CHUYỆN LIÊN QUAN ĐẾN NỮ NHÂN
1 Tiểu Bộ Kinh -
The Jataka
|
|
NỮ NHÂN 1 |
NỮ NHÂN 2 | NỮ NHÂN 3 ( Trich đọan từ Kinh Viên Giác) -Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay do có đủ thứ tham dục ân ái nên có luân hồi. Tất cả chủng tánh nơi các thế giới như noăn sanh, thai sanh, thấp sanh, hoá sanh, đều lấy dâm dục làm chánh nhân mới thành có sinh mạng, nên biết ái dục là cội gốc của luân hồi. Do có các dục làm trợ duyên, phát khởi tánh ân ái, v́ thế khiến chúng sanh có sanh tử tương tục. Dục do ái mà sanh, mạng do dục mới có, chúng sanh tham ái thân mạng là dựa theo cội gốc tham dục, vậy tham dục là nhân, tham ái thân mạng là quả. Do nơi cảnh dục mà sanh tâm yêu ghét; cảnh thuận với tâm ta th́ yêu, cảnh nghịch với tâm ta th́ ghét, nên theo đó tạo đủ thứ ác nghiệp th́ sanh vào đạo địa ngục, ngạ qủy. |
“Virtuous man, all sentient beings [experience illusory] cyclic existence
due to all kinds of affection, love, craving, and desire [1] since
beginningless time. The different types of births in the world - be they
from egg, womb, humidity, or by transformation - are created by sexual
desire. [2] You should know that attached love is the root of cyclic
existence. Because there are all sorts of desirable [objects] that enhance
and augment the activity [3] of attached love, birth and death proceed in
unending succession. |
|
http://www.thuvienhoasen.org/ Audio sources: http://suoitumedia1.net/ Contents: |
http://www.sacred-texts.com/ |
|
62. CHUYỆN CÔ GÁI TRÊN LẦU BẢY TẦNG. (Tiền thân
Andabhuta) 63. CHUYỆN HIỀN SĨ CHÀ LÀ (Tiền thân Takka) 64. CHUYỆN NGƯỜI VỢ KHÓ HIỂU (Tiền thân Duràjàna) 65. CHUYỆN NỖI BẤT MĂN. (Tiền thân Anabhirati) 66. CHUYỆN HOÀNG HẬU TỪ TÂM (Tiền thân Mudulakkhana) 67. CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ THÔN QUÊ (Tiền thân Ucchanga) 120. CHUYỆN GIẢI THOÁT SỰ TRÓI BUỘC (Tiền thân Bandhanamokkha) (LXXI) Subhà ở Rừng Xoài của Jivaka (Theŕ. 150) 193. CHUYỆN HOÀNG TỬ LIÊN HOA (Tiền thân Cullapaduma) 194. CHUYỆN KẺ TRỘM NGỌC (Tiền thân Manicora) 195. CHUYỆN H̉N NÚI ĐẸP (Tiền thân Pabbatupatthara) 196. CHUYỆN CON NGỰA BAY (Tiền thân Valàhassa) 198. CHUYỆN CON VẸT RÀDHA (Tiền thân Ràdha) 199. CHUYỆN NGƯỜI GIA CHỦ (Tiền thân Gahapati) 207. CHUYỆN VUA ASSAKA (Tiền thân Assaka) 212. CHUYỆN THỨC ĂN THỪA (Tiền thân Uchitthabhatta) YouTube1: Text
|
No. 62.A ABHŪTA-JĀTAKA. No. 63. TAKKA-JĀTAKA. No. 64. DURĀJĀNA-JĀTAKA. No. 65. ANABHIRATI-JĀTAKA No. 66. MUDULAKKHAṆA-JĀTAKA. No. 120. BANDHANAMOKKHA-JĀTAKA. LXXI Subhā of Jīvaka's Mango-grove. No. 199.
GAHAPATI-JĀTAKA. |
| 62. CHUYỆN CÔ GÁI TRÊN LẦU BẢY
TẦNG. (Tiền thân Andabhuta)
***YouTube
1 *** |
**
YouTube 1 English
** No. 62.A ABHŪTA-JĀTAKA. |
| V́ khúc hát này làm cho vua thắng
cuộc măi, nên theo đúng luật chơi bài, vị Tế sư mất đến cả đồng xu dính túi.
Và muốn khỏi sạt nghiệp, vị ấy quyết định t́m cho ra một cô gái chưa hề thấy
người đàn ông nào, đem về nhà khóa cửa nhốt trong pḥng. Vị ấy nghĩ thầm:
"Ta không thể nuôi một cô gái đă từng thấy đàn ông. Vậy ta phải t́m một đứa
trẻ sơ sinh, giữ kỹ nó lúc lớn lên, canh chừng nó thật cẩn mật để không ai
có thể đến gần nó và nó sẽ trung thành với người đàn ông duy nhất thôi. Lúc
ấy ta sẽ thắng vua và trở nên giàu có". Bấy giờ vị này rất giỏi khoa tướng số, nên vừa thấy một người đàn bà nghèo sắp sinh con, và đứa trẻ sẽ là con gái, vị ấy bèn thuê tiền để đem bà ta về ở trong nhà ḿnh, giữ thật kỹ đến ngày sinh đứa con xong, bà ta phải đi ngay với một số tiền. C̣n hài nhi kia được toàn phụ nữ nuôi nấng, không một nam nhân nào được nh́n thấy nó, trừ vị Tế sư. Khi nó lớn lên, nó thuộc về quyền sở hữu của vị Tế sư, chủ nhân của nó. Suốt thời gian cô bé lớn dần, vị Tế sư tránh việc chơi bài với vua, nhưng khi nó đă trưởng thành dưới quyền kiểm soát của chính ḿnh, th́ vị Tế sư lại thách thức vua chơi bài. Ngài chấp thuận và bắt đầu cuộc chơi. Trong khi vừa ném con súc sắc, ngài vừa hát khúc ca cầu may ấy, th́ vị Tế sư nói thêm: - Nhưng bao giờ cô bé của hạ thần cũng là ngoại lệ đấy! Rồi vận may cũng đổi chiều, chính vị Tế sư thắng cuộc và nhà vua thua bài. Khi xét kỹ vấn đề trên, Bồ-tát nghi ngờ vị Tế sư có giấu kín một cô gái đức hạnh trong nhà, nên ngài cho người ḍ t́m và quả đúng như vậy. Thế là để làm cho cô bé kia phải sa ngă và phạm lỗi, ngài truyền đưa tới một gă điếm đàng giảo quyệt, và hỏi gă có cách quyến rủ cô gái chăng. - Tâu Đại vương, chắc chắn là được. Gă kia đáp. Nghe vậy, nhà vua cho gă tiền và bảo gă thi hành lệnh ngài ngay, chớ để mất th́ giờ lâu. Với số tiền vua ban, gă mua đủ loại nước hoa, hương liệu và mở cửa tiệm bán nước hoa gần nhà vị Tế sư. Bấy giờ nhà Tế sư cao bảy tầng, có bảy cổng, mỗi cổng đều có người ngồi canh, toàn phụ nữ canh cổng, không đàn ông nào được phép vào nhà trừ vị Bà-la-môn. Ngay cả những thúng đựng rác cũng được khám xét thật kỹ trước khi đem vào nhà. Chỉ riêng vị Tế sư ấy được quyền nh́n thấy cô gái, và cô bé cũng chỉ có một nữ tỳ hầu hạ. Nữ tỳ này được giao tiền đi mua hoa tươi và nước hoa và tặng cô chủ; trên đường đi, bà ta thường bước ngang qua cửa tiệm mà gă điếm đàng kia mới mở. Và gă ấy biết rơ bà ta chính là người hầu của cô gái kia, bèn đợi một ngày nọ bà ta đến gần, gă vội vă chạy bổ ra ngoài cửa hiệu, quỳ xuống chân bà, hai tay ôm chặt đầu gối bà, miệng lắp bắp: - Ôi mẹ ôi! Mẹ đi đâu lâu nay thế hở mẹ? Và đồng bọn của gă đứng canh đó đều kêu lên: - Ồ giống như tạc! Tay chân, mặt mũi, cả cách ăn mặc nữa, đều y hệt nhau! Trong khi mọi người cứ xem xét trầm trồ không ngớt về sự giống nhau kỳ diệu kia, người đàn bà ấy đâm ra hoát hoảng trong thật thảm hại. Bà ta ̣a ra khóc lớn rằng đây hẳn là con trai bà! Rồi vừa khóc lóc vừa kể lể, cả hai người cứ ôm lấy nhau mà ngă lăn ra. Sau đó gă hỏi: - Nay mẹ đang ở đâu vậy mẹ? - Mẹ đang ở nhà vị Tế sư đấy con ạ. Ngài có môt cô tiểu thiếp đẹp vô song, quả là tiên trên trời mới đẹp như thế và mẹ là người hầu của nàng ấy. - Thế mẹ đang đi đâu đấy? - Mẹ đi mua hoa tươi và nước hoa cho nàng ấy. - Sao mẹ c̣n đi đâu mà mua các thứ ấy nữa? Lần sau mẹ cứ đến đây, gă kia bảo. Và gă tặng bà già trầu cau cùng đủ thứ hoa mà không lấy tiền. Cô gái ngạc nhiên thấy số hoa tươi và nước hoa bà ta đem về quá nhiều, bèn hỏi tại sao vị Tế sư Bà-la-môn lại hậu hỉ với nàng thế. Bà già đáp: - Sao con lại nói thế hở con? - V́ số hương hoa bà đem về nhà đấy mà. - Ồ không, chẳng phải ngà Bà-la-môn cho tiền hào phóng đâu, bà già bảo, mà chính v́ già này lấy các thứ kia ở tiệm của con trai già đấy. Và từ đó, bà già giữ riêng số tiền vị Bà-la-môn đưa, rồi đi đến lấy hoa tươi cùng đủ thứ khác tại tiệm gă kia khỏi mất tiền. Vài ngày sau, gă giả vờ đau ốm, lên giường nằm. Khi bà già ấy đến cửa tiệm hỏi con trai bà đâu th́ được biết gă đang bị bệnh. Bà vội bước vào tận nơi, âu yếm vuốt ve đôi vai gă và hỏi nguyên nhân cơn bệnh. Nhưng gă không đáp. - Tạo sao con không nói cho mẹ biết hả con? - Dù con có chết đi cũng không dám nói với mẹ đâu. - Nhưng nếu con không nói với mẹ th́ c̣n nói với ai được nữa? - Thế th́ mẹ ôi, bệnh của con phát ra chỉ v́ nghe mẹ cứ khen cô tiểu chủ của mẹ đẹp tuyệt trần nên con đâm ra si t́nh phát ốm tương tư đó thôi! Nếu con chiếm được nàng, con mới sống nổi, c̣n không th́ con đành nằm ở đây chờ chết. - Con ơi, con cứ để việc này cho mẹ lo liệu. Bà già nói một cách vui vẻ - Con đừng lo lắng ǵ về chuyện đó. Thế rồi mang một thúng chất đầy hoa tươi cùng nước hoa, mụ đem về nhà, nói với nàng tiểu thiếp của vị Bà-la-môn: - Chao ôi! Con trai già đang ốm tương tư v́ nàng, chỉ v́ già bảo cho nó biết nàng đẹp tuyệt vời! Bây giờ biết làm sao đây? Cô gái đáp: - Nếu bà t́m cách lén đem được cậu ấy vào đây, th́ ta cho phép bà đấy. Ngay sau đó mụ già liền bắt tay quét dọn tất cả đồ đạc hư cũ, rác rưởi trong nhà thâu góp cả bảy tầng lầu từ rầm thượng cho đến nhà bếp, bỏ vào một thúng đựng hoa to tướng rồi t́m cách đưa ra ngoài. Khi người ta lục soát như thường lệ th́ mụ già đổ cả thúng rác lên đầu người đàn bà giữ cổng, khiến người đó bỏ chạy ngay trước cách đối xử quá thô bạo như thế! Mụ già cũng làm cách ấy với các người giữ cổng kia, khiến cho họ ngột thở v́ đống rác rưởi trút lên đầu và mọi người la lối mụ đủ điều. Thế là từ đó về sau, mụ già có đưa vào đưa ra bất cứ vật ǵ, cũng không ai có gan lục soát mụ nữa! Thời cơ đă đến tay! Mụ lén đưa gă điếm đàng giấu trong thúng hoa vào gặp cô tiểu chủ. Gă làm hư hỏng đức hạnh của cô gái ngay và c̣n cả gan ở lại một hai ngày trong những căn gác nhỏ trên lầu. Gă lánh mặt khi vị Tế sư đến nhà, và bầu bạn với cô gái khi vị ấy đi khỏi. Sau một hai ngày, cô gái bảo t́nh nhân: - Này lang quân yêu quư, chàng phải ra đi rồi đấy. - Đúng rồi, nhưng ta muốn đánh lăo Bà-la-môn ấy một cái đă. - Được lắm chứ. Cô gái đáp và đem giấu gă một nơi. Sau đó vị Bà-la-môn đến, cô nàng kêu lên: - Này phu quân yêu dấu, tiện thiếp ưa thích ca múa biết bao, ước ǵ phu quân vui ḷng thổi sáo cho thiếp. - Vậy ái nương hăy múa đi nào. Vị Bà-la-môn lập tức thổi sáo lên.
***YouTube
2 *** |
[paragraph continues] [290] As
these lines always made the king win the game, the chaplain was in a fair
way to lose every penny he had in the world. And, in order to save himself
from utter ruin, he resolved to seek out a little maid that had never seen
another man, and then to keep her under lock and key in his own house.
