Hành Tŕnh Về Phương Đông

(Life and Teaching of the Masters of the Far East)

Tác giả: Baird T.Spalding

Dịch giả: Nguyên Phong
 

 

   
http://www.thuvienhoasen.org/
Audio sources:
http://suoitumedia1.net/
Hành Tŕnh Về Phương Đông

Dịch giả: Nguyên Phong
 


Contents:

Life and Teaching of the Masters of the Far East
By Baird T. Spalding
Volume I
 

 

 

   
Lời nói đầu

Chương 01 - Một người Ấn lạ kỳ
**pháp môn Du Già (Yoga)
Chương 02 - Người đạo sĩ thành Benares

Chương 03 - Khoa học thực nghiệm và khoa học chiêm tinh bí truyền

Chương 04 - Trên đường thiên lư

Chương 05 - Thành phố thiêng liêng

Chương 06 - Những sự kiện huyền bí

Chương 07 - Vị đạo sĩ có thể chữa mọi thứ bệnh

Chương 08 - Đời sống siêu nhân loại

Chương 09 - Cơi vô h́nh

Chương 10 - Hành tŕnh về phương Đông
FORWARD:

Chapter I
Chapter II
Chapter III
Chapter IV
Chapter V
Chapter VI
Chapter VII
Chapter VIII
Chapter IX
Chapter X
Chapter XI
Chapter XII
Chapter XIII
Chapter XIV
Chapter XV
Chapter XVI
Chapter XVII
Chapter XVIII
Chapter XIX
Chapter XX
Chapter XXI
Chapter XXII
Chapter XXIII
Chapter XXIV
ADDENDUM

** YouTube 1 vn **

Lời nói đầu

Trong cuộc sống vội vă, quay cuồng hiện tại, nhiều người đă mất đi niềm tin. Họ quan niệm rằng sống để thụ hưởng, thoa? măn các nhu cầu vật chất v́ chết là hết. Không có Thượng đế hay một quyền năng siêu phàm ǵ hết. Các đây không lâu, một tờ báo lớn tại Hoa kỳ đă tuyên bố, “Thượng đế đă chết!” Tác giả bài báo công khai thách đố mọi người đưa ra bằng chứng rằng Thượng đế c̣n sống. Dĩ nhiên, bài báo đó tạo nên một cuộc bàn căi rất sôi nổi. Một nhà thiên văn học tại trung tâm nghiên cứu Palomar cũng cho biết, “Tôi đă dùng kính viễn vọng tối tân nhất, có thể quan sát các tinh tú xa trái đất hàng triệu năm ánh sáng mà nào có thấy thiên đường hay thượng đế cư ngụ nơi nào?” Sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm càng ngày càng đi đến chỗ quá trớn, thách đố tất cả mọi sự. Tuy nhiên, trong lúc khoa học đang tự hào có thể chứng minh, giải thích tất cả mọi sự, th́ một sự kiện xảy ra : Một phái đoàn ngoại giao do Tiểu vương Ranjit Singh cầm đầu sang thăm viếng nước Anh. Trong buổi viếng thăm đại học Oxford, vua Ranjit đă sai một đạo sĩ biểu diễn. Vị đạo sĩ này đă làm đảo lộn quan niệm khoa học lúc bấy giờ. Không những ông ta có thể uống tất cả mọi chất hoá học, kể cả những chất cường toan cực mạnh mà không hề hấn ǵ, ông ta c̣n nhịn thở hàng giờ đồng hồ dưới đáy một hồ nước. Sau khi để một phái đoàn y sĩ do bác sĩ Sir Claude Wade khám nghiệm, ông ta c̣n chui vào một quan tài để bị chôn sống trong suốt 48 ngày. Khi được đào lên, ông ta vẫn sống như thường. Đạo sĩ c̣n biểu diễn nhiều việc lạ lùng, dưới sự kiểm chứng nghiêm khắc của các khoa học gia. Điều này gây sôi nổi dư luận lúc đó. Hội Khoa Học Hoàng Gia đă phải triệu tập một uỷ ban để điều tra những hiện tượng này. Một phái đoàn gồm nhiều khoa học gia tên tuổi được chỉ thị sang Ấn độ quan sát, sưu tầm, tường tŕnh và giải thích những sự kiện huyền bí. Phái đoàn khoa học đă đặt ra những tiêu chuẩn rơ rệt để giúp họ quan sát với một tinh thần khoa học tuyệt đối. Không chấp nhận bất cứ một điều ǵ nếu không có sự giải thích rơ ràng, hợp lư. Để soạn thảo bản tường tŕnh, mỗi khoa học gia trong phái đoàn phải tự ḿnh ghi nhận những điều mắt thấy, tai nghe vào sổ tay cá nhân. Sau đó, tất cả cùng nhau so sánh chi tiết và kiểm chứng cẩn thận. Chỉ khi nào tất cả đều đồng ư th́ điều đó mới được ghi nhận vào biên bản chính. Điều này đặt ra để bảo đảm cho sự chính xác, không thành kiến đến mức tối đạ Tất cả những điều ǵ xảy ra mà không có sự giải thích khoa học, hợp lư đều bị loại bỏ. Khi ra đi, họ không mấy tin tưởng nhưng khi trở về, họ đều đổi khác. Giáo sư Spalding đă cho biết, “Phương Đông có những chân lư quan trọng đáng để cho người Tây phương nghiên cứu, học hỏi. Đă đến lúc người Tây phương phải quay về Đông phương để trở về với quê hương tinh thần.” Điều đáng tiếc là sự trở về của phái đoàn đă gặp nhiều chống đối mănh liệt từ một dư luận quần chúng đầy thành kiến hẹp ḥi. Các khoa học gia bị bắt buộc phải từ chức, không được tuyên bố thêm về những điều chứng kiến. Sau đó ít lâu, trưởng phái đoàn, giáo sư Spalding đă cho xuất bản bộ sách, “Life and teachings of Masters of the East” và nó đă gây ra một dư luận hết sức sôi nổi. Người ta vội t́m đến những người trong phái đoàn, th́ được biết họ đă rời bỏ Âu châu để sống đời tu sĩ trong dăy tuyết sơn. Tuy thế, ảnh hưởng cuốn sách này đă tạo hứng khởi cho nhiều người khác trở qua Ấn độ để kiểm chứng những điều ghi nhận của phái đoàn. Thiên kư sự của Sir Walter Blake đăng trên tờ London Scientific cũng như loạt điều tra của kư giả Paul Bruton, Max Muller đă vén lên tấm màn huyền bí của Đông phương và xác nhận giá trị cuộc nghiên cứu này.

 
FORWARD:


In presenting THE LIFE AND TEACHING OF THE MASTERS OF THE FAR EAST, I wish to state that I was one of a research party of eleven persons that visited the Far East in 1894.

During our stay-three and a half years-we contacted the Great Masters of the Himalayas, who aided us in the translation of the records, which was of great assistance in our research work. They permitted us to enter into their lives intimately and we were thus able to see the actual working of the great Law as demonstrated by them. We call them Masters, which is merely our name for them. One living the life described herein is entitled to reverence and consideration as a Master.


Records and manuscripts-our actual experience with the Masters-were preserved. Personally, at that time, I thought the world was not ready for this message. I was an independent member of the research party and I am now publishing my notes under the title LIFE AND TEACHING OF THE MASTERS OF THE FAR EAST, with the thought that the reader may accept or reject, as he wishes.


This book, which will be followed by others of the Sun series, gives the first year's experience of the expedition in relation to the Masters. It includes their teaching, which was taken by us stenographically at the time, with their permission and approved by them.
The Masters accept that Buddha represents the Way to Enlightenment, but they clearly set forth that Christ IS Enlightenment, or a state of consciousness for which we are all seeking-the Christ light of every individual; therefore, the light of every child that is born into the world.


(Signed) Baird T. Spalding
 

Chương 1

Một người Ấn lạ kỳ



Ấn độ là xứ có rất nhiều tôn giáo. Tôn giáo gắn liền với đời sống và trở nên một động lực rất mạnh làm chủ mọi sinh hoạt người dân xứ này. Người Ấn thường tự hào rằng văn hoá của họ là một thứ văn minh tôn giáo và dân xứ này được thừa hưởng một kho tàng minh triết thiêng liêng không đâu có. V́ thế Hội Khoa Học Hoàng Gia đă bảo trợ cho phái đoàn đến Ấn độ để nghiên cứu những hiện tượng huyền bí này.

Tuy nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn độ từ Bombay đến Calcutta, thăm viếng hàng trăm đền đài, tiếp xúc với hàng ngàn giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng , phái đoàn vẫn không thoa? măn hay học hỏi điều ǵ mới lạ. Phần lớn các giáo sĩ chỉ lập đi lập lại những điều đă ghi chép trong kinh điển, thêm thắt vào đó những mê tín dị đoan, thần thánh hoá huyền thoại để đề cao văn hoá xứ họ. Đa số tu sĩ đều khoe khoang các địa vị, chức tước họ đă đạt. V́ không có một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai cũng xưng là hiền triết (Rishi), sư tổ (Guru), hay đại đức (Swami), thậm chí có người xưng là thánh nhân giáng thế (Bhagwan). Ấn độ giáo (Hinduism) không có một chương tŕnh đào tạo tu sĩ như Thiên chúa giáo, bất cứ ai cũng có thể vỗ ngực xưng danh, ai cũng là tu sĩ được nếu y cạo đầu, mặc áo tu hành, xưng danh tước, địa vị để lôi cuốn tín đồ. Ấn giáo không phải một tôn giáo thuần nhất, mà có hàng ngàn tông phái khác nhau, mỗi tông phái lại chia làm nhiều hệ phái độc lập chứ không hề có một tổ chức hàng dọc như các tôn giáo Âu châu. Các giáo sĩ mạnh ai nấy giải thích kinh điển theo sự hiểu biết của họ. Phần lớn cố t́nh giảng dạy những điều có lợi cho họ nhất, ngoài ra họ c̣n tụ họp để phong chức tước lẫn nhau hay chống đối một nhóm khác. Sự tranh luận tôn giáo là điều xảy ra rất thường, nhóm nào cũng tự nhận họ mới là chính thống, mới là đúng với giáo lư của thượng đế. Do đó, cuộc nghiên cứu tôn giáo của phái đoàn không mang lại một kết quả mong ước, nhiều lúc mọi người thấy lạc lơng, rồi rắm không biết đâu là đúng, là sai. Hội Khoa Học Hoàng Gia chỉ thị việc nghiên cứu phải đặt căn bản trên nền tảng khoa học, hợp lư nhưng lấy tiêu chuẩn này áp dụng sẽ gặp nhiều trở ngại v́ văn hoá Ấn độ và Âu châu khác hẳn nhau. Người dân xứ này chấp nhận các tông phái như một điều hiển nhiên, không ai chất vấn khả năng các giáo sĩ hay suy xét xem lời tuyên bố của họ có hợp lư hay không ? Họ sùng tín một cách nhiệt thành, một cách vô cùng chịu đựng.

Thất vọng về cuộc du khảo không mang lại kết quả như ư muốn, giáo sư Spalding một ḿnh lang thang đi dạo trong thành Benares. Giữa rừng người hỗn tạp ồn ào, một thuật sĩ cởi trần đang phùng má thổi kèn gọi rắn. Một con rắn hổ to lớn nằm trong sọt ngửng cổ lên cao, phun ph́ ph́. Tiếng kèn lên bỗng xuống trầm, con rắn cũng lắc lư, nghiêng ngă. Đám đông xúm lại x́ xầm coi bộ khâm phục lắm. Nếu họ hiểu con rắn đă bị bẻ răng, nuôi bằng bả á phiện và được luyện tập cẩn thận… Khắp xứ ấn, các tṛ bịp bợm này diễn ra không biết bao nhiêu lần trong ngày, nó sẽ kết thúc khi một vài tên “c̣ mồi” đứng trong đám đông vỗ tay, ném tiền vào rổ, và khuyến khích dân chúng ném theo…

** YouTube 2 vn **

 Đang măi mê suy nghĩ, Spalding bỗng thấy một người Ấn to lớn, phong độ khác thường chăm chú nh́n ông mỉm cười. Người Ấn lễ phép cúi đầu chào bằng một thứ tiếng Anh hết sức đúng giọng, ông cũng đáp lễ lại. Câu chuyện dần dần trở nên thân mật, Spalding bèn lên tiếng hỏi người bạn mới quen nghĩ sao về những tṛ bịp bợm này. Người Ấn trả lời :

- Các vị minh sư đâu có cư ngụ trong đền thờ lộng lẫy, họ đâu in danh thiếp với các chức tước, địa vị to lớn, trọng vọng. Họ đâu cần phải quảng cáo các quyền năng, đạo quả hoặc in tên trong điện thoại niên giám. Một vị minh sư không nhất thiết phải có đông đệ tử, muốn t́m gặp họ phải biết phân biệt. Các đạo sĩ mà ông đă gặp, sở dĩ nổi tiếng có đông giáo đồ v́ họ biết thu tập đệ tử qua các h́nh thức quảng cáo, biết hứa hẹn những điều giáo đồ muốn nghe, họ chả dạy điều ǵ ngoài một số “từ chương” trong kinh sách. Điều này một người thông minh có thể tự đọc sách, nghiên cứu lấy. Phải chăng ông thất vọng v́ các đạo sĩ ông đă gặp chưa từng có các kinh nghiệm tâm linh?”

Giáo sư Spalding ngạc nhiên :

- Tại sao ông biết rơ như thế?

Người Ấn mỉm cười :

- Các ông đă bàn căi với nhau rằng cuối tháng này, nếu không thu thập thêm điều ǵ mới lạ, phái đoàn sẽ trở về Âu châu và kết luận rằng Á châu chả có điều ǵ đáng học hỏi. Giai thoại về các bậc hiền triết, thánh nhân chỉ là những huyền thoại để tô điểm cho vẻ huyền bí Á châu.

Giáo sư Spalding mất b́nh tĩnh :

- Nhưng tại sao ông lại biết những điều này? Chúng tôi vừa bàn định với nhau như thế, ngay trong phái đoàn c̣n có nhiều người chưa rơ kia mà ?

