touch; but now that my
memory is confused by rebirth, what is he? Why, now I would kill king
Assaka, and would smear the feet of my husband the dung-worm with the blood
flowing from his throat!" and in the midst of the king's company, she
uttered these verses in a human voice:
"Once with the great king Assaka, who was my husband dear,
Beloving and beloved, I walked about this garden here.
"But now new sorrows and new joys have made the old ones flee,
And dearer far than Assaka my Worm is now to me." When king Assaka heard this, he repented on the spot; and at once he
caused the queen's body to be removed and washed his head. He saluted the
Bodhisatta, and went back into the city; where he married another queen, and
ruled in righteousness. And the Bodhisatta, having instructed the king, and
set him free from sorrow, returned again to the Himalayas.
_____________________________
When the Master had ended this discourse, he declared the Truths and
identified the Birth:--at the conclusion of the Truths, the lovesick Brother
reached the Fruit of the First Path:--"Your late wife was Ubbarī; you, the
lovesick Brother, were king Assaka; Sāriputta was the young brahmin; and the
anchorite was I myself."
|
212. CHUYỆN
THỨC ĂN THỪA (Tiền thân Uchitthabhatta)
Trên đầu sắc lại khác...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về sự luyến ái người vợ cũ.
Tỷ-kheo ấy được bậc Đạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, nghe nói ông bị ái nhiễm?
Vị ấy đă trả lời:
- Có thực vậy.
- Ông luyến ái ai?
- Con luyến ái người vợ cũ.
Bậc Đạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, nữ nhân này thuở trước đă làm hại ông và khiến ông ăn đồ ăn
thừa của nhân t́nh nó.
Nói xong, bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ tát sanh ra trong gia
đ́nh một người nhào lộn nghèo khổ, sống bằng cách ăn xin. Khi đến tuổi
trưởng thành, Bồ tát nghèo khổ, thiếu thốn, và xin ăn để sống.
Lúc bấy giờ trong nước Kàsi, tại làng nhỏ, người vợ của một Bà-la-môn có tà
hạnh, theo ác pháp, thường hành động tội lỗi. Một hôm, v́ một vài công việc,
vị Bà-la-môn đi ra ngoài, và người t́nh của nữ nhân ấy được cơ hội liền lẻn
vào nhà. Sau khi hành lạc với nữ nhân ấy xong, gă nói:
- Ta muốn ăn một chút ǵ rồi sẽ đi.
Bà ta liền sửa soạn đồ ăn, dọn cơm, hâm canh và cho người t́nh ăn, c̣n ḿnh
đứng ở cửa canh chồng đi về.
Tại chỗ người t́nh ấy đang ăn, Bồ tát đứng chờ xin cơm, và chứng kiến câu
chuyện. Khi vị Bà-la-môn xong việc, ông trở về nhà. Nữ Bà-la-môn thấy chồng
về, liền đi nhanh vào nhà nói:
- Hăy đứng dậy, vị Bà-la-môn đang đi về!
Người vợ bảo t́nh nhân đi trốn vào kho chứa đồ, và đón vị Bà-la-môn vào nhà.
Khi vị Bà-la-môn ngồi xuống, bà vợ sửa soạn chỗ ngồi, đưa nước rửa tay, và
trên phần cơm nguội lạnh do người kia ăn thừa, bà thêm phần cơm nóng và mời
ông ăn. Vị Bà-la-môn đặt tay xuống cơm, thấy cơm dưới nguội trên nóng suy
nghĩ: "Cơm này có thể là cơm thừa của một người khác đă ăn rồi". Ông liền
hỏi nữ Bà-la-môn với bài kệ đầu:
Trên đầu sắc lại khác,
Phía dưới sắc lại khác,
Ta hỏi nữ Phạm chí,
Sao dưới vậy, trên vậy?
Nữ Bà-la-môn sợ việc làm của ḿnh bị bại lộ, dầu vị Bà-la-môn hỏi đi hỏi
lại, vẫn giữ im lặng. Lúc bấy giờ, con người nhào lộn đang đứng xin ăn ở
ngoài cửa suy nghĩ: "Người đàn ông núp trong kho chứa đồ chắc là t́nh nhân.
Người này chắc là chủ nhà. Nữ Bà-la-môn sợ việc làm của ḿnh bị bại lộ nên
không nói ǵ. Vậy ta hăy phô bày việc làm của nữ Bà-la-môn ấy, nói cho vị
Bà-la-môn biết chỗ nấp của người t́nh trong kho chứa đồ".
Bồ-tát liền đem toàn bộ câu chuyện nói cho vị Bà-la-môn biết, từ khi ông đi
ra khỏi nhà, người kia đi vào nhà, hành lạc, ăn cơm ngon, và nữ Bà-la-môn
đứng ở cửa nh́n ra đường bảo người kia núp xuống trong kho chứa đồ. Người
nhào lộn nói như vậy cho ông chủ nhà biết và đọc bài kệ thứ hai.
Kính thưa bậc Tôn giả
Tôi là người nhào lộn
Tôi đă đi đến đây,
Chỉ là để xin ăn,
Người núp trong kho chứa
Là người Tôn giả t́m.
Bồ-tát nắm búi tóc người t́nh địch, kéo gă ra khỏi kho chứa, dặn nó chớ có
làm việc ác như vậy nữa, rồi ra đi. C̣n vị Bà-la-môn, đánh và dạy cả hai
người chớ làm ác như vậy nữa.
Rồi về sau ông mạng chung và đi theo nghiệp của ḿnh.
Sau khi thuyết Pháp thoại này xong, bậc Đạo Sư giảng các Sự thật. Cuối bài
giảng, vị Tỷ-kheo ấy đắc quả Dư lưu. Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn là người vợ trước, vị Bà-la-môn là vị Tỷ-kheo bị
ái nhiễm, c̣n người nhào lộn là Ta vậy.