"For," thought he, "I couldn't manage to look after a girl who has seen
another man. So I must take a new-born baby girl, and keep her under my
thumb as she grows up, with a close guard over her, so that none may come
near her and that she may be true to one man. Then I shall win of the king,
and grow rich." Now he was skilled in prognostication; and seeing a poor
woman who was about to become a mother, and knowing that her child would be
a girl, he paid the woman to come and be confined in his house, and sent her
away after her confinement with a present. The infant was brought up
entirely by women, and no men--other than himself--were ever allowed to set
eyes on her. When the girl grew up, she was subject to him and he was her
master. Now, while the girl was growing up, the chaplain forbore to play with the king; but when she was grown up and under his own control, he challenged the king to a game. The king accepted, and play began. But, when in throwing the dice the king sang his lucky catch, the chaplain added,--"always excepting my girl." And then luck changed, and it was now the chaplain who won, while the king lost. Thinking the matter over, the Bodhisatta suspected the chaplain had a virtuous girl shut up in his house; and enquiry proved his suspicions true. Then, in order to work her fall, he sent for a clever scamp, and asked whether he thought he could seduce the girl. "Certainly, sire," said the fellow. So the king gave him money, and sent him away with orders to lose no time. With the king's money the fellow bought perfumes and incense and aromatics of all sorts, and opened a perfumery shop close to the chaplain's house. Now the chaplain's house was seven stories high, and had seven gateways, at each of which a guard was set,--a guard of women only,--and no man but the brahmin himself was ever allowed to enter. The very baskets that contained the dust and sweepings [291] were examined before they were passed in. Only the chaplain was allowed to see the girl, and she had only a single waiting-woman. This woman had money given her to buy flowers and perfumes for her mistress, and on her way she used to pass near the shop which the scamp had opened. And he, knowing very well that she was the girl's attendant, watched one day for her coming, and, rushing out of his shop, fell at her feet, clasping her knees tightly with both hands and blubbering out, "O my mother! where have you been all this long time?" And his confederates, who stood by his side, cried, "What a likeness! Hand and foot, face and figure, even in style of dress, they are identical!" As one and all kept dwelling on the marvellous likeness, the poor woman lost her head. Crying out that it must be her boy, she too burst into tears. And with weeping and tears the two fell to embracing one another. Then said the man, "Where are you living, mother?" "Up at the chaplain's, my son. He has a young wife of peerless beauty, a very goddess for grace; and I'm her waiting-woman." "And whither away now, mother?" "To buy her perfumes and flowers." "Why go elsewhere for them? Come to me for them in future," said the fellow. And he gave the woman betel, bdellium, and so forth, and all kinds of flowers, refusing all payment. Struck with the quantity of flowers and perfumes which the waiting-woman brought home, the girl asked why the brahmin was so pleased with her that day. "Why do you say that, my dear?" asked the old woman. "Because of the quantity of things you have brought home." "No, it isn't that the brahmin was free with his money," said the old woman; "for I got them at my son's." And from that day forth she kept the money the brahmin gave her, and got her flowers and other things free of charge at the man's shop. And he, a few days later, made out to be ill, and took to his bed. So when the old woman came to the shop and asked for her son, she was told he had been taken ill. Hastening to his side, she fondly stroked his shoulders, as she asked what ailed him. But he made no reply. "Why don't you tell me, my son?" "Not even if I were dying, could I tell you, mother." "But, if you don't tell me, [292] whom are you to tell?" "Well then, mother, my malady lies solely in this that, hearing the praises of your young mistress's beauty, I have fallen in love with her. If I win her, I shall live; if not, this will be my death-bed." "Leave that to me, my boy," said the old woman cheerily; "and don't worry yourself on this account." Then--with a heavy load of perfumes and flowers to take with her--she went home, and said to the brahmin's young wife, "Alas! here's my son in love with you, merely because I told him how beautiful you are! What is to be done?" "If you can smuggle him in here," replied the girl, "you have my leave." Hereupon the old woman set to work sweeping together all the dust she could find in the house from top to bottom; this dust she put into a huge flower-basket, and tried to pass out with it. When the usual search was made, she emptied dust over the woman on guard, who fled away under such ill-treatment. In like manner she dealt with all the other watchers, smothering in dust each one in turn that said anything to her. And so it came to pass from that time forward that, no matter what the old woman took in or out of the house, there was nobody bold enough to search her. ** YouTube 2 English ** Now was the time! The old woman smuggled the scamp into the house in a flower-basket, and brought him to her young mistress. He succeeded in wrecking the girl's virtue, and actually stayed a day or two in the upper rooms,--hiding when the chaplain was at home, and enjoying the society of his mistress when the chaplain was off the premises. A day or two passed and the girl said to her lover, "Sweet-heart, you must be going now." "Very well; only I must cuff the brahmin first." "Certainly," said she, and hid the scamp. Then, when the brahmin came in again, she exclaimed, "Oh, my dear husband, I should so like to dance, if you would play the lute for me." "Dance away, my dear," said the chaplain, and struck up forthwith. "But I shall be too ashamed, if you're looking. Let me hide your handsome face first with a cloth; and then I will dance." "All right," said he; "if you're too modest to dance otherwise." So she took a thick cloth and tied it over the brahmin's face so as to blindfold him. And, blindfolded as he was, the brahmin began to play the lute. After dancing awhile, she cried, "My clear, I should so like to hit you once on the head." "Hit away," said the unsuspecting dotard. Then the girl made a sign to her paramour; and he softly stole up behind the brahmin [293] and smote him on the head. Such was the force of the blow, that the brahmin's eyes were like to start out of his head, and a bump rose up on the spot. Smarting with pain, he called to the girl to give him her hand; and she placed it in his. "Ah! it's a soft hand," said he; "but it hits hard!" Now, as soon as the scamp had struck the brahmin, he hid; and when he was hidden, the girl took the bandage off the chaplain's eyes and rubbed his bruised head with oil. The moment the brahmin went out, the scamp was stowed away in his basket again by the old woman, and so carried out of the house. Making his way at once to the king, he told him the whole adventure. Accordingly, when the brahmin was next in attendance, the king proposed a game with the dice; the brahmin was willing; and the dicing-table was brought out. As the king made his throw, he sang his old catch, and the brahmin--ignorant of the girl's naughtiness--added his "always excepting my girl,"--and nevertheless lost! Then the king, who did know what had passed, said to his chaplain, "Why except her? Her virtue has given way. Ah, you dreamed that by taking a girl in the hour of her birth and by placing a sevenfold guard round her, you could be certain of her. Why, you couldn't be certain of a woman, even if you had her inside you and always walked about with her. No woman is ever faithful to one man alone. As for that girl of yours, she told you she should like to dance, and having first blindfolded you as you played the lute to her, she let her paramour strike you on the head, and then smuggled him out of the house. Where then is your exception?" And so saying, the king repeated this stanza:-- Blindfold, a-luting, by his wife beguiled, The brahmin sits,--who tried to rear A paragon of virtue undefiled! Learn hence to hold the sex in fear. |
| Bằng cách ấy, Bồ-tát thuyết pháp
cho vị Bà-la-môn. Vị ấy về nhà hạch hỏi cô gái về tội hư thân mất nết mà cô
ả đă bị tố cáo trên. - Này phu quân yêu quư, ai có thể nói như vậy về tiện thiếp đấy? Cô gái phân trần: Tiện thiếp vô tội thật mà, chính bàn tay thiếp đánh chàng thật mà, chứ c̣n ai vào đây nữa? Nếu phu quân không tin lời thiếp th́ thiếp xin nguyền đem thân này ra thử lửa để chứng tỏ không hề có bàn tay nam nhân nào từng đụng vào người thiếp cả, nhờ vậy mong chàng tin tưởng thiếp. - Muốn thế th́ được ngay. Vị Bà-la-môn liền bảo đem một đống củi vào và châm lửa lên. Sau đó cô gái được gọi đến: - Này, vị Bà-la-môn nói, nếu nàng tin tưởng lời ḿnh thật th́ hăy thử lửa đi. Trước đó, cô gái đă dặn ḍ mụ già nọ như sau: - Này mẹ ôi, mẹ hăy gọi con trai mẹ đến sẵn đây để nắm lấy tay con đúng lúc con sắp bước vào lửa nhé! Và mụ già làm đúng như lời cô ả dặn, bảo gă kia đứng chen vào đám đông đang vây quanh. Sau đó để đánh lừa vị Bà-la-môn, cô gái đứng trước mặt mọi người, hăng hái thề thốt: - Thưa phu quân, không hề có tay ai trừ tay chàng đụng vào người thiếp cả, với lời thề chân thật này, thiếp cầu mong ngọn lửa đừng làm hại thân thiếp. Nói vậy xong, cô ả tiến đến đống lửa vừa đúng lúc gă t́nh nhân nhảy lên chụp lấy tay ả, hét to rằng vị Bà-la-môn thật đáng xấu hổ v́ đă bắt buộc một thiếu nữ diễm lệ thế kia phải nhảy vào lửa đỏ! Cô gái giật mạnh tay ra khỏi tay gă, và kêu ca rằng lời xác nhận trước đây của ả đă bị làm hỏng mất rồi, nên bây giờ ả không thể thử lửa được nữa! Vị Bà-la-môn hỏi: - Tại sao lại không được? Cô ả đáp: -Bởi v́ trước kia thiếp xác nhận không hề có bàn tay nam nhân nào đụng vào người thiếp trừ tay chàng ra, nhưng bây giờ lại có một người đàn ông vừa chụp lấy tay thiếp! Nghe vậy, vị Bà-la-môn biết rằng ḿnh đă bị lừa, liền tống cổ cô ả ra khỏi nhà bằng những cái đấm thẳng tay! Xem đấy, chúng ta biết rơ sự hư thân mất nết của đàn bà ra sao rồi. Không có tội lỗi nào mà chúng không phạm đến cả, rồi sau đó muốn đánh lừa các ông chồng, th́ có lời thề thốt nào chúng không nói bừa cho xong đă chứ! Ngay giữa ban ngày ban mặt thế mà dám cho rằng chẳng hề phạm tội ǵ cả đấy! Ḷng dạ chúng thật giả dối điêu ngoa làm sao! Do đó từ xưa đă có tục ngữ như vầy: Một giống toàn lừa phỉnh, dối gian, Làm sao hiểu nổi, cứ tung tăng Như đàn cá lội theo ḍng nước, Lộng giả thành chân, thói các nàng! Tựa giống ḅ tham đồng cỏ mới, Má đào mơ ước đổi t́nh lang Khác nào cát lún, không hề thỏa, Độc dữ như loài rắn hổ mang! Bọn nữ nhi thường rành mọi sự, C̣n ghi giấu được đám hồng nhan? |
In such wise did the
Bodhisatta expound the Truth to the brahmin. And the brahmin went home and
taxed the girl with the wickedness of which she was accused. "My dear
husband, who can have said such a thing about me?" said she. "Indeed I am
innocent; indeed it was my own hand, and nobody else's, that struck you;
and, if you do not believe me, I will brave the ordeal of fire to prove that
no man's hand has touched me but yours; and so I will make you believe me."
"So be it," said the brahmin. And he had a quantity of wood brought and set
light to it. Then the girl was summoned. "Now," said he, "if you believe
your own story, brave these flames!" Now before this the girl had instructed her attendant as follows:--"Tell your son, mother, to be there and to seize my hand just as I am about to go into the fire." And the old woman did as she was bidden; and the fellow came and took his stand among the crowd. Then, to delude the brahmin, the girl, standing there before all the people, exclaimed with fervour, "No man's hand but thine, brahmin, has ever touched me; and, by the truth of my asseveration I call on this fire to harm me not." So saying, she advanced to the burning pile,--when up dashed her paramour, who seized her by the hand, crying shame on the brahmin who could force so fair a maid to enter the flames! Shaking her hand free, the girl exclaimed to the brahmin that what she had asserted was now undone, and that she could not now brave the ordeal of fire. "Why not?" said the brahmin. "Because," she replied, "my asseveration was that no man's hand but thine had ever touched me; and now here is a man who has seized hold of my hand!" But the brahmin, knowing that he was tricked, drove her from him with blows. Such, we learn, is the wickedness of women. What crime will they not commit; and then, to deceive their husbands, what oaths will they not take--aye, in the light of day--that they did it not! So false-hearted are they! Therefore has it been said:-- A sex composed of wickedness and guile, Unknowable; uncertain as the path Of fishes in the water,--womankind Hold truth for falsehood, falsehood for the truth! As greedily as cows seek pastures new, Women, unsated, yearn for mate on mate. As sand unstable, cruel as the snake, Women know all things; naught from them is hid! _____________________________ |