Người Ấn nở một nụ cười bí mật và thong thả nhấn mạnh :

- Ông bạn thân mến, tư tưởng có một sức mạnh thần giao vượt khỏi thời gian và không gian. Thái độ của ông bạn là lư do mà hôm nay tôi đến đây để chuyển giao một thông điệp ngắn ngủi, chắc hẳn ông bạn rất thuộc thánh kinh, “Hăy gơ cửa, rồi cửa sẽ mở. Hăy t́m rồi sẽ gặp”. Đó là thông điệp của một vị chân sư nhờ tôi chuyển giao.”

Sự kiện người Ấn đứng giữa chợ Benares nhắc đến một câu trong Kinh thánh làm giáo sư Spalding ngây ngất như say vừa tỉnh. Toàn thân ông như rung động bởi một luồng điện cao thế.

Ông lắp bắp:

- Nhưng làm sao chúng tôi biết các ngài ở đâu mà t́m ? Chúng tôi đă bỏ ra suốt hai năm trời đi gần hết các đô thi, làng mạc xứ Ấn…

Người Ấn nghiêm nghị trả lời :

- Hăy đến Rishikesh, một thị trấn bao phủ bởi dẫy Hy Mă Lạp Sơn, các ông sẽ gặp những đạo sĩ hoàn toàn khác hẳn những người đă gặp. Những đạo sĩ này chỉ sống trong các túp lều sơ sài, hoặc ngồi thiền trong các động đá. Họ ăn rất ít và chỉ cầu nguyện. Tôn giáo đối với họ cần thiết như hơi thở. Đó mới là những người dành trọn cuộc đời cho sự đi t́m chân lư. Một số người đă thắng đoạt thiên nhiên và chinh phục được các sức mạnh vô h́nh ẩn tàng trong trời đất… Nếu các ông muốn nghiên cứu về các quyền năng, phép tắc thần thông th́ các ông sẽ không thất vọng.

Người Ấn im lặng một lúc và nh́n thẳng vào mặt giáo sư Spalding :

- Nhưng nếu các ông muốn đi xa hơn nữa, để t́m gặp các đấng chấn sư (Rishi) th́ các ông c̣n mất nhiều thời gian nữa…

Giáo sư Spalding thắc mắc :

- Ông vừa dùng danh từ Chân sư, vậy chứ Chân sư (Rishi) và đạo sĩ (Yogi) khác nhau thế nào?

- Nếu ông tin ở thuyết tiến hoá của Darwin, th́ tôi xin tóm tắt : “sự tiến hoá của linh hồn đi song đôi với thể xác. Chân sư là một người đă tiến rất xa trên mức thang tiến hoá; trong khi đạo sĩ chỉ mới bắt đầu…”

- Như thế th́ các vị chân sư có thể làm các phép lạ được chứ ?

Người Ấn mỉm cười khẽ lắc đầu :

- Chắc chắn như thế, nhưng phép thuật thần thông đâu phải mục đích tối hậu của con đường đạo. Nó chỉ là kết quả tự nhiên do sự tập trung tư tưởng và ư chí. Đối với các bậc chân sư, sử dụng phép thuật là điều ít khi nào các ngài phải làm. Mục đích của con đường đạo là Gỉai Thoát, là trở nên toàn thiện như những đấng cao cả mà đức Jesus là một.

Giáo sư Spalding căi :

- Nhưng chúa Jesus đă từng làm các phép lạ.

Người Ấn bật cười trả lời :

- Ông bạn thân mến, bạn nghĩ rằng chúa Jesus làm vậy vào mục đích khoe khoang hay sao ? Không bao giờ, đó chỉ là những phương tiện để cảm hoá những người dân hiền lành, chất phác và đem lại cho họ một đức tin mà thôi.

Một lần nữa, người Ấn lạ lùng này lại nói về một đấng giáo chủ mà hầu như mọi người Tây phương đều biết đến. Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi :

- Thế tại sao các đấng Chân sư không xuất hiện dạy dỗ quần chúng ?

Người Ấn nghiêm nghị :

- Ông nghĩ rằng các ngài sẽ tuyên bố cho người đời biết ḿnh là ai chăng ?

Nếu đức Phật hay đấng “Christ” hiện ra tuyên bố các giáo điều, liệu ông có chịu tin không ? Có lẽ các ngài phải biểu diễn các phép thần thông như đi trên mặt nước hay biến ra hàng ngàn ổ bánh ḿ cho dân chúng th́ các ông mới tin sao ? Điều này chắc rồi cũng sẽ có một số đạo sĩ Hắc đạo biễu diễn để lôi cuốn tín đồ nhưng các đấng cao cả đâu có làm thế phải không ông bạn ?

- Nhưng….nhưng các ngài sống ẩn dật như thế có lợi ǵ cho thế gian đâu ?

Người Ấn mỉm cười :

- V́ không biết rơ các ngài nên thế gian không thể xét đoán các ngài một cách đứng đắn. Ai bảo rằng các ngài không giúp ích ǵ cho nhân loại ? Nếu tôi quả quyết rằng đấng “Christ” vẫn thường xuất hiện và vẫn giúp đỡ nhân loại không ngừng th́ ông có tin không ? Có lẽ ông sẽ đ̣i hỏi một bằng chứng, một h́nh ảnh hoặc một cái ǵ có thể chứng minh được. Bạn thân mến, những tư tưởng sâu xa của các đấng cao cả không dễ ǵ chúng ta hiểu thấu. Có lẽ câu trả lời giản dị nhất là các ngài phụng sự thế gian một cách âm thầm, lặng lẽ bằng cách phóng ra các tư tưởng yêu thương, bác ái, tốt lành mà sức mạnh có thể vượt thời gian và không gian. Tuy mắt ta không trông thấy nhưng hiệu lực của nó vô cùng mạnh mẽ. Khi xưa, nhân loại c̣n ấu trĩ nên các ngài đă xuất hiện để đặt một nền móng, căn bản, hướng dẫn loài người. Đến nay, nhân loại đă ít nhiều trưởng thành và phải tự lập, sử dụng khả năng của ḿnh, chịu trách nhiệm về những việc họ làm.

Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi :

- Lúc năy bạn nói rằng có một vị chân sư nhờ bạn chuyển giao một thông điệp cho chúng tôi. Bạn có thể cho tôi biết địa chỉ của ngài được không ?

- Bạn thân mến, tất cả đều do Nhân Duyên, đến khi nào đủ duyên bạn sẽ gặp các ngài.

Nói xong, người Ấn độ cúi đầu chào và biến mất trong đám người đông đúc, ồn ào giữa ngôi chợ thành phố Benares.
** YouTube 3 vn **


 

Chapter I


We had been in India about two years, doing regular routine research work, when I met the Master known in these writings as Emil. While walking along a street in the city where we were staying, my attention was attracted to a crowd. I saw the center of interest was one of the street magicians, or fakirs, that are so common in that country. As I stood there I noticed beside me an elderly man who was not of the same caste as those about him. He looked at me and asked if I had been long in India. I replied, "About two years." He asked, "Are you English?" I answered. "American."


I was surprised and very much interested to find one who spoke English. I asked him what he thought of the performance then going on. He answered, "Oh, it is a common occurrence in India. These fellows are called fakirs, magicians, and hypnotists. They are all the name implies; but underneath it all is a deeper spiritual meaning that few discern, and good will come of it some day. It is but the shadow of the thing from which it sprang. It has caused a great deal of comment, and those commenting upon it seem never to have reached the true meaning, for there certainly is a truth underneath it all."


Here we parted and I saw him only occasionally during the next four months. Our expedition was confronted by a problem which gave us a great deal of trouble. In the midst of our worries I again met Emil. Immediately he asked what was bothering me and began talking about our problem.


I wondered at this, for I felt that none of our party had mentioned it outside of our little circle. His familiarity with the situation was such that I felt the whole matter was known to him. He explained that he had a certain insight into the affair and that he would endeavor to help.


Within a day or two the matter was cleared up, leaving us without a problem. We wondered at this but, with other things to occupy our time, soon forgot.
As other problems came up it became a habit with me to talk them over with Emil. It seemed that as soon as I discussed our troubles with him they would cease to exist.


My associates had met and talked with Emil but I had said little to them about him. By this time I had read a number of books on Hindu lore, selected by Emil, and I was fully convinced that he was one of the adepts. My curiosity was keenly aroused and I was becoming more deeply interested each day.
One Sunday afternoon Emil and I were walking in a field when he called my attention to a pigeon circling overhead and casually remarked that the bird was looking for him. He stood perfectly still and in a few moments the bird alighted upon his outstretched arm. He said the bird has a message from his brother in the North. This proved to be a fellow-worker who had not reached the attainment whereby he could communicate directly, so he took this means. We later found that the Masters are able to communicate with each other instantly by thought transference or, as they call it, a force much more subtle than either electricity or wireless.
I then began to ask questions and Emil showed me that he was able to call the birds to him and direct their flight while they were in the air; that the flowers and trees would nod to him; that the wild animals would come to him fearlessly.

He parted two jackals that were fighting over the body of a smaller animal that they had killed and were feeding upon. When he approached them they stopped fighting and put their heads in his outstretched hands in perfect trust, then resumed their meal in quiet. He even gave me one of the young wild creatures to hold in my hands. He then said to me, "This is not the mortal self, the self you see, that is able to do these things. It is a truer, deeper self. It is what you know as God, God within me, God the Omnipotent One working through me, that does these things. Of myself, the mortal self, I can do nothing. It is only when I get rid of the outer entirely and let the actual, the I AM, speak and work and let the great Love of God come forth that I can do these things that you have seen. When you let the Love of God pour through you to all things, nothing fears you and no harm can befall you."


Every day during this time I had lessons with Emil. He would suddenly appear in my room, even if I had taken special care to lock the door before retiring. At first his appearance at will disturbed me but I soon saw that he took it for granted that I understood. I became accustomed to his ways and left my door open so that he could come and go as he pleased. This confidence seemed to please him. I could not understand all his teachings and I could not accept them fully, nor was I able, with all I saw while in the East, to fully accept at the time. It required years of meditation to bring me the realization of the deep spiritual meaning of these peoples' lives.


Their work is accomplished without ostentation and in perfect childlike simplicity. They know the power of love to protect them and they cultivate it until all nature is in love with them and befriends them. Thousands of the common people are killed annually by serpents and wild animals, yet these Masters have so brought forth the power of love in themselves that serpents and wild animals do not injure them. They live at times in the wildest jungles, and sometimes lay their bodies down before a village to protect it from the ravages of wild animals, and no harm befalls the village or themselves. When occasion requires they walk on water, go through fire, travel in the invisible, and do many other things that we have been accustomed to look upon as miracles performed only by one supposed in some way to possess supernatural powers.


There is a striking resemblance between the life and teaching of Jesus of Nazareth and those of these Masters as exemplified in their daily life. It has been thought impossible for man to derive his daily supply directly from the Universal, to overcome death and to perform the various so-called miracles that Jesus performed while on earth. The Masters prove that all these are their daily life. They supply everything needed for their daily wants directly from the Universal, including food, clothing and money. They have so far overcome death that many of them now living are over five hundred years of age, as was conclusively proved by their records.
There are comparatively few of these Masters in India, other cults seeming to be but offshoots of their teaching. They realize their number is limited and that only a few scholars can come to them. In the invisible, however, they can reach almost unlimited numbers and it seems to be the greater work of their lives to reach out into the invisible and help all who are receptive to their teaching.
The teaching of Emil laid the foundation for the work which we were to take up years later in our third expedition to these countries, during which time we lived with the Masters continuously for three and one-half years, traveled with them, and observed their daily lives and work throughout the Far East.
 

 

Chapter II


We arrived at Potal, from where the expedition was to start, late in the afternoon of December 22, 1894, and found we were to start Christmas morning upon what was to be the most memorable expedition of our whole lives. I never shall forget the few words Emil said to us that morning. These words were delivered in fluent English, although the speaker did not boast an English education, and he had never been out of the Far East.


He began by saying, "Tis Christmas Morning; to you I suppose it is the day Jesus of Nazareth, the Christ, was born; to you the thought must come that He was sent to remit sins; to you He must typify the Great Mediator between you and your God. You seem to appeal to Jesus as a mediator between you and your God, who seems to be a stern and, at times, an angry God sitting off somewhere in the place called heaven, located where I do not know, except it be in man's consciousness.

You seem to be able to reach God only through His less austere and more loving Son, the great and noble One whom we all call Blessed and whose advent into the world this day commemorates. To us this day means more; to us this day not only means the advent into this world of Jesus, the Christ, but also this birth typifies the birth of Christ in every human consciousness.

This Christmas Day means the birth of the Great Master and Teacher, the Great Liberator of mankind from material bondage and limitations. To us this great soul came on earth to show more fully the way to the real God, the great Omnipotent, Omnipresent, Omniscient One; to show that God is all Goodness, all Wisdom, all Truth, All in All. This Great Master, who came to this world this day, was sent to show more fully that God not only dwells without us but within us, that He never is, nor can be, separated from us or any of His creations; that He is always a just and loving God; that He is all things; knows all things; knows all and is all Truth. Had I the understanding of all men, it is beyond my power to express to you, even in an humble way, what this Holy Birth means to us.


"We are fully convinced and we hope you also will see that this Great Master and Teacher came to us that we might have a fuller understanding of life here on earth; that all mortal limitations are but man-made and in no other way should they be interpreted. We know that this greatest of all teachers came to show more fully that the Christ in Him and through whom He did His mighty works is the same Christ that lives in you, in me, and in all mankind; that we can, by applying His teachings, do all the works that He did and greater works. We believe that Jesus came to show more fully that God is the one great and only Cause of all things, that God is All.


"You may have heard it said that we believe Jesus received his early training among us. Perhaps some of us do believe. Let that be as it is. Does it matter whether His training came from among us or as a direct revelation from God, the one source where all things really exist? For when an idea from God-mind has been contacted by one man and sent out through the spoken word, cannot one, or all, again contact that thought in the Universal? Because one has contacted the idea and sent it out, it does not follow that it is his particular possession. If he did appropriate and hold it, where would be room for receiving? To receive more we must give out what we have received. If we withhold what we receive, stagnation will follow and we will be like the wheel that generates power from the water and suddenly, of its own volition, begins to withhold the water which it is using. It will soon find itself stifled with inert water. It is only when the water is allowed to flow freely through that it is of value to the wheel to create power. Just so with man. When he contacts God's ideas he must give them out in order to receive the benefit from them. He must allow all to do the same, that they may grow and develop as he is growing.