-ooOoo-(Contents)
|
http://www.sacred2065.htm
No. 212. UCCHI HA-BHATTA-JĀTAKA.
"Hot at top," etc. This is a story told by the Master while at Jetavana,
about one who hankered after a lost wife. The Brother in question was asked
by the Master if he really was lovesick. Yes, he said, so he was. "For
whom?" was the next question. "For my late wife." "Brother," the Master
said, "this same woman in former days was wicked, and made you eat the
leavings of her paramour." Then he told this story of the past.
_____________________________
Once upon a time, while Brahmadatta was reigning in Benares, the Bodhisatta
was born as one of a family of poor acrobats, that lived by begging. So when
he grew up, he was needy and squalid, and by begging he lived.
There was at the time, in a certain village of Kāsi, a brahmin whose wife
was bad and wicked, and did wrong. [168] And it befel that the husband went
abroad one day upon some matter, and her lover watching his time went to
visit the house. After she had received him, he said, "I will eat a bit
before I go." So she made ready the food, and served up rice hot with sauce
and curry, and gave it him, bidding him eat: she herself stood at the door,
watching for the brahmin's coming. And while the lover was eating, the
Bodhisatta stood waiting for a morsel.
At that moment the brahmin set his face for home. And his wife saw him
drawing nigh, and ran in quickly--"Up, my man is coming!" and she made her
lover go down into the store-room. The husband came in; she gave him a seat,
and water for washing the hands; and upon the cold rice that was left by the
other she turned out some hot rice, and set it before him. He put his hand
into the rice, and felt that it was hot above and cold below. "This must be
some one else's leavings," thought he; and so he asked the woman about it in
the words of the first stanza:
"Hot at top, and cold at bottom, not alike it seems to be:
I would ask you for the reason: come, my lady, answer me!"
Again and again he asked, but she, fearing lest her deed should be
discovered, held her peace, Then a thought came into our tumbler's mind.
"The man down in the store-room must be a lover, and this is the master of
the house: the wife says nothing, for fear that her deed be made manifest.
Soho! I will declare the whole matter, and show the brahmin that a man is
hidden in his larder!" [169] And he told him the whole matter: how that when
he had gone out from his house, another had come in, and had done evil; how
he had eaten the first rice, and the wife had stood by the door to watch the
road; and how the other man had been hidden in the store-room. And in so
saying, he repeated the second stanza:
"I am a tumbler, Sir: I came on begging here intent;
He that you seek is hiding in the store-room, where he went!"
By his top-knot he haled the man out of the store-room, and bade him take
care not to do the like again; and then he went away. The brahmin rebuked
and beat them both, and gave them such a lesson that they were not likely to
do the same again. Afterwards he passed away to fare according to his
deserts.
_____________________________
When the Master had ended his discourse, he declared the Truths, and
identified the Birth:--at the conclusion of the Truths the lovesick Brother
reached the Fruit of the First Path:--"Your late wife was then the brahmin's
lady; you, the lovesick Brother, were the brahmin himself; and I was the
tumbler."
|
|
(Continued) |
(Continued) |
All clips of ĐƯỜNG MÂY QUA XỨ
TUYẾT
http://www.youtube.com/results?search_query=duongmayxutuyet
All clips of Phẩm Nữ Nhân
http://www.youtube.com/results?search_query=nunhan
All clips of Hành Tŕnh Về Phương Đông
http://www.youtube.com/results?search_query=hanhtrinhvephuongdong
|
|
| |
|
|
List
Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam)
http://www.tranlich.com/phathoc/kinhbantien.htm
KINH VIÊN GIÁC
(THE SUTRA OF COMPLETE ENLIGHTENMENT )
kinhviengiac1
kinhviengiac2
Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra)
Phẩm nữ giới
http://www.tranlich.com/phathoc/nugioi.htm
KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna
sutta)
The Four Arousings of Mindfulness
The Four frames of reference
The Four foundations of mindfulness.
http://www.tranlich.com/phathoc/tuniemxu.htm
Kahlil Gibran
http://www.tranlich.com/phathoc/kahlilgibran.htm
Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra)
1) Phẩm nữ giới
http://www.tranlich.com/phathoc/nugioi.htm
NỮ NHÂN 1 |
NỮ NHÂN 2 |
NỮ NHÂN 3
2) Kẻ Ác
http://www.tranlich.com/phathoc/keac.htm
Trung Bộ Kinh
1)
trungbokinh1.htm ( Nikaya 1 thru 4)
2)
trungbokinh2.htm ( Nikaya 5 thru 8)
3) trungbokinh3.htm ( Nikaya
9 thru 12) 6)
trungbokinh6.htm ( Nikaya
35 thru 40)
KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna sutta)
The Four Arousings of Mindfulness
The Four frames of reference
The Four foundations of mindfulness.
http://www.tranlich.com/phathoc/tuniemxu.htm
Thiền Sư Và Triết Gia
The Monk and the Philosopher:
Jean-Francois Revel, Matthieu Ricard,
http://www.tranlich.com/phathoc/thiensuvatrietgia.htm
YouTube: Video
http://www.youtube.com/profile_videos?user=coongnoo
http://www.youtube.com/profile_videos?user=brainwashchinese
http://www.youtube.com/profile_videos?user=stupidchina1
http://www.youtube.com/profile_videos?user=stupid2china
(back to top) |
| |
|
Home
| 81 BCND | Freedom4Vietnam
| Vietnamese Songs | Vietnamese
Students | Our Sponsor
Since 06-27-01
.tranlich.com
|