| Quả thật không làm sao giữ nổi đàn
bà, bậc Đạo Sư nói. Khi pháp thoại chấm dứt, Ngài tuyên thuyết các Sự thật. Đến cuối bài giảng ấy, vị Tỷ-kheo bị tham ái chi phối kia đắc quả Dự lưu. Bậc Đạo Sư cũng nêu mối liên hệ giữa hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân: - Vào thời ấy Ta là vua Ba-la-nại kia vậy. (Contents) |
"Even so impossible is it to ward
women," said the Master. His lesson ended, he preached the Truths, at the
close whereof the passion-test Brother won the Fruit of the First Path. Also
the Master showed the connexion and identified the Birth by saying:--"In
these days I was the king of Benares." [Note. The cuffing of the brahmin is the subject of a Bharhut sculpture, Plate 26, 8. For a parallel to the trick by which the girl avoids the ordeal of fire, see Folklore 3. 291.] |
| 63. CHUYỆN HIỀN SĨ CHÀ LÀ (Tiền
thân Takka) Bọn nữ nhân đầy rẫy hận sân..., Câu chuyện này do bậc Đạo Sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo bị tham dục chi phối. Khi được hỏi, vị Tỷ-kheo thú nhận rằng ḿnh bị tham dục chi phối, bậc Đạo Sư hỏi: - Đàn bà thật vong ân bội nghĩa, tại sao ông lại để dục tham chi phối v́ họ? Và Ngài kể câu chuyện quá khứ. * Một thuở nọ vua Brahmadatta trị v́ Ba-la-nại, Bồ-tát đă chọn đời ẩn sĩ, xây dựng cho ḿnh một am thất bên bờ sông Hằng, tại đó ngài đă đạt các Thắng trí cùng các Thiền chứng, và an trú trong Thiền lạc. Thời ấy, vị quan giữ công khố ở thành Ba-la-nại có một cô con gái rất hung dữ, độc ác được mệnh danh là Ác Tiểu thư, thường hay mắng chửi đánh đập gia nhân, nô tỳ của ḿnh. Một ngày kia, bọn gia nhân đưa cô tiểu chủ đến vui chơi giải trí trên sông Hằng; cả đám đang đùa giỡn tung tăng trên mặt nước th́ mặt trời lặn dần và một cơn băo lớn bỗng nổi lên. V́ thế, mọi người vội vă chạy trốn, c̣n lại bọn nữ tỳ của nàng kêu to: "Đây chính là thời cơ tống khứ kẻ ác độc này đi!". Rồi chúng ném thẳng cô gái xuống nước và vội vă bỏ về. Mưa trút xuống như thác, mặt trời dần khuất và màn đêm xuống rất nhanh. Khi bọn nô tỳ về nhà mà không có cô tiểu chủ, liền bị tra hỏi tiểu thư đâu, họ đều thưa rằng tiểu thư đă bước lên khỏi bờ sông, nhưng họ không biết nàng đă đi đâu cả. Gia đ́nh này đi t́m kiếm khắp nơi, nhưng không thấy tung tích cô gái đi lạc. Trong lúc ấy, nàng kêu gào thất thanh v́ bị nước lũ cuốn theo, đến nửa đêm th́ trôi dạt vào gần am thất của Bồ-tát. Nghe tiếng cầu cứu, ngài tự nhủ: "Đây là tiếng đàn bà kêu cứu. Ta phải cứu người ấy khỏi nước cuốn mới được". Thế là ngài cầm ngọn đuốc cỏ soi sáng để t́m thấy nàng giữa ḍng nước. - Đừng sợ! Đừng sợ! Ngài vui mừng kêu lên và lội xuống, rồi nhờ sức lực cường tráng như voi của ngài, ngài đưa cô gái vào bờ an toàn. Sau đó, ngài nhóm lửa trong am thất để sưởi ấm nàng và mang trái cây ngon ngọt đủ loại cho nàng dùng. Khi nàng vừa ăn, ngài hỏi: - Nhà cô nương ở đâu, cớ sao lại rơi xuống sông? Cô gái kể hết mọi việc đă xảy ra cho ḿnh. Ngài bảo: - Cô nương cứ tạm thời ở lại đây. Ngài để cô gái ở trong am thất, c̣n phần ngài ra ở ngoài trời khoảng hai, ba ngày. Sau đó, ngài bảo cô gái ra đi, song cô ả cứ nấn ná ở lại cho đến khi quyến rủ được vị ẩn sĩ này say mê ḿnh mà cô vẫn không chịu đi đâu cả. Thời gian qua cô gái dùng mọi vẻ yêu kiều của mỹ nhân kế khiến ngài mất hết thiền lực trí tuệ. Ngài vẫn cùng nàng ấy sống trong rừng. Nhưng nàng lại không thích ở nơi hiu quạnh măi, nên đ̣i ngài đem về nơi có dân cư. Thế là ch́u theo lời năn nỉ ỉ ôi kia, ngài đành đem nàng ấy ra đi đến một làng ở biên địa, nuôi sống nàng bằng cách bán quả chà là, nên được gọi tên là "Hiền sĩ Chà Là". Dân làng nhờ ngài dạy cho cách biết trước lúc được mùa hoặc mất mùa, rồi trả tiền cho ngài và biếu ngài một túp lều để sống ở cổng làng. ***YouTube 3 *** Bấy giờ vùng biến địa hay bị bọn cướp từ núi xuống tàn hại phá phách. Ngày kia bọn chúng tấn công ṿ làng ngài đang ở và cướp của cải. Chúng bắt dân làng khốn khổ kia thu góp hết tài sản cho chúng rồi cao chạy xa bay, mang theo cô tiểu thư con quan thủ khố cùng với nhiều người khác về sào huyệt của chúng. Đến nơi, chúng thả mọi người kia ra, song giữ lại cô gái có nhan sắc ấy để làm áp trại phu nhân của viên tướng cướp thủ lănh. Khi Bồ-tát biết việc này, ngài suy nghĩ: "Chắc nàng sẽ không chịu ở xa ta đâu. Nàng sẽ trốn về đây với ta". Thế rồi ngài vẫn ở đó chờ đợi nàng trở về. Trong lúc ấy nàng thấy rất hạnh phúc và được phỉ nguyện với bọn cướp kia, nên cứ nơm nớp lo sợ có ngày vị Hiền sĩ bán chà là đến bắt nàng đi về lần nữa. Nàng nghĩ thầm: "Ta sẽ được an lạc hơn nếu vị ấy chết đi. Vậy ta phải nhắn tin cho vị ấy giả vờ làm vẻ thương yêu để dụ vị ấy đến đây mà chịu chết cho xong". Sau đó nàng t́m cách đưa tin cho ngài biết là nàng đang khổ sở lắm, và nàng mong ước ngài đến cứu đi về. Ngài tin lời nàng, vội lên đường đến cổng làng của bọn cướp, nhắn tin cho nàng. Nàng bảo: - Bây giờ ta trốn đi chắc phải rơi vào tay tên thủ lănh và hắn giết ta thôi. Vậy ta hăy đợi đến nửa đêm rồi đào tẩu. Thế là nàng đem giấu ngài trong pḥng, vào nửa đêm tên cướp trở về nực nồng hơi rượu, nàng hỏi hắn: - Này lang quân, chàng sẽ làm ǵ nếu t́nh địch ở trong tay chàng? Hắn bảo sẽ làm thế này thế nọ đối với t́nh địch. Nàng bảo: - Có lẽ gă kia cũng không ở đâu xa xôi như chàng tưởng đâu. Hiện nó đang ở trong pḥng kế bên ấy. Cầm vội ngọn đuốc, tên cướp chạy vào chụp lấy Bồ-tát đánh đấm khắp ḿnh mẩy cho hả giận. Cam ḷng chịu đựng những cái đánh đấm kia, Bồ-tát không hề kêu than ǵ, mà chỉ th́ thầm: - Ôi phường vong ân bội nghĩa, thật là gian ác. Bọn lừa đảo điêu ngoa xảo trá thế là cùng. Ngài chỉ nói chứng ấy thôi. Sau khi đă đánh đập và trói chân Bồ-tát lại, tên cướp ăn uống xong liền nằm lăn ra ngủ. Sáng dậy, sau giấc ngủ tiêu tan hết cơn say sưa hồi hôm, tên cướp lại đánh đập Bồ-tát lần nữa, ngài cũng không kêu than ǵ, mà chỉ lặp lại mấy lời trên. Tên cướp ngạc nhiên trước chuyện này và hỏi lư do tại sao khi bị đánh đập, ngài cứ nói măi như thế. Hiền sĩ Chà Là đáp: |
http://1066.htm
No. 63. |
| - Này nghe đây, rồi người sẽ hiểu rơ. Trước kia ta là ẩn sĩ độc cư trong
rừng hoang, đă chứng đắc Thiền định Thắng trí. Sau đó, ta cứu người đàn bà
này ra khỏi sông Hằng và giúp đỡ nó đủ mọi nhu cầu, song đă bị nó quyến rủ
nên mất hết Thắng trí. Rồi ta từ bỏ rừng sâu, đem nó về làng sinh sống, từ
đó nó bị cướp mang đi. Nó lại nhắn tin cho ta là nó đang chịu khổ sở và xin
ta đến giải cứu nó. Nay nó đưa ta vào tay ngươi, v́ vậy ta cứ kêu lên như
thế đó. Nghe vậy, tên cướp bắt đầu suy nghĩ lại, hắn thầm nhủ: "Nếu cô ả chẳng chút thương tiếc một người tốt đă từng làm ơn cô ả nhiều như vậy, th́ ả sẽ không làm hại ta sao được? Ả phải chết!". Thế là sau khi an ủi Bồ-tát xong, hắn đánh thức cô ả dậy, vừa cầm kiếm trong tay, hắn vừa bảo rằng hắn sắp giết Bồ-tát ngoài cổng làng. Rồi bảo ả giữ chặt Hiền sĩ Chà Là, hắn tuốt kiếm ra, làm vẻ sắp giết ngài, nhưng lại chặt làm đôi cô ả đàn bà kia. Xong xuôi hắn tắm gội cho Bồ-tát sạch sẽ từ đầu đến chân và tiếp đăi ngài đủ món cao lương mỹ vị suốt mấy ngày liền cho thỏa thích. - Thế bây giờ ngài định đi đâu? Cuối cùng tướng cướp hỏi: - Trần thế chẳng có ǵ vui thú đối với ta cả, bậc hiền sĩ nói. Ta sẽ sống đời ẩn sĩ như xưa kia tại am thất cũ trong rừng. - Thế th́ kẻ hèn này cũng muốn làm ẩn sĩ. Như vậy cả hai đều trở thành ẩn sĩ sống tại am thất trong rừng kia, cùng đắc các Thắng trí và các Thiền chứng, cho đến khi mạng chung th́ thọ sanh lên Phạm thiên giới. * Kể câu chuyện ấy xong, bậc Đạo Sư nêu lên sự liên hệ giữa hai câu chuyện qua các vần kệ sau: Bọn nữ nhân đầy rẫy hận sân, Nói mồm hai lưỡi, bọn vong ân, Kẻ gieo chia rẽ, rồi gây chiến, Vậy hỡi Tỷ-kheo, hăy bước chân Thẳng tiến đường thanh cao chánh hạnh Rồi ngươi thấy Cực-lạc siêu trần. Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự thật. Lúc kết thúc bài giảng, vị Tỷ-kheo bị tham dục chi phối đắc quả Dự lưu. Và bậc Đạo Sư nhận diện Tiền thân: - Vào thời ấy, Ànanda là tướng cướp và Ta chính là Hiền sĩ Chà Là kia vậy. -ooOoo- (Contents) |
"Listen," said the Date-Sage, "and you shall hear. Once I was a hermit
dwelling in the solitude of the forest, and there I won Insight. And I
rescued this woman from the Ganges and helped her in her need, and by her
allurements fell from my high estate. Then I quitted the forest and
supported her in a village, whence she was carried off by robbers. And she
sent me a message that she was unhappy, entreating
me to come and take her away. Now she has made me fall into your hands. That
is why I thus exclaim." This set the robber a-thinking again, and he thought, "If she can feel so little for one who is so good and has done so much for her, what injury would she not do to me? She must die." So having reassured the Bodhisatta and having awakened the woman, he set out sword in hand, pretending to her that he was about to kill him outside the village. Then bidding her hold the Date-Sage he drew his sword, and, making as though to kill the sage, clove the woman in twain. Then he bathed the Date-Sage from head to foot and for several days fed him with dainties to his heart's content. "Where do you purpose to go now?" said the robber at last. "The world," answered the sage, "has no pleasures for me. I will become a hermit once more and dwell in my former habitation in the forest." "And I too will become a hermit," exclaimed the robber. So both became hermits together, and dwelt in the hermitage in the forest, where they won the Higher Knowledges and the Attainments, and qualified themselves when life ended to enter the Realm of Brahma. _____________________________ After telling these two stories, the Master chewed the connexion, by reciting, as Buddha, this stanza:-- Wrathful are women, slanderers, ingrates, The sowers of dissension and fell strife! Then, Brother, tread the path of holiness, And Bliss therein thou shalt not fail to find. [299] His lesson ended, the Master preached the Truths, at the close whereof the passion-tost Brother won the Fruit of the First Path. Also, the Master identified the Birth by saying, "Ānanda was the robber-chief of those days, and I myself the Date-Sage." -------------------------------------------------------------------------------- Footnotes 156:1 There is a play here upon the word takka, which cannot well be rendered in English. The word takka-pa ito, which I have rendered 'Date Sage,' would--by itself--mean 'Logic Sage,' whilst his living was got takkaṁ vikkinitvā 'by selling dates.' There is the further difficulty that the latter phrase may equally well mean by selling buttermilk.' |
| 64. CHUYỆN NGƯỜI VỢ KHÓ HIỂU (Tiền