"I am of the opinion that what Jesus taught came to Him as a direct revelation from God, as it no doubt has come to our great teachers. Are not all things of God, and whatever one human being can do, cannot all do? We believe you will be convinced that God is ever willing and ready to reveal Himself to all men as He has revealed Himself to Jesus and others. The only requisite necessary is for each one to be willing to let God come forth. We believe, with all sincerity, that all are created equal; that all men are one man; that the mighty works done by Jesus can and will be done by all. You will see there is nothing mysterious about these works. The mystery is only in man's mortal concept of them.


"We fully realize you have come to us with minds more or less skeptical. We trust you will live with us and know us as we really are. Our work and the results accomplished, we leave you to accept or reject, as you will."
 

 

Chương 2

Người đạo sĩ thành Benares


Thành phố Benares là một nơi có nhiều di tích lịch sử và có rất nhiều tu sĩ. Bất cứ một người Âu Mỹ nào đến đây cũng ngạc nhiên về thành phố dân cư đông đúc, nhà cửa san sát và khắp nơi nhan nhản những đền thờ, lăng tẩm đồ sộ. Có những ngôi đền trông th́ thật cổ kính, trang nghiêm nhưng khi bước vào trong bạn sẽ thấy ǵ ? Một số tín đồ hành lễ ngây ngô vừa cầu nguyện, vừa rung một cái chuông nhỏ để lời cầu xin của họ thấu đến tai các vị thần. Một số khá đông đạo sĩ ngồi trong các tư thế du già (yoga) cực kỳ lạ lùng, khó tập luyện để tín đồ đến bỏ tiền vào trong bát nhỏ bầy trước mặt họ. Chúng tôi có cảm tưởng như họ làm xiếc biễu diễn kiếm ăn hơn là thực hành một pháp môn tu hành chân chánh.

Trong khi mọi người trong phái đoàn đang quay phim những đạo sĩ ngồi trên bàn đinh, các đền thờ to lớn, th́ giáo sư Spalding thong thả đi dạo ngoài bờ sông. Ông nh́n thấy một đạo sĩ vóc người lực lưỡng đang đi gần đó. Như có một mănh lực vô h́nh nào đó thúc đẩy, Spalding muốn vượt lên để nh́n cho rơ, ông bèn rẽ qua một lùm cây rậm rạp, để bắt cho kịp vị đạo sĩ nọ. Vừa đi được vài bước, ông đă giựt ḿnh v́ gặp một con rắn hổ mang to lớn chận lối. Rắn hổ là một loại rắn cực độc, hàng năm có hàng ngàn người bị rắn cắn chết, v́ ở xứ Ấn giống rắn này có nhiều vô kể, xuất hiện khắp nơi. Tiến thoái lưỡng nan, chưa biết phải làm ǵ th́ con rắn đă trườn tới ngẩng cao cổ phun ph́ ph́. Bất ngờ, vị đạo sĩ ở đâu đi đến, ông chẳng nói ǵ chỉ bước thẳng vào giữa con rắn và giáo sư Spalding. Vị đạo sĩ dơ tay vuốt nhẹ, con rắn từ từ ḅ vào trong bụi rậm, mất hút trước sự ngạc nhiên của giáo sư Spalding. Vị đạo sĩ mỉm cười thong thả tuyên bố :

- Cái phàm ngă hữu h́nh, hữu hoại không thể làm việc này mà đó là cái Chân Ngă thâm diệu, cái mà ta gọi là thượng đế ngự trong tôi và muôn loài đă khiến con rắn bỏ đi, khi hoàn toàn gạt bỏ cái phàm ngă bên ngoài để cho cái Chân Ngă tự biểu lộ, và hành động th́ không chuyện ǵ có thể xảy ra nữa. Bằng cách phát triển toàn vẹn t́nh thương và bác ái của thượng đế cho nó xuyên qua ḿnh và ban rải cho muôn loài ta sẽ cảm hoá được các thú dữ. Khi ông vừa gặp con rắn, một tư tưởng sợ hăi phát ra, và tôi đă nhận được tư tưởng này; ngoài ra h́nh như ông có ư muốn gặp tôi ?

Giáo sư Spalding ấp úng :

- Chúng tôi đang suy tầm các hiện tượng huyền bí Á châu – thú thật là tôi đang cảm thấy hoang mang và thất vọng về những điều nh́n thấy ngoài chợ nhưng khi vừa nh́n thấy ông, tôi linh cảm có một sự ǵ khác thường - - H́nh như có một mănh lực vô h́nh nào xui khiến.

Đạo sĩ chăm chú nh́n giáo sư rồi ra dấu cho ông này ngồi xuống bên gốc cây cổ thụ gần đó. Đạo sĩ lên tiếng :

- Sáng nay trong cơn thiền định, tôi nhận được một thông điệp về các ông, do đó tôi mới rời am thất đi dạo bên ngoài. Phải chăng các ông muốn t́m hiểu về phép tu Du Già (Yoga)? Đáng lư không bao giờ tôi tiết lộ điều này , nhưng tôi đă nhận thông điệp phải giúp đỡ các ông vậy th́ ông cứ hỏi, tôi sẽ cố gắng trả lời tùy theo sự hiểu của ḿnh.

- Xin ông cho chúng tôi được biết về khoa Du Già (Yoga).

Đạo sĩ yên lặng trong chốc lát và lên tiếng :

- Không ai biết rơ pháp môn Du Già (Yoga) bắt đầu từ lúc nào trong lịch sử. Kinh sách Ấn độ giáo (Hinduism) nói rằng thần Shiva truyền dạy môn này cho hiền triết Gherandạ Nhà hiền triết dạy lại cho các đệ tử của ông nhưng chỉ có Marteyanda là lănh hội được các tinh túy và phổ biến trong giới trí thức thời đó.

Du Già (Yoga) là một khoa học bao gồm nhiều thứ từ : thiên văn, địa lư, triết học, toán học, v..v.. Pháp môn tôi được truyền dạy gọi là Hatha Yoga, chỉ là một phần nhỏ của toàn bộ Yogạ Theo lời sư phụ tôi th́ trong thời cực thịnh, Yoga phát triển khắp nơi và lôi cuốn giới hiền triết, trí thức rất đông. Theo thời gian, thời hoàng kim đă qua, nhân loại đă sa vào hố thẳm của sa đoa. vật chất, bị lôi cuốn vào các cám dỗ xác thịt. Để chống lại sự phá sản tâm linh này, các hiền triết đă hội thảo để t́m một giải pháp. Sau cùng họ đi đến kết luận là cho phép truyền dạy một phần của môn Yoga cho quần chúng, nhằm đem lại một giải pháp cho giai đoạn lúc đó. Phần được truyền dạy này trích ở chương Yuj (cái ách) gồm các phương pháp trói buộc tinh thần lẫn thể xác trong một kỷ luật khắc khe để đạt mục đích tập trung Tâm và Thân làm một với bản thể trời đất. Từ đó phần này được truyền bá khắp nơi và tồn tại đến ngày naỵ V́ trích ở chương Yuj, nên nó được gọi là Yogạ Nên nhớ đây chỉ là một phần rất nhỏ của môn Yoga nguyên thuỷ, vậy mà phần nhỏ này cũng chỉ rất ít người hiểu rơ một cách đứng đắn. Đa số đă hiểu sai nên mới có các lối tập luyện kỳ dị, các lối tu khổ hạnh điên rồ, các tư thế lố bịch. Như các ông thấy, có các đạo sĩ nằm bàn đinh, dơ cánh tay lên trời cho đến khi nó khô liệt. Sự luyện tập như thế không có ích ǵ mà cũng chả mang lại một kết quả ǵ. Đó là những kẻ làm hoen ố danh dự một môn khoa học như Yogạ Đối với đa số, Yoga đă bị hạ thấp xuống thành một môn thể dục để thân thể khoẻ mạnh cường tráng.

Tuy thế, nếu luyện thế đúng cách nó vẫn mang lại nhiều kết quả tốt cho thể xác. Nhưng các đạo sĩ (Yogi) lại khác, họ biết rằng luyện tập môn này sẽ giúp họ khám phá các năng lực tiềm tàng, mầu nhiệm, giúp họ đạt các phép thần thông biến hoá.

Để luyện ư chí, họ tập trung năng lực vào các việc như hành xác, bắt nó chịu các thử thách cực độ như phơi nắng, dầm sương, ngồi trên than hồng, đứng bằng tay, tréo chân lên cổ, nhịn đói, nhịn khát, lấy gươm xiên vào da thịt, v..v…
 

** YouTube 4 vn **


Để chứng minh quyền năng ư chí, họ đem tṛ này ra biễu diễn cho quần chúng để t́m cách vừa kiếm tiền, vừa hưởng sự kính trọng của đám dân chúng khờ khạo.

Mục đích của Yoga đâu phải làm tṛ lạ mắt cho người đời kính phục.

Giáo sư Spalding ngắt lời :

- Nhưng ta có nên trách họ không ? Nếu các đạo sĩ chân tu dấu kín các phép tu chân truyền th́ sự hiểu lầm làm sao tránh khỏi.

Đạo sĩ mỉm cười thong thả giải thích :

- Một ông vua có khi nào phơi bày ngọc ngà, châu báu cho mọi người coi chơi. Ông ta cất dấu cẩn thận có phải thế chăng? Pháp môn Yoga c̣n ǵ quư bằng nên người tu chân chính không khi nào đem rao bán ngoài chợ. Kẻ nào thành tâm muốn học hỏi phải ra công t́m kiếm và đó là phương pháp duy nhất. Một danh sư không cần quảng cáo rầm rộ v́ không cần các đệ tử xúm vào xưng tụng. Trái lại, ông tuyển chọn đệ tử gắt gao và chỉ truyền dạy các giáo lư bí truyền khi người đệ tử tỏ ra xứng đáng. Khoa Yoga bí mật v́ cách luyện tập rất nguy hiểm đối với người non kém, chưa đủ khả năng. Khai mở các bí huyệt đâu phải tṛ chơi tầm thường.

Có rất nhiều môn Yoga khác nhau, nhưng tôi tu luyện theo môn Hatha Yoga, nhắm việc chủ trị xác thân trước khi chủ trị tinh thần. Lúc đầu ta phải luyện tập bắp thịt và bộ máy hô hấp cho thật thuần thục, sau đó mới đi vào thần kinh, năo tuỷ. Nếu tập đúng cách, sức khoẻ sẽ tăng cường, sống lâu và có ư chí mạnh mẽ. Đó chỉ là giai đoạn nhập môn, nó đ̣i hỏi ít nhất từ một đến bốn năm mới đáng kể. Thân thể có cường tráng, tinh thần có dũng mănh mới có thể tiếp tục bước vào giai đoạn kế tiếp.

Giáo sư Spalding gật gù :

- Như thế môn này khác phương pháp thể dục của người Âu Mỹ thế nào ? Chúng tôi cũng có các cách khiến thân thể khoẻ mạnh.

Đạo sĩ bật cười lớn :

- Người Âu Mỹ biết cách làm thân thể nẩy nở trên bộ da, bắp thịt, làm sao so với lối luyện tập của người Á châu, vốn chú trọng từ bên trong ra đến bên ngoài. Trước hết có bốn cách thức căn bản : Nghỉ ngơi làm xoa dịu thần kinh, cân năo. Tĩnh toa. để tập trung ư chí. Điều tức để tẩy uế thân thể, khu trục các chất cặn bă, và Khí công để kiểm soát hơi thở. Hăy lấy một thí dụ giản dị như việc nghỉ ngơi, hăy quan sát con mèo khi nó nằm yên hay ŕnh bên lỗ chuột. Con mèo biết cách dưỡng sức, bảo tồn sinh lực không hao phí chút nào. Mọi cử động tư thế là cả một sự suy nghĩ, kiểm soát để thoải mái tối đạ Người Âu các ông tưởng ḿnh biết nghỉ ngơi, nhưng thật ra các ông không biết ǵ cả. Các ông ngồi trên ghế một lúc rồi quay bên này, ngả bên nọ. Khi th́ tréo chân, lúc lại dang tay, coi th́ thoải mái nhưng trí óc các ông hoạt động liên miên từ việc này đến việc nọ. Như thế chỉ là hoạt động ầm thầm chứ đâu phải nghỉ ngơi. Loài vật biết cách dươong sức bởi v́ chúng có bản năng d́u dắt mà bản năng là tiếng nói tự nhiên. Loài người được hướng dẫn bằng lư trí, nhưng thay v́ làm chủ lư trí, họ đă không kiểm soát được bộ Óc của họ, nên hậu quả là cả hệ thống thần kinh thể xác thể đều bị ảnh hưởng. Sự nghỉ ngơi hoàn toàn gần như không có.

Giáo sư Spalding thở dài thú nhận :

- Đó là điều chúng tôi không bao giờ nghĩ đến, nhưng liệu ông có thể nói rơ hơn về khái niệm sơ đẳng môn Hatha Yoga không ?

- Tôi chỉ có thể nói một vài tư thế giúp con người tăng cường sức khoẻ thôi. Có hai mươi tư thế (Asana), mà ai cũng có thể tập luyện để tăng cường sinh lực. Các tư thế này có ảnh hưởng đến một số bí huyệt khiến nó tác động lên các cơ quan suy yếu, giúp nó hoạt động trở lại mạnh mẽ hơn. Khoa học Tây phương đă chứng minh rằng ngoài các mạch máu chính, thân thể con người c̣n có hàng triệu các vi ti mạch chạy khắp nơi để đưa dưỡng khí nuôi cơ thể. Nếu một cơ quan hay bắp thịt ít hoạt động hay suy yếu, th́ số lượng các vi ti mạch (capillaries) cũng giảm bớt đi. Tập thể thao hay bơi lội có thể làm các mạch máu nhỏ này gia tăng hoạt động, khiến cơ quan phục hồi. Cũng như thế, tập các tư thế Yoga sẽ làm luồng hoa? hầu (Prana) lưu chuyển, kích động các cơ quan từ trong khiến nó hoạt động nhưng tập Yoga làm nó hoạt động đúng với hiệu năng sẵn có. Do đó, nó mang lại nhiều hiệu quả thần diệu hơn. Con người không có lo ǵ bệnh tật nữa, nếu có bệnh cũng sẽ khỏi hoàn toàn.

Giáo sư Spalding lắc đầu :

- Tôi không tin người Âu Mỹ sẽ chấp nhận việc tập Yoga chữa được hết bệnh tật.