thân Duràjàna) Chàng tưởng má hồng yêu mến chăng?... Câu chuyện này do bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một nam cư sĩ. Chuyện kể rằng thời ấy tại Xá-vệ có một nam cư sĩ thọ Tam quy và Ngũ giới, là một đệ tử thuần thành của Phật, Pháp, Tăng. Nhưng vợ người này là một nữ nhân độc ác, nham hiểm. Vào những ngày người vợ ấy phạm lỗi lầm, nàng nhu ḿ nhẫn nhục như một nữ tỳ được mua về với giá một trăm đồng tiền, c̣n những ngày nàng không phạm tội ǵ, th́ nàng lên mặt bà chủ nhà hay giận dữ và khắc nghiệt. Người chồng không sao hiểu nổi nàng. Nàng cứ làm khổ người chồng đến độ chàng không đến yết kiến đức Phật được. Một ngày kia, chàng mang hương hoa đến, sau khỉ đảnh lễ kính cẩn xong, chàng ngồi xuống th́ bậc Đạo Sư bảo: - Này nam cư sĩ, làm sao đă bảy tám ngày qua ông không đến hội kiến Như Lai? - Bạch Thế Tôn, vợ con có ngày th́ dễ bảo như một tỳ nữ mua về với giá một trăm đồng tiền, vào ngày khác th́ hay giận dữ khắt khe như một bà chủ. Con không làm sao hiểu vợ con được. Chính v́ vợ con làm phiền ḷng con đến độ con không đến hầu đức Thế Tôn lâu nay. Khi nghe người ấy nói vậy, bậc Đạo Sư bảo: - Này cư sĩ, ông đă được các bậc hiền trí từ xưa nói cho biết rằng thật khó hiểu được bản tính nữ nhân. Và Ngài nói thêm: - Nhưng v́ các tiền kiếp đă trở nên lẫn lộn trong trí ông nên ông không nhớ nổi. Nói vậy xong Ngài kể một câu chuyện quá khứ. * Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát làm một vị giáo sư danh tiếng lừng lẫy khắp nơi, với năm trăm thanh niên Bà-la-môn thọ giáo với ngài. Trong số đó có một thanh niên từ phương xa đến, chàng đă yêu một thiếu nữ và cưới người đó làm vợ. Dù chàng đang sống tại Ba-la-nại, chàng vẫn không thể nào đến hầu sư phụ trong hai ba lần liền, v́ vợ chàng là người đàn bà độc ác, hễ ngày nào phạm lỗi lầm th́ nàng ra vẻ nhu ḿ như một tỳ nữ, c̣n ngày nào không làm ǵ sai trái th́ nàng lên mặt một bà chủ hay nóng giận, khắc nghiệt. Chồng nàng không thể nào hiểu nổi tính nàng ra sao cả, và chán quá, bực ḿnh, khổ sở v́ nàng đến độ chàng không đến hầu hạ sư phụ. Bấy giờ, bảy tám ngày sau, chàng lại đến hội kiến ngài, và được Bồ-tát hỏi tại sao lâu nay vắng mặt. Chàng đáp: - Bạch sư phụ, nguyên nhân là tại vợ con. Rồi chàng kể cho Bồ-tát nghe, nàng đă nhu ḿ ra sao trong lúc làm vẻ như một tỳ nữ, lúc khác lại khắt khe chuyên quyền khiến chàng không sao hiểu nàng được. Và chàng quá phiền muộn khổ sở v́ tánh t́nh thất thường của nàng nên đă vắng mặt như thế. - Này cậu trai Bà-la-môn, rơ ràng như vậy, vào ngày lầm lỗi, đàm bà tỏ ra khúm núm trước mặt chồng ḿnh và nhẫn nhục như bọn tỳ nữ; c̣n ngày nào không lầm lỗi, họ tỏ ra cứng đầu bướng bỉnh với cả phu quân. Đàn bà độc ác nham hiểm như thế đấy, khó mà biết được bụng dạ họ ra sao. Vậy cậu không nên quan tâm đến những sở trường sở đoản của họ làm ǵ. Nói vậy xong, Bồ-tát ngâm kệ này để khích lệ đệ tử ngài: Chàng tưởng má hồng yêu mến chăng? Này chàng trai hỡi, chớ vui mừng! Tưởng là nàng chẳng yêu chàng nữa? Nhẫn nại mà thôi, chớ oán hờn. Ḷng dạ đàn bà ai hiểu được. Như bầy cá lội nước tung tăng! Đó là lời khuyến cáo của Bồ-tát đối với đệ tử ngài, nên từ đó chàng chẳng c̣n quan tâm đến tính thất thường của nàng nữa. C̣n nàng, khi nghe nói nết hạnh kém cỏi của ḿnh đă đến tai Bồ-tát, th́ nàng bỏ ngay thói hư tật xấu kia, không c̣n tái phạm. Phần người vợ của nam cư sĩ này tự nhủ: "Người ta bảo là đức Phật đă hiểu rơ thói hư tật xấu của ḿnh rồi!". Từ đó nàng không c̣n sai phạm lỗi lầm như trước kia. * Khi chấm dứt pháp thoại, bậc Đạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Đến lúc kết thúc bài giảng, vị nam cư sĩ đắc quả Dự lưu. Sau đó bậc Đạo Sư nêu liên hệ giữa hai chuyện và nhận diện Tiền thân: - Vào thời ấy hai vợ chồng kia là hai vợ chồng ngày nay, và Ta chính là vị giáo sư ấy. -ooOoo- (Contents) |
http://067.htm
No. 64. **
YouTube 4 English
** But his wife was a
sinful and wicked woman. On days when she did wrong, she was as meek as a
slave-girl bought for a hundred pieces; whilst on days when she did not do
wrong, she played my lady, passionate and tyrannical. The husband could not
make her out. She worried him so much that he did not go to wait on the
Buddha. And he went on to add "but his previous
existences have come to be confused in his mind, so that he cannot
remember." And so saying, he told this story of the past. |
| 65. CHUYỆN NỖI BẤT MĂN. (Tiền thân
Anabhirati)
***YouTube
4 *** |
http://w68.htm
No. 65. |
| 66. CHUYỆN HOÀNG HẬU TỪ TÂM (Tiền
thân Mudulakkhana) Trước thời ta được Từ tâm... Câu chuyện này được bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, về tính tham đắm ái dục. Chuyện kể rằng một thiện gia nam tử ở Xá-vệ, sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, liền thành tâm hướng về Tam Bảo. Vị ấy xuất gia sống đời Phạm hạnh, theo đúng Chánh đạo, thực hành Thiền định và không bao giờ xao lăng trầm tư đối với đề tài Thiền quán mà vị ấy đă chọn. Một ngày kia, trong lúc đang khất thực tại thành Xá-vệ, vị ấy chợt gặp một nữ nhân có nhan sắc quyết rủ, khiến vị ấy ham thích nên đă vi phạm giới luật tu hành là đưa mắt ngắm nàng! Dục tham bỗng khởi lên trong tâm vị ấy, khiến chẳng khác ǵ cây sung bị búa ŕu đốn ngă xuống đất. Từ ngày ấy, do dục tham chi phối, thâm tâm vị ấy đều mất hết sinh thú trong đời sống tu hành, cũng chẳng t́m được Pháp lạc, vị ấy chẳng khác ǵ một con thú hoang trong rừng, cứ để râu tóc, móng tay chân mọc dài ra dần và y phục bẩn thỉu hôi hám. Khi các vị đồng Phạm hạnh biết được tâm trạng khổ đau của vị ấy, liền bảo: - Này Hiền giả, tại sao tâm trí Hiền giả chẳng được như trước? Vị ấy đáp: - Niềm an lạc của ta đă mất rồi. Tăng chúng liền dẫn vị ấy đến yết kiến bậc Đạo Sư, ngài hỏi tại sao chúng Tăng dẫn vị Tỷ-kheo ấy đến dù vị ấy không muốn. - Bạch Thế Tôn, v́ niềm an lạc của vị ấy đă mất rồi. - Này Tỷ-kheo, có đúng vậy chăng? - Thưa vâng, bạch Thế Tôn. - Vậy ai đă khiến ông phải phiền năo? - Bạch Thế Tôn, trên đường đi khất thực, con đă vi phạm giới luật của bậc Thánh khi nh́n ngắm một nữ nhân, và tham dục khởi lên trong tâm con, v́ thế con sinh ra phiền năo. Bậc Đạo Sư liền bảo: - Này Tỷ-kheo, chẳng có ǵ lạ khi ông vi phạm giới luật v́ ham dục lạc, ông đă nh́n ngắm một đối tượng trái với giới luật và bị tham dục chi phối. Thuở xưa, ngay cả những bậc đă đắc năm Thắng trí và tám Thiền chứng, những bậc đă dập tắt dục tham nhờ uy lực của Thiền quán, tâm đă được thanh tịnh và đôi chân đă có thể rảo bước giữa không gian, ngay cả các vị Bồ-tát, mà chỉ v́ vi phạm giới luật khi nh́n ngắm một đối tượng ngoài thông lệ, nên phải để mất hết Thiền lực, tâm bị tham dục khuấy động và phải chịu đại phiền năo. Thế th́ trận cuồng phong đủ năng lực xô ngă núi Tu-Di có sá ǵ mà quan tâm đến một ngọn đoài trọc không lớn hơn con voi; cơn gió thổi mạnh làm bật gốc cây hồng đào vĩ đại có màng ǵ bụi cỏ bên vách đá; hay cơn gió càn quét khô cạn cả đại dương có kể ǵ đến cái ao bé tí kia chứ? Nếu tham dục có uy lực làm cuồng si tâm trí của các vị Bồ-tát đă giác ngộ và thanh tịnh, th́ làm sao tham dục lại phải nao núng trước ông kia chứ? Này, ngay cả những người đă thanh tịnh cũng bị tham dục làm lạc hướng và người đă đạt đến vinh quang tột đỉnh cũng phải chịu khổ nhục suy tàn. Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ. * Một thuở nọ khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào một gia đ́nh Bà-la-môn giàu có tại quốc độ Kàsi. Khi ngài trưởng thành và việc học vấn đă hoàn măn, ngài từ bỏ dục tham, xuất gia sống đời ẩn sĩ, đi vào chốn độc cư ở núi Tuyết Sơn. Tại đó, nhờ thành tựu các pháp môn đưa đến Thiền định, ngài đă đạt các Thắng trí và các Thiền chứng, và sống an vui như vậy trong Thiền lạc vi diệu. V́ thiếu muối và giấm, một ngày kia ngài vào Ba-la-nại, tại đó ngài đến cư trú trong ngự viên của nhà vua. Ngày kế tiếp, sau khi đă tắm rửa xong thân ḿnh, ngài xếp chiếc y bằng vỏ cây vẫn thường đắp, khoác lên vai tấm da linh dương màu đen, buộc các cuộn tóc rối thành một búi trên đỉnh đầu và mang đ̣n gánh với hai thúng trên lưng, ngài bắt đầu du hành để khất thực. Trên đường đi đến cổng hoàng cung, oai nghi của ngài khiến nhà vua thán phục và truyền mời ngài vào. Thế là vị ẩn sĩ được đặt lên một bảo tọa cực kỳ huy hoàng lộng lẫy và thết đăi mọi thứ cao lương mỹ vị. Khi ngài nói lời tùy hỷ công đức, ngài lại được mời đến cư ngụ ở hoa viên. Vị ẩn sĩ nhận lời mời và trong mười sáu năm liền sống ở hoa viên, thường thuyết giáo cho cả hoàng gia và thọ hưởng ngự thiện do vua cúng dường. Bấy giờ, một ngày kia vua phải ra chốn biên địa để dẹp loạn. Song trước khi khởi hành, vua ủy thác cho Hoàng hậu được mệnh danh là Từ Tâm, phải cung cấp các vật dụng cần thiết cho vị ẩn sĩ thanh tịnh kia. V́ vậy, sau khi vua ra đi, Bồ-tát vẫn thường đi đến cung điện khi ngài muốn. Một ngày kia hoàng hậu Từ Tâm đă chuẩn bị một bữa cơm dâng cúng Bồ-tát, nhưng v́ ngài đến muộn nên hoàng hậu vô pḥng tắm rửa. Sau khi tắm nước hoa xong, bà vận xiêm y hết sức lộng lẫy, và nằm xuống đợi ngài đến trên một bảo tọa nhỏ trong một khách sảnh rộng lớn. Khi vừa xuất khỏi Thiền định, thấy đă trễ giờ, Bồ-tát liền phi hành qua không gian để đến cung điện. Chợt nghe tiếng sột soạt của chiếc y bằng vỏ cây, hoàng hậu vội vă đứng dậy để đón tiếp ngài. Trong lúc vội vàng, chiếc y của hoàng hậu tuột xuống, để lộ mọi vẻ kiều diễm của bà trước mặt vị ẩn sĩ khi ngài vừa đến cửa. Thấy vậy, ngài bỗng ham thích chiêm ngưỡng sắc đẹp nữ nhân kỳ diện kia nên đă phạm Giới đức: Lửa dục nhen nhúm trong tâm ngài, khiến ngài giống như thân cây to bị chiếc ŕu đốn ngă. Lập tức ngài đánh mất Thiền lực, ngài chẳng khác ǵ con quạ bị cắt cụt đôi cánh. Ngài vẫn đứng yên tay nắm chặt thức ăn, nhưng ngài không ăn được mà bước ra đi, ***YouTube 5 *** toàn thân rung động v́ dục vọng, ngài trở về am thất trong vườn
hoa, nằm xuống trên sàng tọa bằng gỗ, và suốt bảy ngày liền chịu đói khát,
toàn thân bị siết chặt trong ṿng vây của sắc đẹp yêu kiều kia, nội tâm ngài
như bị lửa dục thiêu đốt bừng bừng. |
http://j1069.htm
No. 66. |
| 67. CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ THÔN QUÊ
(Tiền thân Ucchanga) T́m kiếm chồng con thật dễ dàng..., Câu chuyện này do Bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một người đàn bà ở thôn quê. Một thuở nọ, trong quốc lộ Kosala, có ba người đang cày ruộng ở ven rừng, cùng lúc, một bọn cướp phá hại dân chúng trong rừng xong và đang đào tẩu. Các nạn nhân chạy vào rừng t́m kiếm bọn vô lại nhưng hoài công, khi đến tận nơi ba người cày ruộng, họ la lên: - Đây là bọn sơn tặc giả dạng nông phu! Thế là họ kéo cả ba tội nhân đến tŕnh vua Kosala. Lúc bấy giờ có một người đàn bà đến cung vua khóc than kể lễ thảm thiết xin có được cái ǵ đó để che thân. Nghe tiếng kêu than, nhà vua ra lệnh ban cho người đàn bà ấy một tấm áo, nhưng nàng từ chối bảo rằng đấy không phải là thứ nàng muốn xin. V́ vậy thị nữ của vua trở lại tŕnh rằng người đàn bà ấy không cần áo quần mà cần một tấm chồng! Sau đó vua truyền đưa người đàn bà vào chầu và hỏi có phải nàng muốn kiếm chồng thật chăng. - Tâu Đại vương, đúng thế, người đàn bà đáp. V́ người chồng mới thực sự là vật che thân cho đàn bà, c̣n người đàn bà nào không có chồng th́ dù cho nàng ấy mặc áo quần đáng giá cả ngàn đồng tiền, cũng chẳng khác ǵ ḿnh trần thân trụi! Và để làm cho lư lẽ này thêm vững mạnh, nàng lại ngâm câu tục ngữ này: Khác nào đất nước v́ vua, Chẳng khác ḍng sông suối cạn khô, Cũng vậy ḿnh trần thân lại trụi V́ không tùng trúc cạnh đào tơ! Nh́n xem quả thật nàng trơ trọi Dù co mười anh ruột một nhà! Vua hài ḷng với lời giải đáp của người đàn bà, nên vua hỏi mối liên hệ giữa nàng với ba tội nhân kia ra sao. Nàng đáp rằng, một người là chồng nàng, một người là con trai nàng. - Này, hăy nhận lấy một đặc ân của trẫm, vua bảo, trẫm sẽ ban cho nàng một trong ba người ấy, nàng chọn người nào? - Tâu Đại vương, nàng đáp, nếu tiện thiếp c̣n sống, tiện thiếp có thể lấy chồng khác sinh con khác; song nay cha mẹ thiếp đă mất rồi, chẳng bao giờ thiếp có anh em nào khác nữa. Vậy tâu Đại vương, thiếp xin chọn người anh. Nhà vua đẹp ư với nàng, bèn thả cả ba người, vậy chính người đàn bà này là phương tiện cứu nguy cho ba người đàn ông. Khi Tăng chúng biết được chuyện này, liền khen ngợi người đàn bà kia trong pháp đường th́ bậc Đạo Sư bước vào. Ngài hỏi Tăng chúng đang bàn luận vấn đề ǵ và được kể như trên; Ngài bảo: - Đây không phải là lần đầu tiên, này các Tỷ-kheo, người đàn bà này cứu nguy cho ba mạng sống ấy, mà ngày xưa cũng vậy. Nói xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ. * Một thuở nọ khi vua Brahamadatta trị v́ ở Ba-la-nại, ba người đàn ông cày ruộng ở ven rừng và mọi chuyện xảy ra như chuyện trên. Khi được vua hỏi muốn chọn người nào trong ba người, nàng đáp: - Tâu Đại vương, Đại vương có thể gia ân ban cho tiện thiếp cả ba người chăng? Vua đáp: - Không, trẫm không thể. - Vậy tâu Đại vương, nếu tiện thiếp không thể xin tha cả ba, th́ mong Đại vương ban cho thiếp người anh trai. Vua đáp: - Hăy nhận lấy người chồng hay con trai của nàng đi, chứ anh trai th́ có quan hệ ǵ? Người đàn bà đáp: - Hai người kia có thể thay thế được, chứ anh trai th́ không bao giờ có nữa. Nói vậy xong, nàng lại ngâm khúc hát: T́m kiếm chồng con thật dễ dàng, Tha hồ chọn chúng, đứng đầy đường, Song t́m đâu được người anh nữa, Dù khổ đau cho đến đoạn trường? Vua đẹp ư, phán: - Nàng ấy nói chí lư! Vua bèn ra lệnh đưa ba người đàn ông kia từ ngục thất đến giao cho người đàn bà, nàng liền đưa cả ba người ra về. - Như vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư bảo, chính người đàn bà này thuở xưa kia đă có lần cứu mạng cho cả ba người đàn ông. * Khi pháp thoại chấm dứt, Ngài nêu sự liên hệ giữa hai chuyện và nhận diện Tiền thân: - Người đàn bà và ba người đàn ông ngày nay cũng là người đàn bà và ba người đàn ông ngày trước và Ta chính là vua ấy. -ooOoo- (Contents) |
http://wj1/j1070.htm
No. 67. |
|
http://kinhtieubo4-12.htm
120. CHUYỆN GIẢI THOÁT SỰ TRÓI BUỘC (Tiền thân Bandhanamokkha)
***YouTube
6 *** |
http://j1/j1123.htm
No. 120. |
|
- Thưa đại vương, tôi sinh ra trong gia đ́nh Bà-la-môn thượng lưu. Từ trước
đến nay, tôi không sát sanh ngay cả một con kiến. Từ trước đến nay, tôi
không lấy của không cho, ngay cả một cọng cỏ. từ trước đến nay, tôi không
nh́n đến một nữ nhân của người khác với con mắt luyến ái, dù chỉ một cái
liếc mắt đưa t́nh. Từ trước đến nay, tôi không nói một lời nói dối, dầu chỉ
để đùa vui. Tôi không có uống rượu, dù chỉ một giọt bằng ngọn cỏ Kusa. Tôi
hoàn toàn vô tội đối với đại vương. Nhưng hoàng hậu độc ác kia đă cầm tay
tôi với tâm tư đầy dục vọng, nói toạc cho tôi biết ác hạnh bí mật của ḿnh
trước khi đi vào cung pḥng. Trước tôi đă có sáu mươi bốn người sứ giả đến
đÂy, đem theo thông điệp của đại vương gửi hoàng hậu, những người ấy đều có
tội. Hăy gọi họ đến đây và hỏi từng người trong bọn họ có làm như hoàng hậu
đă bảo hay không.
(Contents) |
"Sire," answered the Bodhisatta, "I was born a brahmin, and have never taken
the life so much as of an emmet or ant. I have never taken what was not my
own, even to a blade of grass. Never have I looked with lustful eyes upon
another man's wife. Not even in jest have I spoken falsely, and not a drop
of strong drink have I ever drunk. Innocent am I, sire; but that wicked
woman took me lustfully by the hand, and, being rebuffed, threatened me, nor
did she retire to her chamber before she had told me her secret evil-doing.
For there were sixty-four messengers who came with letters from you to the
queen. Send for these men and ask each whether he did as the queen bade him
or not." Then the king had the sixty-four men bound and sent for the queen.
And she confessed to having had guilty converse with the men. Then the king
ordered off all the sixty-four to be beheaded. "Sire, the baseless
accusations of folly put the wise in unmerited bonds, but the words of the
wise released the foolish. Thus folly wrongfully binds, and wisdom sets free
from bonds." So saying, he uttered this stanza:--
When he had taught the king the Truth in these verses, he exclaimed, "All
this trouble sprang from my living a lay life. I must change my mode of
life, and crave your permission, sire, to give up the world." And with the
king's permission he gave up the world and quitted his tearful relations and
his great wealth to become a recluse. His dwelling was in the Himalayas, and
there he won the Higher Knowledges and the Attainments and became destined
to rebirth in the Brahma Realm.
|
| Phẩm XIV -ooOoo- Tập Ba Mươi Kệ
(LXXI) Subhà ở Rừng Xoài của Jivaka (Theŕ. 150) |
http://wws19.htm#LXXI
CANTO XIV |
| 366. Trong rừng xoài tươi đẹp, Của ông Jivaka, Tỷ-kheo-ni Subhà, Đang bộ hành đi tới, Có chàng trẻ ăn chơi Ngăn chặn Subhà lại Nàng nói lên người ấy Những lời nói như sau. 367. Ta đă xúc phạm ǵ, Để chàng đứng chận tôi? Thật là không xứng đáng Để một người đàn ông Xúc phạm nữ xuất gia, Hỡi Hiền giả, hiểu cho. 368. Bậc Tôn sư ta dạy, Chính học pháp như vậy, Được bậc Thiện Thệ thuyết, Là con đường thanh tịnh, Không có cấu uế nào. Sao chàng đứng chận ta. 369. Tâm ta thật thanh tịnh, Tâm người không thanh tịnh, Tâm người đầy tham ái, Ta không tham, không uế, Mọi nơi, ư giải thoát Sao chàng đứng chận ta? 370. Nàng trẻ, không ác pháp, Nàng xuất gia làm ǵ? Hăy bỏ áo Cà sa! Đến, lạc hưởng rừng hoa. 371. Toàn hoa tỏa hương ngạt, Cây rưới bụi muôn hoa, Xem tuổi xuân tuổi trẻ, Là thời tiết hạnh phúc, Hăy đến thọ hưởng lạc Trong rừng nở trăm hoa. 372. Con đường dưới ṿm hoa, Xào xạc gió lay động, Nàng được lạc thú ǵ, Khi một ḿnh vào rừng. 373. Trú xứ chúng thú dữ, Vang tiếng voi rống dục, Rừng lớn trống không người, Nhiều hiện tượng hăi hùng, Nàng lại muốn đi vào, Không một ai bạn đường? 374. Như búp bê vàng chói, Giống tiên nữ vườn trời, Nàng đắp vải Kàsi, Đẹp mịn, sáng chói nàng. 375. Ta sống nô lệ nàng, Nếu nàng sống ở rừng, Không một sanh loại nào, Mà ta yêu hơn nàng, Hỡi nàng mắt dịu hiền, Như mắt Kin-na-ŕ. 376. Nếu nàng theo lời ta, Nàng sẽ được hạnh phúc, Hạnh phúc sống gia đ́nh, Sống lâu đài che gió, Sống có các nữ nhân, Hầu hạ phục vụ nàng. 377. Mang lụa mịn Kàsi, Dùng ṿng hoa, sáp đỏ, Ta làm nhiều trang sức, Vàng châu báu ngọc ngà. ***YouTube 7 *** 378. Nàng leo lên giường quư, Gỗ chiên đàn, lỏi thơm, Che màn đẹp tinh sạch, Trải nệm mới lông dài. 379. Như sen vươn từ nước, Phục vụ cho phi nhân, Như vậy nàng Phạm hạnh, Sống toàn hảo đến già. 380. Ở đây là cái ǵ, Chàng xem là tuyệt diệu, Trong nghĩa địa ứ đầy, Tràn đầy những thân xác, Chàng được thấy cái ǵ, Trong thân xác hủy hoại, Khi chàng thốt ra lời, Si mê, vô ư thức? 381. Chính mắt như sơn dương, Như Kinri giữa rừng, Ta thấy con mắt nàng, Dục lạc liền tăng trưởng. 382. Trong gương mặt không uế, Sáng chói như vàng ṛng, Chẳng khác ǵ hoa sen, Đặt chính giữa đài sen, Thấy con mắt của nàng, Ḷng dục liền tăng trưởng. 383. Tuy xa ta vẫn nhớ, Lông mi dài tuyệt đẹp, Không ǵ ta yêu hơn, Mắt Kinri của nàng. 384. Chàng muốn dùng phi đạo, T́m mặt trăng mà chơi, Muốn nhảy qua Mê-ru, Muốn t́m đến con Phật. 385. Trên đời này, cơi trời, Ta nay không tham ái. Ta không biết người ấy, Người ấy như thế nào, Đường đạo đă giết sạch, Giết hại tận gốc rễ. 386. Quăng đi như hố than, Than hừng đang cháy đỏ, Đánh giá như thuốc độc, Đang xâm nhập đến thân, Ta không biết người ấy, Người ấy như thế nào, Đường đạo đă giết sạch, Giết hại đến gốc rễ. 387. Hăy cám dỗ nữ nhân, Không có biết quán sát, Hay Đạo Sư người ấy, Đang c̣n phải học tập, Chàng mê hoặc người ấy, Làm hại được người ấy. 388. C̣n ta đă chánh niệm, Đối khen chê lạc khổ, Biết hữu vi bất tịnh, Bám chặt tư tưởng ấy. 389. Ta là đệ tử Ni, Của bậc đại Thiện Thệ, Ta đă dấn thân bước Trên đường đạo tám ngành, Mũi tên đă nhổ lên Không c̣n các lậu hoặc, Ta đi đến nhà trống, Tâm tư ta hoan hỷ. 390. Ta đă được thấy nó, Một búp bê khéo vẽ, Với trục quay gỗ mới, Khéo cột với dây que, Búp bê ấy nhảy múa, Nhiều điệu múa khác nhau. 391. Dây que ấy được rút, Mở ḷng rời phân tán, Thành trống không, miếng nhỏ, Chỗ nào ư say đắm. 392. Thân ta ví dụ vậy, Không bộ phận không động. Không bộ phận, không động. Chỗ này ư say đắm. 393. Như thấy một bức vẽ, Tô màu đỏ trên tường, Cái thấy chàng đảo lộn, V́ trí người thiếu sót. 394. ảo thuật xem tối thượng, Như cây vàng trong mộng, Mù ḷa ngươi chạy theo, Cái trống không, không thực, Như cái tṛ múa rối, Được xem giữa quần chúng. 395. Mắt nàng như ḥn bi, Đặt lỗ trống của cây, Như những bong bóng nước, Đầy dẫy những nước mát, Những con người đa dạng, Sanh ra những mủ ghèn. 396. Thiếu nữ đẹp tuyệt ấy, Với tâm không chấp trước, Bóc một con mắt nàng. Trao liền cho người ấy, Và nói hăy cầm lấy, Con mắt này của người. 397. Khi ấy tham liền diệt, Chàng khẩn cầu xin lỗi, Mong rằng Phạm hạnh ni, Được an ổn trở lại, Tôi sẽ không c̣n dám, Xâm phạm thế này nữa. 398. Hai hạng người thế này, Chẳng khác ôm lửa hừng, Tôi như nắm rắn độc, Mong an ổn tha thứ. 399. Thoát khỏi bị xúc phạm, Vị Tỷ-kheo-ni ấy, Từ đấy đi đến gần Bậc Giác ngộ thù thắng, Thấy được tướng công đức, Tốt đẹp và thù thắng, Mắt của nàng hồi phục, Được trở lại như xưa. [ ^ ] (Contents) -------------------------------------------------------------------------------- |
'What have I done to offend thee, that thus in my path thou comest? No man, O friend, it beseemeth to touch a Sister in Orders. (367) So hath my Master ordained in the precepts we honour and follow; So hath the Welcome One taught in the training wherein they have trained me, Purified discipline holy. Why standest thou blocking my pathway? (368) Me pure, thou impure of heart; me passionless, thou of vile passions; Me who as to the whole of me freed am in spirit and blameless, Me whence comes it that Thou dost hinder, standing obnoxious?' (369) 'Young art thou, maiden, and faultless–what seekest thou in the holy life? Cast off that yellow-hued raiment and come! in the blossoming woodland Seek we our pleasure. Filled with the incense of blossoms the trees waft (370) Sweetness. See, the spring's at the prime, the season of happiness! Come with me then to the flowering woodland, and seek we our pleasure. (371) Sweet overhead is the sough of the blossoming crests of the forest Swayed by the Wind-gods. But an thou goest alone in the jungle, Lost in its depths, how wilt thou find aught to delight or content thee? (372) Haunted is the great forest with many a herd of wild creatures, Broken its peace by the tramplings of elephants rutting and savage. Empty of mankind and fearsome 390 –is't there thou would'st go uncompanioned? (373) Thou like a gold-wrought statue, like nymph in celestial garden Movest, O peerless creature. Radiant would shine thy loveliness Robed in raiment of beauty, diaphanous gear of Benares. (374) I would live but to serve thee, an thou would'st abide in the woodland. Dearer and sweeter to me than art thou in the world is no creature, Thou with the languid and slow-moving eyes of an elf of the forest. (375) If thou wilt list to me, come where the joys of the sheltered life 391 wait thee: Dwell in a house of verandas and terraces, handmaidens serving thee. (376) Robe thyself in delicate gear of Benares, don garlands, use unguents. Ornaments many and divers I give to thee, fashioned with precious stones, Gold work and pearls. And thou shalt mount on a couch fair and sumptuous, (377) Carvèd in sandalwood, fragrant with essences, spread with new pillows, Coverlets fleecy and soft, and decked with immaculate canopies. (378) Like to a lotus upborne on the bosom of sprite-haunted water, Thou, O chaste anchorite, farest to old age, thy beauty unmated.' (379) 'What now to thee, in this carrion-filled, grave-filling carcass so fragile Seen by thee, seemeth to warrant the doctrine thou speakest, infatuate?' (380) 'Eyes hast thou like the gazelle's, like an elf's in the heart of the mountains– 'Tis those eyes of thee, sight of which feedeth the depth of my passion. (381) Shrined in thy dazzling, immaculate face as in calyx of lotus, 'Tis those eyes of thee, sight of which feedeth the strength of my passion. (382) Though thou be far from me, how could I ever forget thee, O maiden, Thee of the long-drawn eyelashes, thee of the eyes so miraculous? Dearer to me than those orbs is naught, O thou witching-eyed fairy!' (383) 'Lo! thou art wanting to walk where no path is; thou seekest to capture Moon from the skies for thy play; thou would'st jump o'er the ridges of Meru, 392 Thou who presumest to lie in wait for a child of the Buddha! (384) Nowhere in earth or in heaven lives now any object of lust for me. Him I know not. What like is he? Slain, root and branch, through the Noble Path. (385) Hurled as live coal from the hand, and rated as deadly as poison-cup, Him I see not. What like is he? Slain, root and branch, through the Noble Path. (386) Tempt thou some woman who hath not discerned what I say, or whose teacher Is but a learner; haply she'll listen; tempt thou not Subhā; She understandeth. And now 'tis thyself hast vexation and failure. (387) For I have set my mind to be watchful in whatso befalls me– Blame or honour, gladness or sorrow–and knowing the principle:– 'Foul are all composite things,' nowhere the mind of me clings to them. (388) Yea, the disciple am I of the Welcome One; onward the march of me Riding the Car of the Road that is Eightfold. Drawn are the arrows Out of my wounds, and purged is my spirit of drugging Intoxicants. So I am come to haunts that are Empty. 393 There lies my pleasure. (389) Oh! I have seen it–a puppet well painted, with new wooden spindles, Cunningly fastened with strings and with pins, and diversely dancing. (390) But if the strings and the pins be all drawn out and loosened and scattered, So that the puppet be made non-existent and broken in pieces, Which of the parts wilt thou choose and appoint for thy heart's rest and solace? (391) Such is the manner wherein persist these poor little bodies: Take away members and attributes–nothing surviveth in any wise. Nothing surviveth! Which dost thou choose for thy heart's rest and solace? (392) E'en as a fresco one sees drawn on a wall, painted in ochre, [Giveth us naught of the true and the real, save in the seeming ;] 394 Thou herein with vision perverted [canst not distinguish; Judgest with] wisdom of average human, fallible, worthless. (393) O thou art blind! thou chasest a sham, deluded by puppet shows Seen in the midst of the crowd; thou deemest of value and genuine Conjurer's trickwork, trees all of gold that we see in our dreaming. (394) What is this eye but a little ball lodged in the fork of a hollow tree, Bubble of film, anointed with tear-brine, exuding slime-drops, Compost wrought in the shape of an eye of manifold aspects?' 395 (395) Forthwith the maiden so lovely tore out her eye and gave it him: 'èHere, then! take thou thine eye!' Nor sinned she, her heart unobstructed. (396) Straightway the lust in him ceasèd and he her pardon imploring: 'O that thou mightest recover thy sight, thou maid pure and holy! Never again will I dare to offend thee after this fashion. (397) Sore hast thou smitten my sin; blazing flames have I clasped to my bosom; Poisonous snake have I handled–but O! be thou heal'd and forgive me!' (398) Freed from molesting, the Bhikkhunī went on her way to the Buddha, Chief of th' Awakened. There in his presence, seeing those features Born of uttermost merit, straightway her sight was restored to her. (399) 'Sweet overhead is the sough of the blossoming crests of the forest Swayed by the wind-gods. To face p. 150. 388 Jīvakā Komārabhacca, physician to King Bimbisāra at the court of Rājagaha, is a very prominent layman in the first chronicles of the Order, prescribing for its members on different occasions. See Vinaya Texts (S.B.E.), i. 191, ii. 173 ſſ., iii. 102; Majjh. Nik., i. 368 ſſ.; Dīgha Nik., i. 49 (Dialogues, i. 67), in which the Grove is mentioned. 389 The metre now changes from śloka to that termed vetālīya, or, at least, to a metre which in later literature became formulated under that name. It runs approximately thus ('What have I,' etc.): ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ ˘ _ _ _ _ _ _ || _ _ _ _ _ _ K i n t e a p a r ā d h i t a n m a y ā y a n m a ŋ o v a r i y ā n a t i t t h a s i ? ˘ ˘ _ ˘ ˘ _ ˘ ˘ _ || ˘ ˘ _ _ _ ˘ _ ˘ _ ˘ ˘ N a h i p a b b a j i t ā y a , ā v u s o , p u r i s o s a m p h u s s a n ā y a k a p p a t i . 390 'Although,' remarks the Commentator, 'in that wood there was then nothing of the sort. But this he said, wishing to make her afraid.' 391 Lit., 'Come, dwell in a house.' 392 The mythical central mountain of the universe, called also Sineru. 393 Suṇṇa, for the earnest Buddhist, connoting both solitude and the ejection of the Ego-delusion. Cf. Ps. xxxi. 46. 394 I have filled up the somewhat elliptical style of the text from the Commentary. 395 Cf. Balzac's philosophe: 'Tiens,' dit-il, en voyant les pleurs de sa femme, 'j'ai décomposé les larmes. Elles contiennent un peu de phosphate, de chaux, de chlorure de sodium, du mucus et de l'eau.' –La Recherche de l'Absolu. |