Đạo sĩ mỉm cười :

- Một thân thể khoẻ mạnh, cường tráng làm sao có thể bị bệnh được ? Bệnh tật là do sự mất quân b́nh trong cơ thể. Người Âu Mỹ các ông chỉ biết hoạt động chứ đâu biết nghỉ ngơi, thế đă là lư do gây nên các bệnh thần kinh rồi.

- Thôi được, xin ông nói thêm về cách tập luyện ra sao ?

Đạo sĩ thong thả giải thích :

- Việc đầu tiên là phải ngồi cho thoải mái, ngồi trên ghế, nhất là các ghế bành êm ái rất có hại cho xương sống, con đường vận hà chính của luồng hoa? hầu (Prana), và là nguyên nhân gây nên các chứng đau lưng, bại xuội, phong thấp. Phép ngồi thật ra rất dễ, chỉ cần ngồi xếp bằng dưới đất, không dựa vào đâu, không nghiêng ngả bên nào, giữ cở thể thật thăng bằng, xương sống phải thật thẳng và thở nhẹ, đều đặn. Ai cũng có thể thở nhẹ trong vài phút nhưng sau đó sẽ lại thở loạn xạ ngaỵ Đó là v́ bộ Óc quen hoạt động, quen náo nhiệt. Hăy giữ cho ḷng yên tĩnh, vắng lặng không bận rộn vào mọi chuyện vớ vẩn. Lúc đầu chưa quen chủ trị tư tưởng th́ hăy nghĩ đến một cái ǵ đẹp đẽ, mỹ lệ như bông hoa, gịng suối. Đó là bước đầu cho việc nghĩ ngơi.

Giáo sư Spalding buột miệng :

- Như thế đâu có ǵ khó khăn lắm.

Đạo sĩ bật cười :

- Nghỉ ngơi cần ǵ phải khó khăn, phiền phức. Khi giữ được xương sống thẳng và thở hít đều đặn, th́ luồng chân khí sẽ lưu thông khắp cơ thể và từ đó sẽ điều chỉnh các chỗ bế tắc, ứ đọng trong châu thân. Cách thứ hai là nẳm ngửa trên mặt đất, chân duỗi thẳng, đưa hai ngón chân cái ra ngoài. Hai tay buông xuôi bên thân ḿnh, mắt nhắm lại để sức nặng toàn thân phân phối đều trên sàn gạch. Nên nhớ phải nằm trên sàn chứ không phải trên giường, nhất là giường nệm, v́ giường mềm mại khiến thân thể lệch lạc không đều. Hăy nằm cho thoải mái, không nên cố gắng thái quá, đầu óc phải thảnh thơi, chớ suy nghĩ hay mong mỏi điều ǵ.

** YouTube 5 vn **

Tư thế này sẽ xoa dịu bộ thàn kinh khiến nó lấy lại trạng thái quân b́nh. Nên nhớ nền tảng chính của Hatha Yoga dựa trên sự nghỉ ngơi, dưỡng sức chứ không phải hành xác với các tư thế vặn vẹo kỳ cục.

- Nhưng Yoga có các tư thế đó cơ mà ?

- Vấn đề đứng ngồi với một tư thế đặc biệt trong một khoảng thời gian không quan trọng, nhưng sự tập trung ư chí để thi hành tư thế đó một cách đứng đắn sẽ thúc đẩy các mănh lực tiềm tàng trong cơ thể con người. Những mănh lực này là bí mật của thiên nhiên, nó chỉ phát triển khi người luyện tập phải kèm theo một phương pháp thở (Khí công). Tư thế giúp con người chủ trị giác quan, hơi thở giúp con người mở cửa vào thế giới tinh thần. Nên nhớ tinh thần và thể xác luôn đi song đôi. Không thể có một tinh thần bạc nhược trong một thể xác tráng kiện, hay tinh thần minh mẫn trong một thể xác bệnh hoạn. Trong giai đoạn cao của Hatha Yoga, th́ hành giả sẽ phải tham thiền nhập định rất lâu, thế ngồi của thể xác là điều quan trọng v́ nó giúp sự tập trung tư tưởng được dễ dàng, giúp hành giả tinh tấn, tăng cường ư chí….

- Nhưng tôi vẫn thắc mắc về các tư thế kỳ lạ, vặn vẹo thân h́nh của Yoga như chổng ngược đầu, vắt chân lên cổ.

- Bạn nên nhớ, trung tâm bí mật của hệ thần kinh rải rác nhiều chỗ trong cơ thể. Mọi tư thế có công dụng riêng, ảnh hưởng đến một bí huyệt nhất định. Nhờ kích động các bí huyệt đó mà ta có thể ảnh hưởng các bộ phận trong cơ thể, cũng như hoạt động trí năo. Các tư thế lạ lùng chỉ dùng để kích động các bí huyệt mà thôi. Ngoài ra không c̣n ǵ khác nữa. Bạn phải nhớ kỹ rằng ngoài các tư thế c̣n có phương pháp khí công nữa, chứ không phải chỉ vận động các bắp thịt thôi. Người Tây phương tập thể thao, vận động thể xác mạnh mẽ, tiêu phí sức lực để làm nẩy nở bắp thịt. Người Á châu tin rằng chính cái sức mạnh ở trong mới điều khiển và chỉ huy các bắp thịt. Bạn cho rằng phương pháp chổng ngược chân lên trời (trồng cây chuối) là lố bịch ư ? Tư thế này dồn máu xuống bộ Óc do trọng lượng của nó. B́nh thường máu được đưa lên óc do sức vận động của tim. Sự khác biệt ở chỗ để máu tự nhiên dồn xuống óc xoa dịu cân năo rất có lợi cho ai làm việc nhiều bắng trí óc và giúp quả tim ngơi nghỉ không phải cố gắng để đưa máu lên óc. Nhờ tim được nghỉ mà tránh được các chứng đau tim. Khi thực hành các tư thế này phải cẩn thận, làm chậm răi, từ từ, có ư thức, giữ vững tư thế trong một thời gian, không nên cố gắng thái quá. Nên nhớ ch́a khoá là ở sự nghỉ ngơi thong thả, chứ không phải hùng hục. Môn Yoga giúp thân thể tự động điều hoà trong sự yên tĩnh, thăng bằng, khác hẳn các lối tập thể thao co tay, múa chân ào ạt của người Âu. Làm thế tuy bắp thịt cơ thể nẩy nở, nhưng thân thể náo động, có hại cho thần kinh.

Giáo sư Spalding im lặng không thốt nên lời nào, tất cả những ǵ người đạo sĩ này nói ra đều hợp lư, rất khoa học, không hề có tính chất mê tín dị đoan như ông đă nghe các tu sĩ khác thần thánh hoá. Một người Âu trung b́nh vốn coi rẻ dân tộc Á châu như loại người chậm tiến, di sản một miền nóng bức, thiếu ăn, chắc phải ngạc nhiên khi thấy từ thời xưa người Ấn đă được giáo dục một cách tập thể dục tối tân, tinh vi, và khoa học như thế.

Đạo sĩ Ấn nh́n ông mỉm cười như đoán được ư nghĩ :

- Yoga là khoa học của vũ trụ, nó không những chỉ áp dụng riêng đối với dân Á châu, mà là khắp nơi. Tôi không thể đi sâu vào chi tiết nhưng dù sao duyên hội ngộ lần này cũng tốt đẹp. Tôi giúp ông bạn một ch́a khoá bí truyền này. Luật thiên nhiên định rằng trung b́nh con người thở với số nhịp là 21.600 lần mỗi ngày. Sự hô hấp quá nhanh làm gia tăng nhịp điệu nói trên và thu ngắn sự sống. Sự hô hấp chậm răi, kéo dài, đều đặn là tiết kiệm sinh lực và kéo dài sự sống, đó là bí quyết khoa Khí công. Mỗi hơi thở tiết kiệm sẽ tích tụ lại thành một số dự trữ giúp ta kéo dài sự sống. Các đồ ăn có chất kích thích hay hút thuốc làm cho hơi thở dồn dập, giảm số lượng dưỡng khí vào phổi , tất nhiên làm ta giảm thọ nhanh. Có lẽ ông bạn c̣n nghi ngờ ? Khoa Yoga ư thức rất rơ sự liên quan chặt chẽ giữa cơ quan hô hấp và tuần hoàn. Cả hai cơ quan này liên hệ mật thiết với hệ thần kinh. Bộ thần kinh là ch́a khoá vào cánh cửa tâm linh, do đó, hơi thở chính là lối vào tinh thần. Nhưng hơi thở chỉ là sự biểu lộ trên địa hạt vật chất của một sức mạnh tế nhị hơn. Sức mạnh này mới là cột trụ sinh hoạt xác thể, và chính cái sức mạnh vô h́nh, vô ảnh ẩn tàng trong cơ thể chúng ta mới thực sự điều khiển đời sống. Khi nó rời xác thân th́ hơi thở ngừng lại và sự chết đến. Sự kiểm soát hơi thở giúp ta làm chủ một phần nào luồng sinh lực vô h́nh này. Khi sự chủ trị thân xác được thực hiện đến mức cao siêu, con người sẽ kiểm soát được sự vận động các cơ quan trong thân thể như tim, gan ,bao tử, phổi…..

- Làm sao có thể được, tim ngừng đập là chết rồi c̣n ǵ ? – Giáo sư Spalding kêu lớn.

- Bạn không tin ư, được bạn hăy để tay lên ngực tôi.

Giáo sư Spalding để tay lên ngực đạo sĩ và tay kia bắt mạch. Một sự rung động lạ lùng xảy ra, nhịp tim đập của đạo sĩ từ từ chậm dần và ngưng hẳn. Đây là một ảo tưởng ? Giáo sư vội đưa tay xem đồng hồ, đúng một phút im lặng, rồi quả tim bỗng bắt đầu đập trở lại. Đạo sĩ mỉm cười giải thích :

- Bây giờ th́ ông tin rồi chứ ? Có lẽ ông nghĩ rằng điều này phản khoa học, tôi xin lấy thí dụ sau mà ông có thể kiểm chứng được. Con voi thở chậm hơn con khỉ do đó nó sống lâu hơn. Quan sát lối hô hấp loài vật như con rắn chẳng hạn, nó thở rất chậm nên sống lâu hơn con chó. Nếu nghiên cứu kỹ, bạn sẽ thấy sự liên hệ mầu nhiệm giữa hơi thở và sự sống lâu. Một kẻ sống đời êm đềm, sống lâu hơn người có đời sống vội vă, náo nhiệt. Có các giống dơi ngủ suốt mùa đông. Chúng treo cẳng trên vách đá ngưng thở nhiều tháng, và chỉ tỉnh giấc khi xuân đến. Con gấu cũng ngủ suốt mùa đông như thế. Tại sao loài vật làm được mà loài người lại không làm được ? Đó đâu phải phản khoa học hay phản thiên nhiên. V́ các khoa học gia kết luận rằng điều này không thể xảy ra nên không bao giờ họ nh́n thêm điều ǵ nữa. Đối với người Á châu, bất cứ việc ǵ cũng có thể xảy ra và thiên nhiên là ông thầy rất tốt.

- Nhưng như thế đâu có lợi ǵ, sống lâu thêm vài tháng, vài giờ…
 

 

** YouTube 6 vn **


Đạo sĩ mỉm cười một cách bí mật trả lời :

- Một ngày nào đó, bạn sẽ hiểu lời tôi nói. Tôi không thể giải thích ǵ thêm lúc này. Bạn có tin rằng nếu luyện tập pháp môn này đến mức cao siêu, ta có thể thắng đoạt tử thần không ? Bạn đồng ư rằng ngưng thở là chết, và nếu ta giữ được hơi thở th́ ta bảo tồn sự sống có đúng không?

- Dĩ nhiên là như thế.

- Bạn thân mến, một đạo sư có thể cầm giữ hơi thở không những trong nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm và nhiều thế kỷ, tức là họ có thể kéo dài sự sống theo ư muốn có đúng không ? Ông bạn đă đồng ư ràng hơi thỏo ở đâu tức là sự sống ở đó kia mà.

- Nhưng làm sao có ai giữ được lâu như thế ?

- Khi bạn lên dăy Hy Mă Lạp Sơn, bạn sẽ gặp những người này và điều này không lạ lùng như bạn nghĩ. Khoa Yoga chân truyền có thể đem lại nhiều quyền năng bất ngờ, lạ lùng, nhưng đă mấy ai khổ công tập luyện. Trong thời buổi điên đảo hiện nay, con người mê mải trong danh lợi, phù phiếm, các ảo ảnh cuộc đời, làm ǵ có th́ giờ suy nghĩ đến sinh hoạt tâm linh. Đó cũng là lư do những người thực sự mong muốn một trạng thái tâm linh thường ẩn ḿnh nơi hoang vắng, các bậc đó không bao giờ phải đi t́m đồ đệ mà người t́m đạo phải đi kiếm các ngài…

Giáo sư Spalding thắc mắc :

- Nhưng sống lâu trong hoang vắng để làm ǵ chứ ?

- Hiện giờ đầu óc bạn vẫn c̣n suy nghĩ như người Âu, nghĩa là lư luận theo một chiều. Muốn học hỏi bạn phải cởi bỏ các thành kiến sẵn có, th́ mới mong học hỏi những điều mới lạ. Một thời gian nữa bạn sẽ hiểu điều tôi muốn nói . Dĩ nhiên ,các bậc chân sư kéo dài đời sống v́ những lư do chính đáng, cao cả chứ đâu tham sống sợ chết như người thường. Trên dẫy tuyết sơn có những vị đă sống cả trăm năm, có vị sống đến cả ngàn năm. Tất cả đều có những sứ mạng riêng nên họ giữ nguyên thể xác. Một đạo sĩ thấp kém như tôi không đủ kiến thức để có ư kiến. Tôi cho bạn biết trước một điều, bạn sẽ cầm về Anh móng tay của một vị Lạt Ma đă sống hơn bốn trăm năm.

- Liệu ông có thể cho chúng tôi biết làm cách nào để kéo dài đời sống như thế được ?

- Có ba phương pháp kéo dài sự sống. Phương pháp thứ nhất là luyện tập tất cả các tư thế (asana) cùng với môn khí công bí truyền cho thật thuần thục tuyệt hảo. Phương pháp này chỉ có thể thực hiện dưới sự chỉ dẫn của một vị danh sư đă có kinh nghiệm v́ sai một ly đi một dặm, đó là chưa kể người tập phải có một nếp sống tinh khiết, trong sạch hoàn toàn. Một ư niệm xấu khi thiền định có thể làm loạn động hơi thở đưa đến t́nh trạng “tẩu hoa? nhập ma”, điên loạn hoặc chết ngaỵ Phương pháp thứ hai là sử dụng dược chất, pha chế các loại thuốc đặc biệt các loại cây cỏ hiếm hoi, phương pháp này cũng chỉ một thiểu số biết cách bào chế và chỉ truyền lại cho các đệ tử riêng. Phương pháp luyện đơn này chỉ được dùng trong trường hợp đặc biệt v́ nó có các hiệu quả không thể lường được. Phương pháp thứ ba là lối mở các kinh kỳ bát mạch, sinh tử huyền quan rất khó giải thích theo khoa học thực nghiệm. Tôi chỉ có thế nói như thế c̣n tin hay không là quyền của ông. Trong óc con người có một lỗ trống rất nhỏ nằm sâu bên trong, và có một nắp đậy bên ngoài . Nơi cuối cùng của đốt xương sống là sào huyệt của luồng hoa? hầu Kundalinị Sự truỵ lạc, trác táng làm tiêu hao sinh lực, khiến con người trở nên già nua, cằn cỗi. Trái lại, nếu biết kiểm soát ta có thể tiết kiệm sinh lực. Khi một người làm chủ toàn xác thân, y sẽ kiểm soát được luồng hoa? hầu này. Chỉ những đạo sĩ Yogi thượng thặng mới dám luyện tập đến luồng hoa? hầu, khiến nó thức tỉnh đi ngược lên trên theo xương sống khai mở các bí huyệt, các trung tâm quan trọng nằm dọc theo lộ tŕnh. Khi mở được nắp đậy lỗ hổng ngay trong óc để luồng hoa? hầu Kundalini chui vào cư ngụ nơi đây, ta sẽ khai mở nhiều quyền năng, cải lăo hoàn đồng kéo dài sự sống. Sự khó khăn nhất là việc mở được cái nắp đậy trên óc, việc này có khi cần sự trợ giúp của một danh sư sử dụng nội lực giúp y đả thông kinh kỳ bách mạch. Việc này rất khó v́ kẻ táo bạo luyện công dễ mất mạng như chơi. Người thành công có thể kéo dài sự sống như ư muốn và khi chết thể xác họ vẫn tươi tốt như khi c̣n sống, và không hề hư hại…

Giáo sư Spalding im lặng, tât cả những điều vị đạo sĩ tiết lộ, thật lạ lùng, ngoài tầm hiểu biết của khoa học. Chắc chắn khoa sinh lư học không thể chấp nhận luồng sinh lực vô h́nh này. Có lẽ nó xuất phát từ trí tưởng tượng của các đạo sĩ chất phác, mê tín chăng ? Có nên tin hay không ?

Như đọc đưọc tư tưởng của giáo sư, đạo sĩ mỉm cười :

- Tôi biết ông bạn nghi ngờ v́ các điều đó hoàn toàn trái với lư thuyết khoa học nhưng bạn hỡi, minh triết bao trùm mọi khoa học, nó là khoa học vũ trụ, so với môn khoa học thực nghiệm th́ môn này chỉ là một mănh vụn.

- Một ngày nào đó, khoa học sẽ tiến đến vấn đề tôi vừa tŕnh bày, lúc đó t́nh trạng hiểu biết của nhân loại đă tiến hoá cao hơn bây giờ, nên có thể hiểu biết một cách chính xác hơn. Bạn nên hiểu luật vũ trụ định rằng khoa học thực nghiệm phải luôn luôn đi song song với sự tiến hoá của nhân loại. Vài trăm năm trước có phải khoa học lúc đó thật là ấu trĩ so với bây giờ hay không ? Nếu đi ngược ḍng lịch sử, bạn có thấy rơ mực tiến hoá của khoa học và nhân loại luôn luôn bổ túc cho nhau không ? Thời tiền sử, nói về nguyên tử lực là điều vô lư và có nói cũng chả ai hiểu. Thời Trung Cổ, nếu có gỉang giải về không gian sẽ bị kết án là phù thuỷ. Lịch sử Âu châu đă chứng minh rằng những người thông minh quá đều bị chế nhạo, là điên khùng rồi bị thiêu sống. Đó cũng là lư do các bậc danh sư không hề xuất hiện và các phương pháp tu hành được ǵn giữ cẩn thận, bí mật, chỉ những người thành tâm mới được dạy bảo.

- Nhưng có cách nào một người Âu như tôi được truyền dạy các điều này không ?

- Được lắm chứ, nhưng liệu bạn có sẵn sàng từ bỏ chốn phồn hoa đô hội để ẩn ḿnh nơi hoang vu, tịch mịch tu học không ?

- Điều này…cũng được, nhưng tôi phải thu xếp công việc đă….

- Bạn có sẵn sàng từ bỏ mọi hoạt động vui thú phàm thục để hoàn toàn dành cho việc thực hành pháp môn Yoga – không phải vài ngày, vài giờ , mà trọn đời.

- Nhưng chảng lẽ trọn đời chỉ có làm thế thôi…có lẽ khi tôi già đă…

Đạo sĩ bật cười :

- Bạn mến, Yoga không phải một tṛ tiêu khiển trong lúc nhàn rỗi hoặc khi tuổi già bóng xế. Người Âu các ông sao ham hoạt động và tham lam quá vậy ?

Giáo sư Spalding đỏ mặt căi :

- Nhưng tập Yoga để làm ǵ ? Kéo dài đời sống khổ hạnh thêm vài năm có ích lợi ǵ đâu ?

Đạo sĩ nghiêm mặt :

- Ai bảo mục đích Yoga là cầu sống lâu ? Sống khổ hạnh mà không có ư nghĩa để làm ǵ ? Phần lớn các đạo sĩ luyện thân thể cường tráng sống lâu hơn người khác chưa thấu hiểu được mục đích tối hậu. Bạn nghĩ các bậc chân sư chỉ lo sống thêm ít lâu thôi hay sao ? Người đời thường chỉ hiểu một chiều, và đi ngay đến kết luận. Chinh phục thể xác chỉ là bước đầu đưa con người đến việc chinh phục tinh thần. Giữ cho ḿnh không hành động xấu th́ dễ nhưng giữ cho tâm không nghĩ xấu mới khó khăn gấp bội, và đ̣i hỏi nổ lực phi thường. Đời người quá ngắn, việc tập luyện kiểm soát thể xác đă đ̣i hỏi nhiều năm, không đủ để tu tập tinh thần. Do đó, các đạo sĩ mới kéo dài thêm đời sống. Môn Hatha Yoga như tôi nói chỉ nhắm mục đích chủ trị xác thân, khi thành công phải tu tập thêm Raja Yoga nhắm chủ trị tinh thần nữa chứ. Hatha Yoga dọn đường cho Raja Yoga …

- Thế tại sao ta không tập Raja Yoga ngay có hơn không ?

Đạo sĩ lại bật cười :

- Người Âu thật hấp tấp, muốn đi xa phải đi từ từ, phải tập đi trước khi tập chạy chứ. Đốt giai đoạn là bảo đảm thất bại. Khi thể xác chưa làm chủ nổi th́ làm sao đă đ̣i làm chủ tinh thần…

Giáo sư Spalding nôn nóng :

- Nhưng làm sao tôi có thể học môn Raja Yoga, bạn có thể chỉ cho tôi thêm về môn này không?

- Này ông bạn, việc ǵ cũng có duyên phận, nếu đủ duyên bạn sẽ gặp thầy hay bạn giỏi. Hăy có một ḷng khao khát chân lư rồi định mệnh sẽ dẫn dắt bạn.

- Nhưng tôi đâu quen biết ai, các bậc chân sư đâu có tên trong điện thoại niên giám – tôi làm sao gặp các ngài ?

Đạo sĩ mỉm cười một cách bí mật.

- Hăy vững niềm tin, ḷng khao khát cầu đạo có một tư tưởng mạnh mẽ và chắc chắn sẽ được đáp ứng. “Hăy gơ cửa rồi cửa sẽ mở, hăy t́m rồi sẽ gặp”, bạn quên rồi sao ?

Giáo sư Spalding giật ḿnh, một lần nũua câu nói quen thuộc trong Kinh thánh lại được nhắc nhở bởi một đạo sĩ xứ Ấn. Ông bối rối không biết nói ǵ. Đạo sĩ mỉm cười nói tiếp :

- Người Âu có tính ṭ ṃ, cái ǵ cũng muốn biết. Thực hành mới là quan trọng, chứ biết suông để làm ǵ ? Phương pháp rèn luyện tinh thần cũng giống như thể xác thôi. Nếu tập lueỵ6n thể thao đều đặn th́ bắp thịt sẽ nảy nở, rắn chắc; th́ rèn luyện tinh thần cũng vậy. Nhiều người có các tính xấu như ích kỷ, tham lam, hà tiện, đa nghi… Do đó, họ hành động không tốt với người khác. Đa số cho rằng đó là bản tính tự nhiên, không đổi được. Thật ra, nếu muốn ta có thể sửa đổi mọi tính t́nh. Nếu một tập luyện đúng cách làm bắp thịt nở nang th́ sự kiểm soát thích nghi sẽ tạo các đức hạnh cần thiết . Kinh Rig Veda đă ghi rơ : “Kẻ nào quan niệm sự tiến hoá một cách rơ ràng chính xác sẽ ư thức được quyền lợi và hạnh phúc của ḿnh. Muốn trở nên một bậc toàn thiện ta phải có các đức hạnh và can đảm. Người nào muốn cải thiện xă hội phải biết cải thiện ḿnh trước đă. Phải biết quên quyền lợi riêng để chú tâm vào phận sự chung. Phải hiểu rằng các cơ hội tiếp xúc với mọi người đều tạo cho ta cơ hội phụng sự. Phụng sự mọi người chính là phụng sự thượng đế. Những người nhiệt tâm sửa ḿnh phải ư thức quyền năng vô hạn của tư tưởng v́ hành động phát sinh từ tư tưởng. Người t́m đạo phải biết kiểm soát tư tưởng của ḿnh và sử dụng chúng một cách hợp lư và bác ái. Kiểm soát tư tưởng là mục đích của môn Raja Yogạ Trở ngại lớn nhất của những người luyện tâm, rèn chí là sự kiêu ngạo và óc chỉ trích. Với óc chỉ trích, con người công kích tất cả họ sẵn sàng bôi nhọ mọi đức hạnh, t́m sự sai quấy ở khắp mọi người. Người tu pháp Raja Yoga phải có thái độ ngược lại, phải t́m thấy điều thiện ở tất cả mọi người và nh́n thấy mọi sự đều có cái lư riêng của nó. Có thế họ mới giúp ḿnh và người khác được . Trở ngại thứ hai là sự nông nổi, làm điều này chưa xong, đă nhảy sang việc khác. Vừa bắt tay vào việc đă mong thấy kết quả và nếu kết quả chưa như ư muốn liền bỏ điều theo đuổi, để nhảy sang một điều khác. Rốt cuộc không có điều ǵ xong cả. Thái độ này không thể chấp nhận được. Sự bền tâm kiên chí là điều cần thiết để chủ trị tư tưởng. Dĩ nhiên, kiếp người ngắn ngủi không ai có thể trừ hết thói hư, tật xấu trong một kiếp, do đó, việc tu hành cũng kéo dài trong nhiều kiếp sống. Khi đó họ sẽ ư thức các sự kiện vĩ đại của sự sống vô cùng và rời bỏ cái bản ngă để hoà ḿnh vào gịng tiến hoá của vũ trụ, hoà nhập với Chân Ngă bất diệt.

- Như thế môn này sẽ giúp ta trở nên một vị thánh ?

- Này ông bạn, đừng nên kết luận vội vàng. Con đường dẫn đến quả vị tiên thánh đâu phải chỉ có một. Có nhiều con đường đưa đến chân lư và không đường nào hơn đường nào. Đây là một điều vô cùng quan trọng mà bạn phải ghi nhớ măi măi. Không một con đường nào hơn đường nào dù là Hatha Yoga hay Raja Yoga hay là môn ǵ chăng nữa. Tại sao ta cứ nghĩ pháp môn này mới hay, tôn giáo kia mới tốt? Không một đường nào có thể là duy nhất được. Tốt hơn cả hăy tự biết ḿnh. Thay v́ t́m một chân lư tuyệt đối, hăy t́m sự tuyệt đối nơi ḿnh v́ chân lư để sống chứ không phải để dạy.

Giáo sư Spalding im lặng không thốt lên câu nào. Lời nói của đạo sĩ như có một sức mạnh vang dội trong ḷng ông. Các thành kiến từ trước bỗng tan biến hết và ông cảm thấy xúc động vô cùng.

Đạo sĩ mỉm cười :

- Này ông bạn, không một vị thánh nào vỗ ngực xưng danh mà chỉ có các kẻ c̣n u mê trong bản ngă mới tha thiết đến danh vọng, địa vị. Khi họ đeo đầy ḿnh những chức tước, th́ làm sao họ giải thoát được ? Thượng đế ban cho ta trí thông minh để nhận xét th́ ta phải biết phân biệt chứ. Hăy nh́n thành Benares với cả trăm đền thờ khác nhau, hàng ngàn giáo sĩ, tông phái. Ai cũng tự nhận rằng phe ḿnh gần thượng đế nhất. Tại sao suốt hai năm nay phái đoàn các ông đă đi khắp nơi, thăm viếng mọi chỗ mà vẫn không thoa? măn ? Phải chăng v́ sự hiểu biết phân biệt của các ông đă cao, không chấp nhận sự mê tín, mù quáng nữa. Kinh Gita nói rơ, “Thầy nào, tṛ nấy. Một tu sĩ chân chính không có đệ tử bất hảo, và một đệ tử thông minh không t́m thầy bất lương”. Luật thiên nhiên đă dạy “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Một người sáng suốt đâu thể đi theo kẻ u mê… Một tu sĩ hiểu biết phải lo làm chủ chính ḿnh để cầu giải thoát chứ đâu phải lo lôi kéo đệ tử cho đông, xây cất các đền đài cho đẹp, đễ tự hào về các thành quả này. Như thế là phô trương bản ngă, kiêu căng, ngă mạn làm sao c̣n giải thoát được. Bạn hăy sử dụng lư trí và trực giác để phân biệt những người này, nếu bạn tha thiết mong cầu chân lư th́ chắc chắn điều mong ước sẽ thành sự thật. Chúng ta gặp nhau thế này cũng đă quá đủ, đă đến lúc tôi phải trở về am thất.