|
http://www.buddhanet.net
193. CHUYỆN HOÀNG TỬ LIÊN HOA (Tiền thân Cullapaduma) Bồ-tát nghe tiếng than đau thương bi ai của nó, liền đi đến bờ sông Hằng,
kéo nó lên bờ, dắt nó đến am thất, và xức thuốc chữa trị vết thương. Người
vợ nói:
|
http://2046.htm
No. 193 1. |
|
***YouTube 9 *** 194. CHUYỆN KẺ TRỘM NGỌC (Tiền thân Manicora) Không có Thiên thần nào..., Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm, bậc Đạo Sư kể về Đề-bà-đạt-đa muốn sát hại ḿnh. Khi nghe Đề-bà-đạt-đa đang âm mưu sát hại ḿnh, bậc Đạo Sư nói: - Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay mà thuở xưa cũng vậy, Đề-bà-đạt-đa đă âm mưu sát hại ta. Nhưng kẻ ấy cũng không có thể làm như vậy được. Nói vậy xong, bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ * Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đ́nh của một gia chủ tại một ngôi làng nhỏ không xa Ba-la-nại bao nhiêu. Khi Bồ-tát đến tuổi trưởng thành, người ta đi cưới con gái của một gia đ́nh từ Ba-la-nại về gả cho Bồ-tát. Nàng dễ thương, xinh đẹp, mỹ lệ giống như Thiên nữ, yểu điệu giống như cây leo nở hoa, yêu kiều như con chim thần Kinnàri, có tên là Sujàta. Nàng thủy chung, có giới hạnh, luôn luôn làm tṛn bổn phận đối với chồng. Nàng được Bồ-tát thương mến và quư trọng, v́ vậy cả hai sống với nhau hoan hỷ, đồng tâm, và thuận ḥa. Một hôm Sujàtà thưa với Bồ-tát: - Em muốn về thăm cha mẹ em. - Lành thay, hiền thê. Hăy chuẩn bị thật đầy đủ lương thực đi đường. Rồi Bồ-tát bảo nấu đủ loại đồ ăn và sắp đặt các lương thực đi đường. Chuẩn bị xong, Bồ-tát ngồi phía trước đánh xe, c̣n vợ ngồi phía sau. Cả hai đi đến gần thành Ba-la-nại, tháo đôi ḅ khỏi xe, tắm rửa và ăn uống. Rồi Bồ-tát cột ḅ vào xe lại và ngồi phía trước, c̣n Sujàtà đă thay áo, trang điểm, và ngồi phía sau. Khi cỗ xe đi vào thành, vua Ba-la-nại ngồi trên lưng con voi đẹp, đang đi xung quanh thành và đến chỗ ấy. Sujàtà vừa xuống xe và đi bộ sau xe. Vua thấy nàng, sanh tâm luyến ái, bảo một vị cận thần đi theo ḍ hỏi nàng đă có chồng, và về tâu với vua: - Thần nghe nàng ấy đă có chồng, và chồng nàng đang ngồi phía trước xe. Vua không thể chế ngự tâm ái luyến của ḿnh, và tham dục đă tràn ngập trong ḷng, vua suy nghĩ: "Với mọi phương tiện, ta sẽ giết tên này và lấy nữ nhân". Vua gọi một người và bảo: - Này người kia, hăy cầm lấy viên ngọc này, giả bộ đang đi trên đường, rồi bỏ rơi ḥn ngọc trong xe của người ấy. Nói vậy xong, vua giao cho anh ta một ḥn ngọc, và thúc giục anh ta đi. Người ấy vâng lời lấy ḥn ngọc, đi đến thả nó vào trong xe rồi trở về thưa: - Thưa Thiên tử, tôi đă thả ḥn ngọc xong. Vua la lớn: - Ta đă mất một ḥn ngọc! Mọi người làm ầm ĩ lên và vua ra lệnh: - Hăy đóng tất cả, cắt đứt mọi đường đi ra, và bắt tên ăn trộm. Các người hầu vua làm theo đúng lệnh. C̣n người kia đem theo một số người, đi gần đến Bồ-tát và nói: - Này ông, hăy để xe lại. Vua mất ḥn ngọc trên vương miện. Chúng tôi phải khám xe của ông. Anh ta khám xe, lấy ḥn ngọc mà chính anh ta đă bỏ rơi vào, rồi bảo Bồ-tát là kẻ ăn cắp ḥn ngọc, lấy tay chân đánh đá ngài, cột ngài ra đàng sau, dẫn đến tŕnh vua và thưa: - Hăy xem đây là tên trộm ḥn ngọc! Vua ra lệnh: - Hăy chặt đầu nó! Các người của vua tại các ngă tư đường, đánh Bồ-tát bằng roi, rồi dẫn ngài ra ngoại thành qua cửa phía nam. Bấy giờ Sujàtà bỏ xe, giơ tay lên trời than khóc chạy theo chồng: - Ôi chồng tôi! V́ tôi mà chồng tôi phải chịu cảnh đau khổ này! Nàng đi theo và khóc than như vậy. Các người hầu của vua bắt Bồ-tát nằm ngửa với ư định chặt đầu ngài. Thấy vậy, Sujàtà nghĩ đến công đức giới hạnh của ḿnh và nói thầm: "Ta chắc rằng trong đời này không vị Thiên thần nào có khả năng chận đứng bàn tay những người độc ác dă man làm hại những người có giới hạnh". Rồi nàng than khóc và đọc bài kệ đầu: Không có Thiên thần nào, Chắc các ngài đi vắng, Có lẽ không một ai. Bảo vệ cơi đời này Kẻ bạo ngược hung hăn Muốn làm ǵ th́ làm, Có lẽ không một ai Chận đứng được bọn chúng! V́ nàng là người có giới hạnh than khóc như vậy nên chiếc ngai của Thiên chủ Đế Thích trở thành nóng. Đế Thích nghĩ: "Ai lại muốn ta rời khỏi ngôi vị Thiên chủ của ta đây?". Rồi Đế Thích xem xét địa giới, biết sự việc đă xảy ra và nói: - Vua Ba-la-nại đang làm một điều thật ác độc, khiến cho Sujàtà có giới hạnh phải đau đớn. Nay ta cần phải đi xuống đó! Đế Thích từ thiên giới đi xuống, với thần lực của ḿnh bắt ông vua độc ác đang ngồi trên lưng voi phải rời khỏi voi và đặt vua nằm ngửa tại chỗ hành quyết thay Bồ-tát. Rồi Đế Thích đỡ Bồ-tát dậy, trang điểm ngài với mọi thứ đồ trang sức, rồi mặc áo mũ của vua, và đặt ngài ngồi trên lưng voi của vua. Quân hầu của vua giơ cao búa lên chém đầu. Khi chém xong, họ mới biết là đầu của vua! Thiên chủ Đế Thích hiện h́nh có thể thấy được, đi đến Bồ-tát, làm lễ quán đảnh cho ngài và đặt Sujàtà lên ngôi hoàng hậu. Các vị đại thần và các Bà-la-môn gia chủ v.v... thấy Thiên chủ Đế Thích, sung sướng nói: - Vua phi pháp đă bị giết, chúng ta nay được vua đúng pháp do Đế Thích ban cho chúng ta! Đế Thích đứng giữa hư không nói: - Đây là vua của các ngươi do Đế Thích ban cho. Bắt đầu từ nay, vua ấy sẽ trị v́ quốc độ đúng pháp. Nếu vua làm việc phi pháp, trời sẽ mưa phi thời, đúng thời trời không mưa, và có ba tai nạn về đói, về bệnh, về chiến tranh. Ba tai nạn này sẽ đến cho dân chúng v́ vua ác. Rồi Đế Thích thuyết giáo họ với bài kệ thứ hai: Với nó, mưa phi thời, Đúng thời, trời không mưa, Từ trời, vua xuống đất, Hăy nh́n rơ nguyên nhân Kẻ này đă bị giết. Như vậy, Đế Thích thuyết giáo đại quần chúng xong, liền trở về cơi thiên của ḿnh. C̣n Bồ-tát trị nước đúng pháp và về sau đi lên thiên giới làm đông đảo hội chúng chư Thiên. * Sau khi kể Pháp thoại này, bậc Đạo Sư nhận diện Tiền thân: - Thời ấy, vua phi thời là Đề-bà-lạt-đa. Đế Thích là A-na-luật-đà, Sujàtà là mẹ của La-hầu-la (Ràhulamàtà), c̣n vị vua do Đế Thích đặt lên ngôi là Ta vậy. -ooOoo- |
No. 194. MAṆICORA-JĀTAKA. "Ye gods are here," etc.--This story the Master told during a stay in Veḷuvana, how Devadatta tried to kill hips. Hearing that Devadatta went about to kill him, he said, "Brethren, this is not the only time that Devadatta has been trying to kill me; he tried to do so before, and failed." Then he told them this story. _____________________________ Once upon a time Brahmadatta was reigning in Benares, when the Bodhisatta came to life as the son of a householder who lived in a village not far from the city. When he came to years, they fetched a young lady of family from Benares to marry him. She was a fair and lovely maiden, beautiful as a nymph divine, graceful like a twining creeper, ravishing as a sylph. Her name was Sujātā; she was faithful, virtuous, and dutiful. She always did duly her devoir to her lord and his parents. This girl was very dear and precious to the Bodhisatta. [122] So they two dwelt together in joy, and unity, and oneness of mind. On a day Sujātā said to her husband, "I have a wish to see my mother and father." "Very good, my wife," replied he; "make ready food sufficient for the journey." He caused food of all sorts to be cooked, and placed the provisions in a waggon; since he drove the vehicle, he sat in front, and his wife behind. To Benares they went; and there they unyoked the waggon, and washed, and ate. Then the Bodhisatta yoked the oxen p. 86 again, and sat in front; and Sujātā, who had changed her dress and adorned herself, sat behind. As the waggon entered the city, the king of Benares happened to he making a solemn circuit round the place mounted upon the back of a splendid elephant; and he passed by that place. Sujātā had come down out of the cart, and was walking behind on foot. The king saw her: her beauty so attracted his eye, that he became enamoured of her. He called one of his suite. "Go," said he, "and find out whether yon woman has a husband or no." The man did as he was bid, and came back to tell the king. "She has a husband, I am told," said he; "do you see that man sitting in the cart yonder? He is her husband." The king could not smother his passion, and sin entered into his mind. "I will find some way of getting rid of this fellow," thought he, "and then I will take the wife myself." Calling to a man, he said, "Here, my good fellow, take this jewelled crest, and make as though you were passing down the street. As you go, drop it in the waggon of yonder man." So saying, he gave him a jewelled crest, and dismissed him. The man took it, and went; as he passed the waggon, he dropped it in; then he returned, and reported to the king that it was done. "I have lost a jewelled crest!" cried the king: the whole place was in an uproar. "Shut all the gates!" the king gave order: "cut off the outlets! hunt the thief!" The king's followers obeyed. The city was all confusion! The other man, taking some others with him, went up to the Bodhisatta, crying--"Hullo! stop your cart! [123] the king has lost a jewelled crest; we must search your cart! "And search it he did, till he found the jewel which he had put there himself. "Thief!" cried he, seizing the Bodhisatta; they beat him and kicked him; then binding his arms behind him they dragged him before the king, crying out--"See the thief who stole your jewel!" "Off with his head!" was the king's command. They scourged him with whips, and tormented him at every street corner, and cast him out of the city by the south gates. Now Sujātā left the waggon, and stretching out her arms she ran after him, wailing as she went--"O my husband, it is I who brought you into this woful plight!" The king's servants threw the Bodhisatta upon his back, with the intent to cut off his head. When she saw this, Sujātā thought upon her own goodness and virtue, reflecting thus within herself; "I suppose there can be no spirit here strong enough to stay the hand of cruel and wicked men, who work mischief to the virtuous"; and weeping and wailing she repeated the first stanza:-- "No gods are here: they must be far away;-- No gods, who over all the world hold sway: Now wild and violent men may work their will, For here is no one who could say them nay." p. 87 As this virtuous woman thus lamented, the throne of Sakka 1, king of the Gods, grew hot as he sat upon it. [124] "Who is it that would make me fall from my godhead?" thought Sakka. Then he was ware of what was befalling. "The king of Benares," he thought, "is doing a very cruel deed. He is making the virtuous Sujātā miserable; now I must go thither!" So descending from the godworld, by his own power he dismounted the wicked king from the elephant on whose back he was riding, and laid him upon his back in the place of execution, but the Bodhisatta he caught up, and decked him with all kinds of ornaments, and made the king's dress come upon him, and set him on the back of the king's elephant. The servants lifted the axe and smote off a head--but it was the king's head; and when it was off, they knew that it was the head of the king. Sakka took upon him a visible body, and came before the Bodhisatta, and consecrated him to be king; and caused the place of chief queen to be given to Sujātā. And as the courtiers, the brahmins and householders, and the rest, saw Sakka, king of the gods, they rejoiced, saying, "The unrighteous king is slain! now have we received from the hands of Sakka a king who is righteous!" And Sakka stood poised in the air, and declared, "This your righteous king from this time forth shall rule in righteousness. If a king be unrighteous, God sends rain out of season, and in season he sends no rain: and fear of famine, fear of pestilence, fear of the sword--these three fears come upon men for him." Thus did he instruct them, and spake this second verse:-- "For him no rain falls in the time of rain, But out of season pours and pours amain. A king comes down from heaven upon the earth. Behold the reason why this man is slain." [125] Thus did Sakka admonish a great concourse of folk, and then he went straight to his divine abode. And the Bodhisatta reigned in righteousness, and then went to swell the hosts of heaven. _____________________________ The Master, having ended this discourse, thus identified the Birth:--"At that time Devadatta was the wicked king; Anuruddha was Sakka; Sujātā was Rāhula's mother; but the king by Sakka's gift was I myself." -------------------------------------------------------------------------------- Footnotes 87:1 India. |