- Nhưng làm sao tôi sẽ gặp lại ông…tôi chưa biết tên ông.

- Hăy gọi tôi là Bramananda.

Giáo sư Spalding yên lặng nh́n vị đạo sĩ khuất dần qua hàng cây rậm rạp. Bóng chiều từ từ rơi xuống trên sông Hằng.

 

Chapter III
 

Emil sent us away with a few remarks, in which he said, "You are about to start on your expedition with these two men, Jast and Neprow, to accompany you. As you travel it will take about five days to journey to your next important stopping place, about ninety miles distant. I will tarry here for a time because it will not be necessary for me to consume that time to cover the distance, but I will be there to greet you. I wish to ask that you leave one of your party here, in order to make observations and corroborate what may happen. In this way, time will be saved and he will be able to join the expedition not later than ten days hence. We simply ask him to watch and report what he sees."
We started with Jast and Neprow in charge of the expedition and I wish to say that more business-like arrangements could not well be imagined. Every detail was complete and swung into line with the rhythm and precision of music. This harmony was maintained throughout the entire expedition, which lasted three and half years.
We arrived at the appointed village about four o'clock of the fifth day and there was Emil to greet us, as he had agreed. Can you imagine our amazement? We were quite certain we had come by the only traveled route and by the swiftest mode of locomotion in that country, except as the couriers go. They travel in relays and go night and day. Here was a man well advanced in years, as we thought, and one we felt would in nowise be able to negotiate a journey of ninety miles in less time than it required us to do the same-yet, here he was.
Of course we all tried to ask questions at once and were eager to hear. These were his words, "I said when you departed that I would be here to greet you-I am here. I wish to call your attention more fully to the fact that man in his right domain is limitless, knows no limit of time or space. Man, when he knows himself, is not obliged to toil wearily along for five days to accomplish ninety miles. Man in his right estate can accomplish any distance, it matters not the magnitude, instantly. A moment ago I was in the village from which you departed five days ago. What you saw as my body still reposes there. Your associate, whom you left in that village, will tell you that, until a few moments before four o'clock, I conversed with him, stating that I would go to greet you as you would arrive here about this hour. What you saw as my body is still there and your associate still beholds it, although it is at present inactive. This was done simply to show you that we are able to leave our bodies and greet you at any appointed place, at any specified time. The two who accompanied you could have accomplished the journey as I have. In this way you will more readily realize that we are only ordinary humans of the same source as you; that there is no mystery but that we have developed the powers given all by the Father, the Great Omnipotent One, more fully than you have. My body will remain where it is until night, then I will bring it here and your associate will proceed on his way here as you did, arriving in due time. After a day's rest we will journey to a small village, one day off, where we will tarry one night, then return here and meet your associate to see what his report will be. We will assemble this evening in the lodge. In the meantime, farewell."
In the evening, after we had assembled, Emil, without opening the door, suddenly appeared in our midst and said, "You have seen me appear in this room, as you would say, by magic. Let me say there is no magic about it. Here is a simple experiment which you can behold. You can see this, consequently you will believe. Kindly gather around so that you can see. We have a small glass of water which one of your number has just brought from the spring. You see that a minute particle of ice is forming in the very center of the water. You see it gather to itself, particle by particle, more ice, until now the whole of the water in the glass is frozen. What has happened? I held the central atoms of the water in the Universal until they became formed or, in other words, I lowered their vibrations until they became ice and all the other particles formed around them until the whole has become ice. You can apply this to the little glass, the tub, the pond, the lake, the sea, the whole mass of the water of the earth. What would happen? All would be frozen, would it not? To what purpose? None. You ask by what authority. I say by using a perfect law. But in this case, to what end? Nothing, as no good has been accomplished or could be accomplished. Had I gone on determined to carry this out fully, what would have happened? The reaction. To whom? To me. I know the law and what I express returns to me as truly as I express it. Therefore, I express only the good and the good returns to me only as good. You can readily see that, had I persisted in the freezing, the cold would have reacted upon me long before I had accomplished the end and I would, in reaping the harvest of my desire, have been frozen. Whereas, if I express the good, I reap the harvest of my good eternally.
"My appearance in this room tonight may be explained in this way. In the little room where you left me I held my body in the Universal by raising its vibrations and it returned to the Universal or, as we say, returning it to the Universal where all substance exists. Then, through my I AM, my Christ Consciousness, I held my body in my mind until its vibrations were lowered and it took form right here in this room and you could see it. Wherein is there any mystery? Am I not using the power, or the law, given me by the Father through the Beloved Son? Is not this Son you and I and all mankind? Wherein lies the mystery? There is none.
"Consider the faith represented by the mustard seed. It comes to us from the Universal through the Christ within, which has already been born within us all. As a minute speck it enters through the Christ, or superconscious mind, the place of receptivity within ourselves. Then it must be carried to the mount or highest within ourselves, the very top of the head. It is held there. We must then allow the Holy Spirit to descend. Now comes the admonition, `Thou shalt love the Lord, thy God, with all thy heart, with all thy soul, with all thy strength and with all thy mind.' Think! Does the meaning come? Heart, Soul, Strength, Mind. Is there anything to do at this point but to turn it all over to God, the Holy Spirit, the Whole-I-Spirit in action? This Holy Spirit comes in many ways, perhaps as tiny entities tapping and seeking admittance. We must accept and allow this Holy Spirit to come in and unite with the minute point of light or seed of knowing and revolve around it and adhere to it just as you saw the particles of ice adhere to the central particle, and it will grow in form particle by particle, circle by circle, just as the ice, multiply and express that seed of knowing until you are able to say to the mountain of difficulties, `Be thou removed and cast into the sea,' and it will be done. Call this fourth dimension or what you wish, we call it God in expression, through the Christ in us.
"It is in this way the Christ was born. Mary, the Great Mother, perceived the ideal; the ideal was held in mind, then conceived in the soil of her soul, held for a time there, then brought forth or born as the perfect Christ Child, the First Born, the Only Begotten, the Son of God. He was nourished and protected; given the very best of the mother; watched over and cherished until He grew from childhood into manhood. It is thus the Christ comes to all of us; first as an ideal planted in the soil of our soul-the central part where God is-held in mind as the perfect ideal, then brought forth or born as the perfect Child, the Christ Consciousness.
"You who have seen what has been accomplished here doubt your own eyes. I do not blame you. I get the thought of hypnotism from the minds of some. My brothers, is there one here who feels that he does not have the power to exercise every God-given faculty that he has seen brought forth tonight? Do you think for a moment that I am in any way controlling your thought or vision? Do you think that I could, if I would, cast a hypnotic spell over any or all of you-for did you not all see? Is it not recorded in your own great Book that Jesus entered a room with the doors closed? He just came in as I have done. Do you think for a moment that Jesus, the Great Master and Teacher, needed in any way to hypnotize? He used His own God-given power as I have done tonight. Let me say that I have done nothing but what each one of you can do. Not only you, but every child that is or has been born into this world, or universe, has the same power to do just what you have seen accomplished this night. I wish to get this clearly before your minds. Let me also say that you are individuals, that you are not personalities, that you are free wills, not automatons. Jesus did not need to hypnotize and we do not need to hypnotize. Doubt us all you wish until you are fully satisfied as to our honesty. Put the idea of hypnotism away for the time, or at least let it lie passive until you have gone deeper into the work. All we ask is that you keep an open mind."
 

Chapter IV
We entered the little village of about two hundred inhabitants one-half hour before sunset and, when it was known that Jast was with us, I believe every villager, old and young, and every pet and domestic animal came to greet us. While we were the object of more or less curiosity, it was immediately noted that Jast was the center of interest, greeted by all with the utmost reverence. After a few moments he said a word to the villagers and all but a few returned to their usual duties. Jast turned to us and asked if we wished to go with him while the camp was being prepared for the night. Five of our party said they were tired after the day's journey and wished to rest. The remainder of us followed Jast and the handful of villagers toward the far side of the clearing that surrounded the village. After crossing the clearing we had gone but a short distance into the jungle when we came upon the form of a man lying upon the ground as though dead-that was our impression at first glance. A second glance, however, showed that the repose suggested calm sleep rather than death.
We stood staring as though transfixed for we saw that the figure lying on the ground was Jast. Suddenly, as Jast walked toward it, the figure became animated and rose to a standing position. As the figure and Jast stood face to face for an instant, there was no mistaking the identity-it was Jast. All saw that it was he. The, instantly, the Jast we had known had disappeared and there was but one figure standing before us. Of course, all this was accomplished in much less time than it takes to tell and the wonder was that not one of us questioned. The five who had been left behind at camp came running without a signal from any of us. We afterwards asked them why they came. The answers were, "We don't know. The first we knew, we were all on our feet and running to you. We simply do not know why we did it. None of us recall any signal. We found ourselves running in your direction before any of us realized what we were doing."
One of our number remarked, "My eyes are opened so wide that I see far beyond the vale of death and the wonders that stand revealed are beyond conception." Another said, "I see the whole world overcoming death. How vividly the words come back, `The last enemy, Death, shall be overcome.' Is not this the fulfillment of these words? What pigmies are our mere intellects in comparison with this gigantic but simple understanding and yet we have dared to look upon ourselves as giants of intellect. Why, we are mere babes! I just begin to see the meaning of, `Ye must be born again.' How true the words!"
I leave the reader to imagine our surprise or bewilderment. Here was a man with whom we had been in daily contact, and by whom we had been served daily, that was able to lay his body down for the protection of others and go on and serve so very efficiently. Could it do otherwise than recall, "He that is greatest among you, shall be servant or shall serve." I think there was not one among us but from that moment lost all fear of death.
These people are accustomed to laying a body down before a village in the jungle of a country infested with marauding men and animals and that village is as safe from the ravages of men and animals as though it were in a civilized country.
It was very evident that Jast's body had been lying where we found it for a considerable time. The hair had grown long and bushy and in it were the nests of a little bird peculiar to the country. These birds had built their nests, reared their young, and the young had flown away, thus giving unmistakable evidence of the time the body had been in that position and inactive. These birds are very timid and will abandon their nests at the slightest disturbance. This shows the great love and trust of the little birds.
 

Chapter V
We were up at sunrise the next morning and that day returned to the village where we had left our outfit. We arrived at the village just before dark and pitched our camp under a great banyan tree. The next morning Emil greeted us and we all began asking questions. He said, "I do not wonder at your questions and I will gladly answer all that I can at this time, leaving others until you have gone further into our work. In talking to you as I am, you fully realize that I am using your language to convey to you the one great underlying principle of our belief.
"When all know the Truth and it is rightly interpreted, truly is it not one and all from the same source? Are we not all one with the universal mind substance, God? Are we not all one great family? Is not every child, everyone born, no matter the caste or creed, a member of this great family?
"You ask if we believe death is avoidable. Let me answer in the words of the Siddha: `The human body is built up from the individual cell, like the bodies of plants and animals, whom we love to call younger and less evolved brothers. The individual cell is a minute microscopic unit of the body. By a process of growth and division, repeated many times, this minute nucleus of a cell-unit results at last in a complete human being, built up of almost countless millions of cells. These body cells specialize for certain different functions but they retain, in the main, the characteristics of the individual cell whence they arose. This individual cell may be looked upon as the torch bearer of animate life. It passes on from generation to generation the latent fires of God-the vitality of all living beings, with an unbroken ancestry reaching back to the time when life first appeared on this planet.' This individual cell has the property of unlimited youth. But what about the group cells called the body? The group cells arose from the individual cell repeated many times, retaining its individual characteristics, one of which is the latent fire of life, or Eternal Youth. The group cells, or body, function as guardian of the individual cell only during the short span of life as you know it now.
"The most ancient of our teachers by inspirational means perceived the truth of the fundamental unity of life reactions in plant and animal. We can well imagine these teachers beneath the spreading banyan addressing their pupils as follows: `Look at this giant tree. The vital process going on in our brother, this tree, and in ourselves is fundamentally the same. Behold the leaves and the buds at the tips of the oldest banyan-how young they are-young as the seed from which the giant sprang into life. The life reactions of plant and man being alike, man can certainly profit by the experience of the plant. As the leaves and buds at the tips of the branches of the oldest banyan are as young as the seed whence it sprang, even so the group cells in man forming his body, need not gradually lose their vitality and die, but may grow young and evergreen as the ovum or individual cell itself. Indeed, there is no reason why your body should not grow as young and vital as the vital seed from which it sprang. The ever-spreading banyan, always a symbol of everlasting life, does not die except through accident. No natural law of decay, no old age process seems to exist within the banyan tree to affect injuriously the vital energy of its cells. The same is true of the human form divine.
"There is no natural law of death or decay for man, except through accident. No inevitable old age process exists within his body or group cells-nothing that can gradually paralyze the individual. Death is, then, an avoidable accident. Disease is, above all, dis-ease, absence of ease or Santi-sweet, joyous peace of the spirit reflected through the mind in the body. Senile decay, which is the common experience of man, is but an expression that covers his ignorance of cause, certain disease conditions of mind and body. Even accidents are preventable by appropriate mental attitude. Says the Siddha: `The tone of the body may be so preserved that it may naturally resist with ease infectious and other disease, like plague and influenza.' The Siddha may swallow germs and never develop disease at all.
"Remember that youth is God's seed of love planted in the human form divine. Indeed, youth is the divinity within man; youth is the life spiritual-the life beautiful. It is only life that lives and loves-the one life eternal. Age is unspiritual, mortal, ugly, unreal. Fear thoughts, pain thoughts, and grief thoughts create the ugliness called old age. Joyous thoughts, love thoughts, and ideal thoughts create the beauty called youth. Age is but a shell within which lies the gem of reality-the jewel of youth.
"Practice acquiring the consciousness of childhood. Visualize the Divine Child within. Before falling asleep suggest to your consciousness, `I now realize that there is within me a spiritual joy-body ever young, ever beautiful. I have beautiful, spiritual mind, eyes, nose, mouth, skin-the body of the Divine Infant, which now, tonight, is perfect.' Repeat this affirmation and meditate upon it quietly while falling asleep. Upon rising in the morning suggest to yourself aloud, `Well, dear (addressing yourself by name), there is a divine alchemist within.' By the spiritual power of these affirmations during the night a transmutation takes place and the unfolding from within, the Spirit, has saturated this spiritual body and spiritual temple. The inner alchemist has caused dead and worn-out cells to fall and the gold of new skin to appear with perpetual health and loveliness. Truly divine Love in demonstration is eternal youth. The divine alchemist is within my temple, constantly coining new and beautiful baby cells. The spirit of youth is within my temple-this human form divine, and all is well. Om Santi! Santi! Santi! (Peace! Peace! Peace!)
"Learn to smile in the sweet way of a child. A smile from the soul is spiritual relaxation. A real smile is a thing of true beauty, the artistic work of the `Inner Ruler Immortal.' It is well to affirm-'I think a kind thought for all the world. May all the world be happy and blest.' Affirm before taking up the work for the day-'Within me there is a perfect form-the form Divine. I am now all that I desire to be! I visualize daily my beautiful being until I breathe it into expression! I am a Divine Child, all my needs are being now and forever supplied!'"
"Learn to thrill yourself. Affirm, `Infinite Love fills my mind and thrills my body with its perfect life.' Make everything bright and beautiful about you. Cultivate a spirit of humor. Enjoy the sunshine.
"You understand that I am quoting from the teaching of Siddha. They are the oldest teachers known and their teaching antedates all history by thousands of years. They went about teaching the people and showing them the better way of life even before man knew the simple arts of civilization. It is from their teaching that the system of rulers sprang. But these rulers soon wandered away from the realization that it was God expressing through them. Thinking it was themselves, the personal, who were doing the work, they lost sight of the spiritual and brought forth the personal or material, forgetting that all comes from the one source-God. These rulers' personal concepts gave rise to the great separations in belief and the wide diversity of thought. This is our concept of the Tower of Babel. The Siddha have preserved throughout the ages the true inspirational methods of God expressing through mankind and through all His creations, realizing that God is All and that it is God manifesting through all. They have never deviated from this teaching. Thus they have preserved the great fundamental Truth."

 


Chương 3

Khoa Học Thực Nghiệm Và Khoa Học Chiêm Tinh Bí Truyền

Lawrence Keymakers là một người Anh giàu có, sống tại Benares nhiều năm. Ông làm chủ nhiều xí nghiệp lớn và có một kiến thức rất rộng về xứ này. Thương gia Lawrence khoản đăi phái đoàn trong toà biệt thự rộng, xây cất bên bờ sông Hằng.

Sau câu chuyện xă giao, giáo sư Allen lên tiếng :

- Bạn nghĩ sao về những điều người Ấn gọi là Minh Triết thiêng liêng và những sự kiện mê tín dị đoan xảy ra ngoài chợ ?

Lawrence lắc đầu :

- Xứ này vẫn có những tṛ biểu diễn như thế, nhưng ngoài những cái mà ta cho là ảo thuật hoặc mê tín dị đoan c̣n ẩn náu những ư nghĩa tâm linh rất ít ai biết được. Muốn t́m hiểu phải nghiên cứu cặn kẽ chứ không thể kết luận vội vă…

Giáo sư Oliver bật cười :

- Bạn cho rằng những tṛ ngồi bàn đinh, thổi kèn gọi rắn c̣n ẩn dấu những ư nghĩ tâm linh hay sao?

- Tùy tâm trạng của ḿnh mà xét đoán sự kiện, nếu ta nh́n nó dưới cặp mắt của người Âu th́ ta sẽ chỉ thấy nó là một tṛ múa rối, không hơn không kém, nhưng nếu ta gạt bỏ các thành kiến, biết đâu ta chẳng học hỏi thêm được nhiều điều.

Giáo sư Allen châm biếm :

- Bạn ở Ấn đă lâu, chắc đă học hỏi được nhiều điều mới lạ…

Lawrence mỉm cười :

- Đúng thế, tôi đă học hỏi rất nhiều và điều đầu tiên tôi học được là sự khiêm tốn. Chỉ có sự khiêm tốn mới giúp ta học hỏi thêm những điều mới lạ. Các bạn hăy nh́n ly nước đầy trên tay tôi đây, nếu tôi tiếp tục rót thêm th́ nước sẽ tràn ra ngoài. Trừ khi tôi đổ bớt nước trong ly đi th́ tôi mới rót thêm nước vào được. Kiến thức cũng thế, chỉ khi ta khiêm tốn gạt bỏ những thành kiến có sẵn ta mới tiếp nhận thêm được những điều mới lạ. Các bạn muốn nghiên cứu học hỏi những minh triết của xứ Ấn, nhưng vẫn giữ thành kiến của người Âu, khinh bỉ mọi sự th́ có khác chi ly nước đầy, làm sao rót thêm nước vào được nữa ?

Mọi người im lặng, câu nói thẳng của vị thương gia ít nhiều đă va chạm tự ái phái đoàn. Dù sao họ cũng là những khoa học gia nổi tiếng nhất của Hoàng Gia Anh, lúc nào cũng được nể v́, kính trọng. Để phá tan bầu không khí nặng nề, giáo sư Morimer chỉ một h́nh vẽ lạ lùng treo trên tường :

- Đây là h́nh vẽ ǵ vậy ? Trông như các tinh tú th́ phải…?

- Bạn nói đúng, đó là lá số tử vi của tôi.

Mọi người bật cười, giáo sư Allen khôi hài :

- Lá số tử vi ? Lawrence thân mến, bạn đă trở thành người Ấn hồi nào vậy ?

Lawrence nghiêm mặt :

- Đây là một món quả vô giá của Sudeih Babu, nhà chiêm tinh giỏi nhất Ấn độ.

Toàn thể phái đoàn phá lên cười, v́ nghĩ đến những gă thầy bói ngồi xổm bên lề đường. Khắp xứ Ấn, chỗ nào cũng có thầy bói, thầy tướng kiếm ăn qua sự mê tín của dân chúng. Đồ nghề của họ là một vài cuốn sách bẩn thỉu, vài niên lịch lạ lùng. Họ tự hào có thể biết rơ số phận sang hèn mọi người, nhưng h́nh như không biết ǵ về số phận của chính họ.

Lawrence lắc đầu :

- Sudeih là một vị thầy, một người thuộc giai cấp thượng lưu quư phái chứ không phải loại thầy bói hạ cấp. Y nghiên cứu tử vi từ nhỏ và có thể biết trước nhiều điều quan trọng. Các bạn muốn khảo cứu hiện tượng huyền bí sao không đến gặp ỵ Biết đâu y chả giúp các bạn, Sudeih có thói quen là không bao giờ tiếp khách lạ nhưng y là bạn thâm giao của tôi, tôi sẽ hết ḷng giới thiệu.

Giáo sư Allen lắc đầu :

- Chúng tôi muốn nghiên cứu nền văn minh xứ Ấn, chứ không phải xem vận mạng hên xui tốt xấu.

Lawrence mỉm cười bí mật :

- Như thế các bạn lại càng phải đến gặp nhà chiêm tinh này. Các bạn nên nhớ dù muốn, chưa chắc Sudeih đă chịu tiếp các bạn. Chính tiểu vương xứ Punjab đến xin yết kiến ba ngày, ba đêm mà Sudeih cũng không thèm tiếp…

Nhà chiêm tinh ở một biệt thự rộng lớn, quanh nhà trồng rất nhiều cây cảnh. Đă có hẹn trước nên gia nhân mời tất cả mọi người vào trong pḥng khách. Đó là một căn pḥng rất lớn, trang trí sang trọng như pḥng một ông hoàng.

Sudeih Babu là một người Ấn gầy g̣, nhỏ bé, nhưng có một đôi mắt sáng ngời, chứng tỏ một đời sống nội tâm dồi dào. Y di chuyển hết sức chậm răi như một con mèo và nói bằng một tiếng Anh rất đúng giọng và lịch sự :

- Keymakers cho biết các ông muốn t́m hiểu về khoa chiêm tinh ?

Giáo sư Oliver nói ngay :

- Xin ông hiểu cho, chúng tôi muốn sưu tầm các hiện tượng huyền bí chứ không hoàn toàn tin tưởng ǵ về môn này.

Babu im lặng nh́n mọi người, y lạnh lùng :

- Nếu các ông muốn, tôi có thể lấy lá số tử vi cho các ông.

Giáo sư Oliver nghi ngờ :

- Xin ông đừng dài ḍng về tương lai và may rủi. Hăy nói thử về quá khứ của tôi xem sao.

Babu gật đầu hỏi giáo sư Oliver vài câu về ngày sinh rồi y phóng bút vẽ các kư hiệu lạ lùng lên một tờ giấy. Y chậm răi tuyên bố :

- Ông sinh trưởng trong một gia đ́nh thương gia. Từ nhỏ ông nuôi mộng hải hồ thích du lịch, nhưng gia đ́nh ông nghiêm khắc ngăn cấm. Thân phụ Ông muốn con ḿnh phải theo học về thương mại tại Oxford để nối nghiệp. Tuy nhiên, ông lại có năng khiếu về khoa học, nên chỉ một thời gian ngắn ông đă chuyển qua ngành Vật lư học. Cha ông giận quá, nhất định không giúp đỡ ǵ ông nữa. Gia tài sự nghiệp truyền cho các em ông. Đến khi ông trở nên một khoa học gia lỗi lạc của Hoàng Gia th́ cha ông lại bắt ông trở về đi vào con đường chính trị. Dưới áp lực gia đ́nh, ông thành hôn với một thiếu nữ gịng dơi quư tộc. Cuộc hôn nhân không mang lại hạnh phúc và ông vùi đầu trong pḥng thí nghiệm để t́m quên. Người vợ quen thói giao thiệp rộng đă phá nát tài sản, sự nghiệp và c̣n ngoại t́nh. Cha ông buồn phiền, thất vọng qua đời. Ông chịu đựng người vợ suốt 18 năm cho đến khi bà ta từ trần. Sau khi thu xếp mọi việc, ông gia nhập phái đoàn với mục đích rời xa Luân- đôn và thoa? măn giấc mộng hải hồ.

Giáo sư Oliver ngồi im không thốt lên một tiếng, chứng tỏ những điều Babu nói không sai. Một không khí nặng nề bao trùm căn pḥng. Babu lạnh lùng tiếp :

- Ông có muốn tôi nói thêm chi tiết hay nói về tương lai nữa không ?

Giáo sư Oliver lắc đầu xua tay, mặt mày tái nhợt như người vừa trải qua một điều ǵ kinh khủng. Giáo sư lên tiếng :

- Nhưng tại sao các tinh tú ở xa lại ảnh hưởng đến từng cá nhân được ?

Babu thong thả trả lời :

- Nếu tinh tú ở xa quá th́ khoa học thực nghiệm giải thích thế nào về ảnh hưởng của mặt trăng đối với nước thuỷ triều lên xuống hoặc chu kỳ trong thân thể đàn bà ?

- Nhưng nếu tôi bị tai nạn th́ điều đó ăn nhập ǵ đến các hành tinh.

Babu lắc đầu mỉm cười :

- Các ông nên nghĩ thế này, tinh tú chỉ là biểu tượng mà thôi. Tự nó không ăn nhập ǵ đến chúng ta hết, mà chính cái dĩ văng của ta đă ảnh hưởng đến đời sống hiện tại. Tinh tú chỉ phản chiếu lại cái ảnh hưởng này mà thôi. Không ai có thể hiểu khoa chiêm tinh nếu họ không tin luật Luân Hồi (Reincarnation). Con người chết và tái sinh trở lại trong nhiều kiếp. Định mệnh của y theo dơi và ảnh hưởng lên đời sống của y theo luật Nhân Qủa (Karma – cause and effect). Nếu ta không tin con người chết đi và đầu thai lại để học hỏi, để tiến hoá, để trở nên một người toàn thiện, th́ mọi sự đều là ngẫu nhiên hay sao ? Một thượng đế công b́nh, bác ái có lẽ nào dung túng điều này ? Khi qua đời thể xác hư thối tan ră nhưng tính t́nh, dục vọng, ư chí vẫn c̣n nguyên cho đến khi ta đầu thai vào một kiếp sống mới th́ những tính này sẽ trở nên cá tính (personality) của kiếp sau. Các hành tinh chỉ là tấm gương ghi nhận các nguyên nhân này và phản chiếu trở lại. Bất cứ một hành động nào cũng tạo nên một nguyên nhân dù xấu hay tốt, ví như ta ném một trái bóng lên không trung. Trước sau ǵ nó cũng rơi xuống v́ trọng lượng và ảnh hưởng của sức hút trái đất, nhưng đến khi nào nó rơi xuống c̣n tùy sức ném của ta nặng nhẹ ra sao. Khoa chiêm tinh nghiên cứu các vũ trụ tuyến này để đoán được khi nào cái nguyên nhân trước sẽ trở lại. Babu im lặng một lúc và thong thả giải thích thêm. Trước khi đi xa hơn, tôi muốn các ông hiểu lịch sử chiêm tinh để có một cái nh́n thật đứng đắn. Từ ngàn xưa, chiêm tinh học vẫn được coi là một khoa học quan trọng. Chiêm tinh gia chỉ đứng ở địa vị thứ hai, sau Giáo sĩ mà thôi. Đối tượng của khoa chiêm tinh là vũ trụ. Tiếc thay phần này đă bị thất truyền, chỉ c̣n phần nhỏ nói về sự liên hệ giữa con người và các bầu tinh tú, c̣n được lưu truyền đến nay và được xem là khoa bói toán. Khoa chiêm tinh có từ lúc nào không ai biết, nhưng hiền triết Bhrigu đă truyền dạy các môn đồ của ông vào khoảng 6000 năm trước. Ṇng cốt của nó nằm trong bộ sách Brahma Chinta, do ông soạn ra. Bhrigu có bốn đệ tử. Người thứ nhất rất giỏi về khoa học đă đi sang Ba Tư (Iran) lập nghiệp, từ đó ngành chiêm tinh đi về hướng Tây và ảnh hưởng đến Hy Lạp và La Mă sau này. Người thứ hai rất giỏi về triết học đi về phương Đông, sang Trung Hoa truyền bá ngành này ở đây. Người thứ ba thích nghiên cứu những hiện tượng siêu h́nh đă lên Tuyết Sơn nhập thất và sau truyền môn này cho dân chúng Tây Tạng. Người thứ tư ở lại xứ Ấn, và làm đến chức quốc sự Bộ sách Brahma Chinta được coi là quốc bảo cất trong cung điện. Sau này, các hoàng tử tranh cướp ngôi vua đă giành nhau bộ sách quư. Sau mấy chục năm chinh chiến, bộ sách được phân chia làm nhiều phần, mỗi ông Hoàng giữ một mảnh, và tứ đó khoa chiêm tinh trở nên thất truyền - - Các mảnh vụn này đă được các thầy bói sưu tầm, ghi chép lại để kiếm ăn , nhưng họ chỉ nắm một vài then chốt chứ không sao hiểu hết. Như các ông thấy, căn nhà này rất lớn, gồm có 49 pḥng, mỗi pḥng đều chứa đầy các sách vở do tôi sưu tầm. Tất cả gia tài sự nghiệp của tôi đều được sử dụng để sưu tầm các sách cổ… Tôi xuất thân từ một gia đ́nh hoàng tộc nhưng tôi chỉ ham mê khoa chiêm tinh. Tôi bỏ ra mấy chục năm nghiên cứu, theo học các vị chiêm tinh gia nổi tiếng cho đến khi sưu tầm được bộ Brahma Chintạ Dĩ nhiên, bộ sách này nguyên bản mấy ngàn trang nhưng tôi chỉ sưu tầm được có vài trăm trang và tốn gần 20 năm nghiên cứu nó.