|
***YouTube 10 *** (Contents) |
http://www.sacred-texts.com/
No. 195. |
|
|
|
|
196. CHUYỆN CON NGỰA BAY (Tiền thân Valàhassa) |
No. 196. VALĀHASSA-JĀTAKA. "They who will neglect," etc.--This story the Master told while staying in Jetavana, about a Brother who had become a backslider. When the Master asked him if it was really true that he was a backslider, the Brother replied that it was true. Being questioned for the reason, he replied that his passion had been aroused by seeing a finely dressed woman. Then the Master thus addressed him: "Brother, these women tempt men by their figure and voice, scents, perfumes, and touch, and by their wiles and dalliance; thus they get men into their power; and as soon as they perceive that this is done, they ruin them, character, wealth and all, by their evil ways. This gives them the name of she-goblins. In former days also a troop of she-goblins tempted a caravan of traders, and got power over them; and afterwards, when they got sight of other men, they killed every one of the first, and then devoured them, crunching them in their teeth while the blood ran down over both cheeks." And then he told an old story. _____________________________ Once upon a time, there was in the island of Ceylon a goblin town called Sirīsavatthu, peopled by she-goblins. When a ship is wrecked, these adorn and deck themselves, and taking rice and gruel, with trains of slaves, and their children on their hip, they come up to the merchants. [128] In order to make them imagine that theirs is a city of human beings, they make them see here and there men ploughing and tending kine, herds of cattle, dogs, and the like. Then approaching the merchants they invite them to partake of the gruel, rice, and other food which they bring. The merchants, all unaware, eat of what is offered. When they have eaten and drunken, and are taking their rest, the goblins address them thus: "Where do you live? where do you come from? whither are you going, and what errand brought you here?" "We were shipwrecked here," they reply. "Very good, noble sirs," the others make answer; "’tis three years ago since our own husbands went on board ship; they p. 90 must have perished. You are merchants too; we will be your wives." Thus they lead them astray by their women's wiles, and tricks, and dalliance, until they get them into the goblin city; then, if they have any others already caught, they bind these with magic chains, and cast them into the house of torment. And if they find no shipwrecked men in the place where they dwell, they scour the coast as far as the river Kalyāṇi 1 on one side and the island of Nāgadīpa on the other. This is their way. Now it happened once that five hundred shipwrecked traders were cast ashore near the city of these she-goblins. The goblins came up to them and enticed them, till they brought them to their city; those whom they had caught before, they bound with magic chains and cast them into the house of torment. Then the chief goblin took the chief man, and the others took the rest, till five hundred had the five hundred traders; and they made the men their husbands. Then in the night time, when her man was asleep, the chief she-goblin rose up, and made her way to the house of death, slew some of the men and ate them. The others did the same. When the eldest goblin returned from eating men's flesh, her body was cold. The eldest merchant embraced her, and perceived that she was a goblin. [129] "All the five hundred of them must be goblins!" he thought to himself: "we must make our escape!" So in the early morning, when he went to wash his face, he bespake the other merchants in these words. "These are goblins, and not human beings! As soon as other shipwrecked men can be found, they will make them their husbands, and will eat us; come--let us escape!" Two hundred and fifty of them replied, "We cannot leave them: go ye, if ye will, but we will not flee away." Then the chief trader with two hundred and fifty, who were ready to obey him, fled away in fear of the goblins. Now at that time, the Bodhisatta had come into the world as a flying horse 2, white all over, and beaked like a crow, with hair like muñja grass 3, possessed of supernatural power, able to fly through the air. From Himalaya he flew through the air until he came to Ceylon. There he passed over the ponds and tanks of Ceylon, and ate the paddy that grew wild there. As he passed on thus, he thrice uttered human speech filled with mercy, saying--"Who wants to go home? who wants to go home? "The traders heard his saying, and cried--"We are going home, master!" joining their hands, and raising them respectfully to their foreheads. "Then climb up on my back," said the Bodhisatta. Thereat some of p. 91 them climbed up, some laid hold of his tail, and some remained standing, with a respectful salute. Then the Bodhisatta took up even those who stood still saluting him, and conveyed all of them, even two hundred and fifty, to their own country, and set down each in his own place; then he went back to his place of dwelling. And the she-goblins, when other men came to that place, slew those two hundred and fifty who were left, and devoured them. _____________________________ The Master now said, addressing the Brethren: "Brethren, even as these traders perished by falling into the hands of she-goblins, but the others by obeying the behest of the wonderful horse each returned safe home again; so, even so, they who neglect the advice of the Buddhas, both Brethren and Sisters, lay Brethren and lay Sisters, [130] come to great misery in the four hells, places where they are punished under the five fetters, and so forth. But those who abide by such advice come to the three kinds of fortunate birth, the six heavens of sense, the twenty worlds of Brahma, and reaching the state of imperishable Nirvana they attain great blessedness." Then, becoming perfectly enlightened, he recited the following verses: "They who will neglect the Buddha when he tells them what to do, As the goblins ate the merchants, likewise they shall perish too. "They who hearken to the Buddha when he tells them what to do, As the bird-horse saved the merchants, they shall win salvation too." When the Master had ended this discourse, he declared the Truths and identified the Birth:--at the conclusion of the Truths the backsliding Brother entered on the Fruit of the First Path, and many others entered on the Fruit of the First, Second, Third or Fourth:--"The Buddha's followers were the two hundred and fifty who followed the advice of the horse, and I was the horse myself." -------------------------------------------------------------------------------- Footnotes 90:1 The modern Kaelani-gaṅgā (Journ. of the Pāli Text Soc., 1888, p. 20). 90:2 On one side of a pillar in a Buddhist railing at Mathura, is a flying horse with people clinging to it, perhaps intended for this scene (Anderson, Catalogue of the Indian Museum, i. p. 189). 90:3 Saccharum Muñja. |
| 198. CHUYỆN CON VẸT RÀDHA (Tiền
thân Ràdha) Này con, ta đi xa..., Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn. Nghe nói, bậc Đạo Sư hỏi: - Này Tỷ-kheo, có thật chăng ông thối thất tinh tấn. Vị ấy đáp: - Bạch Thế Tôn, thật vậy. Khi được hỏi v́ lư do ǵ, vị ấy đáp: - V́ con thấy một nữ nhân trang sức đẹp đẽ nên phiền năo khởi lên. Bậc Đạo Sư nói với Tỷ-kheo ấy: - Này Tỷ-kheo, không thể canh giữ đàn bà được. Thuở xưa, có người đă sắp đặt việc canh cửa nhưng không có thể giữ được. Dầu ông có chiếm được đàn bà đi nữa, ông cũng không thể canh giữ họ được. Rồi bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ. * Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con vẹt, tên Ràdha, và con vẹt em tên là Potthapàda. Khi c̣n trẻ, hai con vẹt bị một người thợ săn bắt được và đem cho một vị Bà-la-môn ở Ba-la-nại. Chúng được Bà-la-môn ấy săn sóc như con đẻ. Nhưng người vợ vị ấy theo ác giới, không ai canh giữ bà ta được. Vị Bà-la-môn ấy có công việc phải đi xa và nói với hai con vẹt: - Này các con thân, ta có công việc phải đi, dầu ban ngày hay ban đêm, các con hăy xem mẹ con làm ǵ. Hăy xem kỹ có người đàn ông nào khác đến thăm mẹ không. Sau khi giao cho hai vẹt con coi sóc nữ Bà-la-môn, người cha ra đi. Nữ Bà-la-môn ở nhà liền hành động bất chánh, đêm ngày đều có vô số người đến và đi. Thấy vậy Potthapàda nói với Ràdha: ***YouTube 12 *** - Vị Bà-la-môn ra đi đă giao nữ Bà-la-môn cho chúng ta canh giữ. Nay bà đang làm ác hạnh, em sẽ nói với bà ấy. Ràdha bảo đừng, nhưng vẹt em không nghe. Rồi Potthapàda nói với nữ Bà-la-môn: - Thưa mẹ, v́ sao mẹ làm ác hạnh? Nữ Bà-la-môn ấy rất muốn giết Potthapàda, nhưng làm bộ vỗ về nó và hỏi: - Này con thân, con là con của ta, từ nay về sau, ta sẽ không làm như vậy nữa. Vậy này con thân, hăy đến đây. Nữ Bà-la-môn làm bộ thương yêu gọi Potthapàda lại gần. Khi nó lại gần, nữ Bà-la-môn bắt nó và thét: - Sao, mày lại khuyên dạy ta à! Mày không biết lượng sức ḿnh! Nữ Bà-la-môn nắm cổ con vẹt, giết nó và quăng xác vào ḷ. Khi vị Bà-la-môn trở về, nghỉ ngơi xong, ông liền hỏi Bồ-tát: - Này Ràdha thân, mẹ của chúng con như thế nào? Bà có làm tà hạnh hay không? Hỏi vậy xong, vị Bà-la-môn đọc bài kệ đầu: Này con, ta đi xa, Nay ta mới về nhà, Mẹ con như thế nào, Có theo người khác không? Ràdha trả lời: - Thưa cha thân, bậc hiền trí không nói điều ǵ không đưa đến hạnh phúc, dầu sự việc ấy có xảy ra hay không. Ràdha giải thích việc này với bài kệ thứ hai: Đây không phải khéo nói, Dù nói đúng sự thật, Như Pot-tha-pà-da Nay đă phải nằm chết Bị cháy dưới than hồng, Con sợ chung số phận. Như vậy Bồ-tát thuyết pháp cho vị Bà-la-môn, và nói: - Nay con cũng không thể sống trong nhà này. Sau khi xin phép vị Bà-la-môn, Bồ-tát bay đi vào rừng. * Sau khi kể Pháp thoại này, bậc Đạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng, vị Tỷ-kheo thối thất đă đắc quả Dự lưu và Ngài nhận diện Tiền thân: - Lúc bấy giờ, Potthapàda là Ànanda, c̣n Ràdha là Ta vậy. -ooOoo- (Contents)
|
http://www.sacred-texts.com/ No. 198 1. |
| 199. CHUYỆN NGƯỜI GIA CHỦ (Tiền
thân Gahapati) Cả hai, ta không nhẫn..., Câu chuyện này khi ở tại Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn. Trong lúc nói chuyện, bậc Đạo Sư bảo: - Không bao giờ có thể canh giữ nữ nhân được. Sau khi làm ác, chúng dùng mọi cách lừa dối chồng. Rồi bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ. * Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ-tát được sanh ra làm con một người gia chủ ở nước Kàsi. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát lập gia đ́nh. Người vợ mới cưới theo ác giới, thông gian với một người thôn trưởng. Bồ-tát biết được, t́m cách bắt quả tang. Lúc bấy giờ, tất cả thóc lúa đều bị trôi mất trong mùa mưa, v́ thế có nạn đói. Nhưng đó cũng là thời các cây lúa bắt đầu mọc. Tất cả dân làng cùng đi đến vị thôn trưởng và thưa: - Chúng tôi đang đói, hăy cho chúng tôi mượn cái ǵ để ăn. Hai tháng nữa, khi chúng tôi gặt hái, chúng tôi sẽ trả lúa. Họ nhận được từ tay thôn trưởng một con ḅ già và ăn thịt con ḅ ấy. Một hôm người thôn trưởng chờ Bồ-tát đi ra ngoài, liền đi vào nhà. Trong khi chúng đang hưởng hoan lạc với nhau th́ Bồ-tát từ cổng làng đi về nhà. Người đàn bà ấy hướng mặt về phía cổng làng, thấy Bồ-tát đi về, liền báo cho thôn trưởng biết. Thôn trưởng hoảng hốt run sợ. Nữ nhân ấy nói: - Chớ sợ, em đă có cách và bày mưu. Hăy làm như ông đang đến đ̣i tiền thịt. Em sẽ leo lên vựa lúa đứng trước cửa và nói: Không có lúa! C̣n ông đứng giữa nhà đ̣i nằng nặc: Nhà chúng tôi có trẻ con. Hăy trả tiền thịt đây! Nói vậy xong, nữ nhân ấy leo lên vựa lúa, ngồi trước cửa vựa lúa. Người kia đứng giữa nhà và la to: - Hăy trả tiền thịt đi! Nữ nhân ấy nói: - Trong vựa không có lúa. Khi nào gặt lúa, tôi sẽ trả. Hăy đi đi! Khi vào nhà, Bồ-tát thấy chúng làm như vậy, liền suy nghĩ: "Đây là mưu mô do ác nữ nhân này bày ra", liền gọi người thôn trưởng và nói: - Này ông thôn trưởng, chúng tôi ăn thịt con ḅ già của ông, có hứa đến hai tháng nữa chúng tôi mới trả lúa. Nửa tháng chưa qua, sao nay ông lại đến đ̣i? Ông đến đây phải v́ lư do khác. Tôi không ưa hành động của ông làm. Nữ nhân vô hạnh ác giới này biết rằng trong vựa không có lúa, nay lại leo lên vựa lúa và nói to: Không có lúa! C̣n ông lại bảo: Hăy đưa đây! Ta không ưa hành động của hai người! Để nêu rơ ư nghĩa này, Bồ-tát đọc những bài kệ: Cả hai, ta không nhẫn, Cả hai, ta không ưa. Nữ nhân này leo lên Đứng một bên vựa lúa, Lại nói lớn lên rằng: Tôi không thể trả được! Nghe đây, ông thôn trưởng, Ta sống cực khổ thay, Mượn con ḅ già, gầy, Sau hai tháng mới trả, Thời chưa đến, đ̣i nợ, Ta không thích chuyện đó! Nói vậy xong, Bồ-tát nằm lấy cái búi tóc người thôn trưởng, kéo ra sân quăng gă xuống và nói: - Mày là thôn trưởng lại vi phạm của cải trong nhà người khác! Bồ-tát nói lên những lời mỉa mai, đánh gă cho đến kiệt sức, nắm cổ gă và tống ra ngoài nhà. C̣n nữ nhân ác hạnh kia, Bồ-tát nắm lấy tóc, lôi nó từ vựa lúa xuống, đánh ngă nhào và dọa: - Nếu ngươi c̣n làm như vậy nữa, ngươi sẽ biết tay ta! Từ đấy trở đi tên thôn trưởng không dám nh́n ngôi nhà ấy nữa, c̣n người vợ không dám phạm tội, cho đến ư nghĩ cũng không! * Sau khi nói lên Pháp thoại này, bậc Đạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng, vị Tỷ-kheo thối thất đắc quả Dự-lưu. Và Ngài nhận diện Tiền thân: - Lúc bấy giờ, người gia chủ trừng phạt tên thôn trưởng là Ta vậy. -ooOoo- (Contents) |
http://2052.htm
No. 199. GAHAPATI-JĀTAKA. "I like not this," etc.--This story the Master told, also about a backsliding Brother, during a sojourn in Jetavana, and in the course of his address he said, "Womankind can never be kept right; somehow or other they will sin and trick their husbands." And then he told the following story. _____________________________ Once upon a time, in the reign of Brahmadatta, king of Benares, the Bodhisatta was born in the realm of Kāsi as a householder's son: and coming of age he married and settled down. Now his wife was a wicked woman, and she intrigued with the village headman. The Bodhisatta got wind of it, and bethought him how he might put her to the test. [135] At that time all the grain had been carried away during the rainy season, and there was a famine. But it was the time when the corn had just sprouted; and all the villagers came together, and besought help of their headman, saying, "Two months from now, when we have harvested the grain, we will pay you in kind"; so they got an old ox from him, and ate it. One day, the headman watched his chance, and when the Bodhisatta was gone abroad he visited the house. Just as the two were happy together, the Bodhisatta came in by the village gate, and set his face towards home. The woman was looking towards the village gate, and saw him. "Why, who's this?" she wondered, looking at him as he stood on the threshold. "It is he!" She knew him, and she told the headman. He trembled in terror. "Don't be afraid," said the woman, "I have a plan. You know we have had meat from you to eat: make as though you were seeking the price of the meat; I will climb up into the granary; and stand at the door of it, crying. 'No rice here!' while you must stand in the middle of the room, and call out insisting, again and again, 'I have children at home; give me the price of the meat! ' So saying, she climbed up to the granary, and sat in the door of it. The other stood in the midst of the house, and cried, "Give me the price of the meat':" while she replied, sitting at the granary door, "There is no rice in the granary; I will give it when the harvest is home: leave me now!" The goodman entered the house, and saw what they were about. "This must be that wicked woman's plan," he thought, and he called to the headman. "Sir Headman, when we had some of your old ox to eat, we promised to give you rice for it in two months' time. Not half a month has passed; then why do you try to make us pay now? That's not the reason you are here: you must have come for something else. I don't like your ways. That wicked and sinful woman yonder knows that there is no rice in the garner, but she has climbed up, and there she sits, crying [136] 'No rice here!' and you cry 'Give!' I don't like your doings, either of you!" and to make his meaning clear, he uttered these lines:-- "I like not this, I like not that; I like not her, I say, Who stands beside the granary, and cries 'I cannot pay!' "Nor you, nor you, Sir! listen now:--my means and store are small; You gave me once a skinny cow, and two months' grace withal; Now, ere the day, you bid me pay! I like it not at all." So saying, he seized the headman by the lock of hair on the top of his head, dragged him out into the courtyard, threw him down, and as he cried, "I'm the Headman!" mocked him thus--"Damages, please, for injury done to the chattels under another man's watch and ward!" while he thrashed him till the man was faint. Then he took him by the neck and cast him out of the house. The wicked woman he seized by the hair of her head, pulled her away from the garner, knocked her down, and threatened her--"If you ever do this kind of thing again, I'll make you remember it!" From that day forward the headman durst not even look at that house, and the woman did not dare to transgress even in thought. _____________________________ [137] When this discourse was ended, the Master declared- the Truths, at the conclusion of which the backsliding Brother reached the Fruit of the First Path:--"The goodman who punished that headman was I myself." |
| 207. CHUYỆN VUA
ASSAKA (Tiền thân Assaka) Chính chỗ này, tôi sống..., Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo sư kể về một người luyến ái vợ cũ. Tỷ-kheo ấy được bậc Đạo sư hỏi: - Này Tỷ-kheo có thật chăng ông bị ái nhiễm? Vị ấy đáp: - Thưa có thật vậy. Bậc Đạo sư hỏi: - Ông luyến ái ai? Tỷ-kheo đáp: - Con luyến ái vợ cũ. Bậc Đạo sư nói: - Này Tỷ-kheo, không phải chỉ nay ông luyến ái nữ nhân ấy. Thuở trước, v́ luyến ái nữ nhân ấy, ông đă gặp đau khổ lớn. Rồi bậc Đạo sư kể câu chuyện quá khứ. * Thuở xưa, tại nước Kàsi, vua Assaka trị v́ thành Potali. Hoàng hậu tên Ubbaŕ rất được vua yêu thương. Hoàng hậu khả ái, kiều diễm vượt xa sắc đẹp của các nữ nhân, dù chưa là một Thiên nữ. Sau một thời gian, bà bị bệnh và mệnh chung. Khi hoàng hậu mệnh chung, vua sầu khổ, đau đớn, ưu tư. Vua để xác hoàng hậu nằm trong một cái ḥm, ướp với dầu và chất dẻo đặt dưới long sàng. Vua đau khổ nằm dài, không ăn, khóc lóc, than thở. Mẹ cha, các bà con khác, thân hữu và các cận thần, Bà-la-môn, gia chủ...đều đến khuyên giải: - Thưa Đại vương, chớ sầu muộn. Cuộc đời là vô thường. Nhưng họ không thể làm vua nghe lời. Trong khi vua than khóc như vậy bảy ngày đă trôi qua. Lúc bấy giờ, Bồ-tát là vị tu khổ hạnh đă đạt được năm Thắng trí và tám Thiền chứng, trú dưới chân núi Hy-mă. Ngài đầy đủ trí tuệ giác ngộ, và với thiên nhăn nh́n cơi Diêm phù đề, ngài thấy vua than khóc như vậy, liền quyết định giúp đỡ cho vị vua này. Bồ-tát dùng thần lực bay trên hư không rồi hạ xuống khu vườn của vua, và ngồi xuống trên phiến đá tế lễ, như một h́nh tượng bằng vàng. ** YouTube 13 ***
Rồi một thanh niên Bà-la-môn trú ở thành Polati đi đến khu vườn, thấy
Bồ-tát, đảnh lễ ngài và ngồi xuống. Bồ-tát nói chuyện thân mật với thanh
niên ấy, và hỏi:
|
http://www.sacred-texts.com/ No. 207.ASSAKA-JĀTAKA. "Once with the great king Assaka," etc.--This story the Master told
whilst staying in Jetavana, about some one who was distracted by the
recollection of a former wife. He asked the Brother whether he were really
lovesick. The man said, Yes. "Whom are you in love with?" the Master
continued. "My late wife," was the reply. Then the Master said, "Not this
once only, Brother, have you been full of desire for this woman; in olden
days her love brought you to great misery." And he told a story. |
| 212. CHUYỆN
THỨC ĂN THỪA (Tiền thân Uchitthabhatta) Trên đầu sắc lại khác..., Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư kể về sự luyến ái người vợ cũ. Tỷ-kheo ấy được bậc Đạo Sư hỏi: - Này Tỷ-kheo, nghe nói ông bị ái nhiễm? Vị ấy đă trả lời: - Có thực vậy. - Ông luyến ái ai? - Con luyến ái người vợ cũ. Bậc Đạo Sư nói: - Này Tỷ-kheo, nữ nhân này thuở trước đă làm hại ông và khiến ông ăn đồ ăn thừa của nhân t́nh nó. Nói xong, bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ. Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ ở Ba-la-nại, Bồ tát sanh ra trong gia đ́nh một người nhào lộn nghèo khổ, sống bằng cách ăn xin. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ tát nghèo khổ, thiếu thốn, và xin ăn để sống. Lúc bấy giờ trong nước Kàsi, tại làng nhỏ, người vợ của một Bà-la-môn có tà hạnh, theo ác pháp, thường hành động tội lỗi. Một hôm, v́ một vài công việc, vị Bà-la-môn đi ra ngoài, và người t́nh của nữ nhân ấy được cơ hội liền lẻn vào nhà. Sau khi hành lạc với nữ nhân ấy xong, gă nói: - Ta muốn ăn một chút ǵ rồi sẽ đi. Bà ta liền sửa soạn đồ ăn, dọn cơm, hâm canh và cho người t́nh ăn, c̣n ḿnh đứng ở cửa canh chồng đi về. Tại chỗ người t́nh ấy đang ăn, Bồ tát đứng chờ xin cơm, và chứng kiến câu chuyện. Khi vị Bà-la-môn xong việc, ông trở về nhà. Nữ Bà-la-môn thấy chồng về, liền đi nhanh vào nhà nói: - Hăy đứng dậy, vị Bà-la-môn đang đi về! Người vợ bảo t́nh nhân đi trốn vào kho chứa đồ, và đón vị Bà-la-môn vào nhà. Khi vị Bà-la-môn ngồi xuống, bà vợ sửa soạn chỗ ngồi, đưa nước rửa tay, và trên phần cơm nguội lạnh do người kia ăn thừa, bà thêm phần cơm nóng và mời ông ăn. Vị Bà-la-môn đặt tay xuống cơm, thấy cơm dưới nguội trên nóng suy nghĩ: "Cơm này có thể là cơm thừa của một người khác đă ăn rồi". Ông liền hỏi nữ Bà-la-môn với bài kệ đầu: Trên đầu sắc lại khác, Phía dưới sắc lại khác, Ta hỏi nữ Phạm chí, Sao dưới vậy, trên vậy? Nữ Bà-la-môn sợ việc làm của ḿnh bị bại lộ, dầu vị Bà-la-môn hỏi đi hỏi lại, vẫn giữ im lặng. Lúc bấy giờ, con người nhào lộn đang đứng xin ăn ở ngoài cửa suy nghĩ: "Người đàn ông núp trong kho chứa đồ chắc là t́nh nhân. Người này chắc là chủ nhà. Nữ Bà-la-môn sợ việc làm của ḿnh bị bại lộ nên không nói ǵ. Vậy ta hăy phô bày việc làm của nữ Bà-la-môn ấy, nói cho vị Bà-la-môn biết chỗ nấp của người t́nh trong kho chứa đồ". Bồ-tát liền đem toàn bộ câu chuyện nói cho vị Bà-la-môn biết, từ khi ông đi ra khỏi nhà, người kia đi vào nhà, hành lạc, ăn cơm ngon, và nữ Bà-la-môn đứng ở cửa nh́n ra đường bảo người kia núp xuống trong kho chứa đồ. Người nhào lộn nói như vậy cho ông chủ nhà biết và đọc bài kệ thứ hai. Kính thưa bậc Tôn giả Tôi là người nhào lộn Tôi đă đi đến đây, Chỉ là để xin ăn, Người núp trong kho chứa Là người Tôn giả t́m. Bồ-tát nắm búi tóc người t́nh địch, kéo gă ra khỏi kho chứa, dặn nó chớ có làm việc ác như vậy nữa, rồi ra đi. C̣n vị Bà-la-môn, đánh và dạy cả hai người chớ làm ác như vậy nữa. Rồi về sau ông mạng chung và đi theo nghiệp của ḿnh. Sau khi thuyết Pháp thoại này xong, bậc Đạo Sư giảng các Sự thật. Cuối bài giảng, vị Tỷ-kheo ấy đắc quả Dư lưu. Và Ngài nhận diện Tiền thân: - Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn là người vợ trước, vị Bà-la-môn là vị Tỷ-kheo bị ái nhiễm, c̣n người nhào lộn là Ta vậy. -ooOoo- (Contents) |
http://www.sacred2065.htm
No. 212. UCCHI HA-BHATTA-JĀTAKA. |
| (Continued) | (Continued) |
| All clips of ĐƯỜNG MÂY QUA XỨ
TUYẾT http://www.youtube.com/results?search_query=duongmayxutuyet All clips of Phẩm Nữ Nhân http://www.youtube.com/results?search_query=nunhan All clips of Hành Tŕnh Về Phương Đông |
|
|
Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam) http://www.tranlich.com/phathoc/kinhbantien.htm KINH VIÊN GIÁC
(THE SUTRA OF COMPLETE ENLIGHTENMENT ) Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra) 1) Phẩm nữ giới
Hành Tŕnh Về Phương Đông - (English &
Vietnamese)
KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna
sutta)
|
|
|
Home | 81 BCND | Freedom4Vietnam | Vietnamese Songs | Vietnamese Students | Our Sponsor
Since 06-27-01
|
|