Babu mỉm cười nh́n giáo sư Oliver :

- Bạn Oliver thân mến, lá số tôi lấy cho ông rất khác thường so với người Âu. Tin hay không tùy ư bạn, đúng hay sai, chỉ bạn biết, nhưng tôi muốn nói thêm rằng các nghiệp quả đă trả xong. Đời bạn đă bước vào một khúc quanh quan trọng. Lá số cho thấy bạn đă đến bên thềm Đạo và sẽ được một sự d́u dắt của một hiền giả.

Giáo sư Oliver cảm động xiết chặt đôi tay gầy guộc của nhà chiêm tinh. Toàn thể phái đoàn cũng xúc động không kém. Khi trưóoc họ đă nghi ngờ khoa bói toán, nhưng sự kiện vừa xảy ra đă thay đổi tất cả. Không ai ngờ giáo sư Oliver lại có một đời sống cá nhân bất hạnh như thế.

Babu đưa toàn thể phái đoàn đi xem những căn pḥng chứa sách với những tủ lớn chứa đựng hàng ngàn cuốn sách cổ. Giáo sư Mortimer, một nhà khảo cổ học của trường Harvard đă phải kinh ngạc trước kho tàng sách vở vô giá này. Có những bộ sách viết trên lá buôn (payrus) cả ngàn năm trước, xen lẫn các tài liệu khắc trên gỗ vào thế kỷ thứ 6. Toàn thể phái đoàn có cảm tưởng như phần lớn kho Minh Triết xứ Ấn đều tập trung nơi đây. Giáo sư Mortimer lên tiếng :

- Những sách vở này nói về những ǵ vậy ?

- Đó là những sách về vấn đề Tôn Giáo, Minh Triết Cổ Truyền, Triết Học Ấn độ.

- Như thế ông cũng là một triết gia ?

Babu mỉm cười :

- Một người không hiểu về triết lư sẽ chỉ là một hạng chiêm tinh tồi hay thầy bói hạ cấp.

- Ông có thu nhận đệ tử không ?

- Có rất nhiều người đến xin tôi dạy dỗ nhưng tôi từ chối v́ thấy họ không đủ thiên tư để lĩnh hội hay không đủ ư chí để đi đến cùng. Tôi nghĩ ḿnh chưa đủ sức làm thầy ai hết mà chỉ là một người ham mê nghiên cứu, cũng như các ông là những khoa học gia say mê kiến thức khoa học.

- Nhưng ông cũng dùng chiêm tinh để hướng dẫn đời ḿnh chứ ? Ông có thể xem được quá khứ vị lại kia mà.

Babu lắc đầu :

- Không đâu, tôi đă t́m thấy ánh sáng Chân Lư, và không cần đến khoa chiêm tinh nữa. Khoa học này chỉ hữu ích cho những kẻ c̣n lần ṃ trong bóng tối. Tôi đă hoàn toàn trao trọn đời ḿnh vào tay thượng đế (brahman). Không c̣n lo nghĩ, ưu phiền ǵ về tương lai nữa. Bất cứ điều ǵ xảy ra tôi cũng chấp nhận như ư muốn của Ngài.

- Nếu ông bị kẻ hung dữ hăm hại làm lâm nguy tính mạng th́ ông có cho đó là thiên ư không ? Ông sẽ làm ǵ để tự vệ chứ ?

- Tôi biết rằng trong khi nguy cấp chỉ cần cầu nguyện là đủ. Cầu nguyện là cần thiết v́ lo âu chẳng ích ǵ. Nhiều khi tôi gặp khó khăn, lúc đó tôi ư thực sự giúp đỡ của thượng đế hơn bao giờ hết. Các bạn có biết rằng tôi đă xé bỏ lá số tử vi của ḿnh từ khi t́m thấy ánh sáng Chân Lư. Tôi tin chắc rằng con người có thể cải tạo tinh thần để hoà hợp với thượng đế, c̣n các việc xảy ra do hậu quả của quá khứ ta không thể thoát được th́ lo lắng có ích ǵ ?

Ư niệm về thượng đế là điều phái đoàn luôn luôn nghe nói đến, người dân Á châu có một tinh thần tôn giáo rất mạnh, tôn sùng thượng đế quá nhiệt thành. Họ đâu hiểu rằng người Âu vốn có óc hoài nghi, thường thay thế cái đức tin đơn giản bằng cái lư trí phức tạp. Làm sao họ có thể hiểu rằng thượng đế chỉ là một quan niệm, một giả thuyết cũng như trăm ngàn giả thuyết khác nghĩa là cần phải chứng minh cụ thể.

Babu mỉm cười như đọc được ư nghĩ mọi người :

- Này các bạn, cái lư trí tự cao tự đại của con người không có ích ǵ cả. Chỉ khi nào họ đạt đến trạng thái tĩnh lặng của tâm hồn, họ mới ư thức các luật huyền bí vũ trụ và sự nhỏ bé của con người. Khi tách khỏi trạng thái u mê của lư trí, họ mới ư thức sự an lạc tuyệt vời khi hoà hợp với thượng đế.

Giáo sư Allen lắc đầu :

- Tại sao ông không nghĩ rằng đó là một ảo ảnh ? Một sự tưởng tượng ?

Babu bật cười :

- Này các bạn, một bà mẹ sinh con có khi nào lại nghi ngờ rằng đứa con đó không có thật. Khi hồi tưởng lúc lâm bồn, có khi nào bà ấy cho rằng đó chỉ là một sự tự kỷ ám thị ? Khi nh́n đứa con mỗi ngày một lớn khôn làm sao bà mẹ lại nghĩ rằng đứa bé không hiện hữu? Sự giác ngộ tâm linh là một biến cố vô cùng quan trọng trong đời người, mà không ai có thể quên được v́ từ đó, con người hoàn toàn thay đổi, trở nên một người mới.

Babu liếc mắt nh́n toàn thể phái đoàn, tất cả đều là những giáo sư, khoa học gia danh tiếng nhất… Y mỉm cười tuyên bố :

- Chúng ta chỉ mới ở vào buổi b́nh minh của khoa học, nhưng mỗi khám phá mới, mỗi kiến thức mới, đều đem lại cho chúng ta một bằng chứng rằng, vũ trụ này là công tŕnh của một đấng hoá công. Hăy lấy một thí dụ toán học cho dễ hiểu. Nếu ta bỏ vào túi 10 thẻ nhỏ, mỗi thẻ có ghi từ số 1 đến số 10, và tuần tự rút ra từng cái một. Sau khi rút xong ta lại bỏ thẻ vào túi, trộn đều và rút ra lần nữa. Làm sao ta có thể rút tuần tự từ số 1 đến số 10? Theo toán học, ta phải rút mười lần, mới có một lần rút được thẻ mang số 1. Phải rút 100 lần mới có một lần rút được số 1 và 2. Phải rút 1000 lần mới được số 1, 2, 3 liên tiếp. Nếu muốn rút theo thứ tự từ 1 đến 10, th́ trường hợp đặc biệt này chỉ có thể xảy ra một lần trong mười tỷ lần, có đúng không ? Nếu áp dụng toán học vào các điều kiện tạo đời sống ở quả đất này, th́ ta thấy nguyên lư ngẫu nhiên không sao hội đủ các điều kiện cần thiết. Vậy th́ ai đă tạo ra nó ? Trái đất quay quanh trục của nó với vận tốc 1600 cây số một giờ ở giữa đường xích đạo. Nếu nó quay chậm 10 lần th́ ngày sẽ dài gấp 10 và dĩ nhiên sức nóng của mặt trời cũng gia tăng gấp 10 lần. Thế th́ cây cối, sinh vật đều bị thiêu sống hết c̣n ǵ. Nếu cái ǵ chống được sức nóng cũng chết lạnh v́ đêm cũng dài ra gấp 10 và sức lạnh cũng tăng lên gấp 10 lần kia mà. Ai đă làm trái đất quay trong một điều kiện tốt đẹp như thế ? Mặt trời là nguồn sống của quả đất phải không ? Mặt trời nóng khoảng 5500 độ bách phân. Quả địa cầu ở đúng một vị trí tốt đẹp không xa quá mà cũng không gần quá. Vừa vặn đủ để đón nhận sức nóng của mặt trời. Nếu sức nóng mặt trời gia tăng một chút, ta sẽ chết thiêu, và ngược lại nếu sức nóng mặt trời giảm đi một chút, ta sẽ chết rét. Tại sao trái đất nằm ở điều kiện thuận lợi như vậy ? Trục trái đất nghiêng theo một toa độ là 23 độ. Nếu trái đất đứng thẳng, không nghiêng theo bên nào th́ sẽ không có thời tiết bốn mùa. Nước sẽ bốc hơi hết về hai cực và đồng thành băng giá cả. Mặt trăng là một vệ tinh của trái đất, điều khiển thuỷ triều biển cả. Nếu nó không cách xa trái đất 380 000 cây số mà xích lại gần hơn 80 000 cây số th́ một cuộc hồng thuỷ sẽ xảy ra. Nước sẽ bị sức hút dâng lên ngập tất cả các lục địa mỗi ngày hai lần. Tóm lại tất cả mọi đời sống trên mặt địa cầu sẽ biến mất, nếu các điều kiện sai lệch đi một ly. Nếu nói rằng đời sống chỉ là một sự ngẫu nhiên th́ trong tỷ tỷ lần may ra mới có một điều kiện tốt đẹp hoàn toàn để có được sự sống như thế.

Babu quay sang nh́n giáo sư Allen, một nhà sinh vật học của trường Harvard :

- Nếu toán học xem có vẻ trừu tượng quá, hăy thử quan sát thiên nhiên dưới cái nh́n của khoa sinh vật học (Biology) xem sao. Với khả năng sinh tồn của mọi vật, ta thấy sự hiện diện của tạo hoá rất chu đáo. Sự sống không có sức nặng hay bề đo mà mạnh mẽ làm sao. Bạn hăy nh́n một rễ cây non nớt, mềm yếu, vậy mà nó có thể soi nứt một tảng đá cứng rắn. Sự sống chinh phục không khí, đất, nước. Nó thống trị mọi nguyên tố, nó bắt buộc vật chất tan ră rồi lại kết hợp thành các h́nh thể mới. Sự sống là nhà điêu khắc nặn thành những h́nh thể mới lạ, là hoa. sĩ vẽ những cảnh vật thiên nhiên tô điểm cho tạo hoá. Sự sống cũng là nhạc sĩ dạy chim hót thánh thót, dạy côn trùng ngân nga, là nhà hoá học chế các hương thơm, quả ngọt. Sự sống từ các loài thảo mộc thu hút thán khí biến thành dưỡng khí nuôi muôn loài. Hăy nh́n những giọt nguyên sinh chất (protoplasm) trong suốt gần như vô h́nh, mắt ta không thể nh́n thấy, mà nó di động nhờ hấp thụ sinh khí thái dương. Chính cái tế bào đơn độc này chứa mầm sống của muôn loài, và là cội nguồn của toàn sự sống theo khoa học thực nghiệm. Tự nó không tạo ra sự sống vậy th́ sự sống ở đâu đă đến . Này các ông bạn, cá hồi (salmon) sinh ra ở nước ngọt, theo ḍng nước ra biển và sống ở đây cho đến khi trưởng thành rồi lại trở về nguồn. Hăy nh́n nó lội ngược ḍng về sinh quán, nó bơi một mạch đâu hề phân vân lưỡng lự. Nếu ta bắt nó đem đến một chỗ khác, nó vẫn trở lại nơi xưa. Ai đă dạy cho nó phân biệt một cách chắc chắn như vậy ? Loài lươn biển cũng thế, chúng rời sinh quán từ các ao hồ, sông lạch khắp nơi trên thế giới để bắt đầu một cuộc du hành đến tận ngoài khơi quần đảo Bermudạ Muốn đến đây, một con lươn Âu châu phải đi gần 4000 cây số, lươn Á châu phải đi xa hơn, có khi gần 8000 cây số. Chỉ tại đây chúng mới sinh sản và chết. Các con lươn con sinh ra tại đây không biết ǵ về sinh quán mà vẫn trở về quê hương xa xôi của cha mẹ chúng nó. Biết t́m về một cái lạch ở Pháp hay một cái hồ ở Nam dương. Giống nào về nhà giống đó, một con lươn Pháp không bao giờ bị bắt ở Ấn độ và một con lươn giống Thái lan không bao giờ đi lạc sang Phi châu. Ai đă ban cho loài lươn nguồn cảm kích phân biệt như thế? Ai đă hướng dẫn những con lươn bé bỏng trên đường phiêu du ngàn dặm như vậy? Chắc chắn không thể do ngẫu nhiên phải không các bạn ?

Toàn thể phái đoàn kinh ngạc trước kiến thức quảng bác của nhà chiêm tinh gầy g̣, bé nhỏ. Không ai ngờ một xứ chậm tiến như Ấn độ lại có một nhà bác học uyên thâm như vậy. Babu mỉm cười nói tiếp :

- Có lẽ các ông c̣n nhiều phân vân, thôi được hăy nói về yếu tố di truyền cho thực tế hơn. Yếu tố này là một mầm sống nguyên thuỷ rất nhỏ chứa đựng trong tất cả các tế bào. Mọi sinh vật đều có đặc điểm di truyền khác nhau. Yếu tố này cho ta thấy rơ sự sống đă được trù định từ trước v́ một cái cây sẽ tạo ra một cái cây, chứ không phải con vật. Từ các loại sinh vật bé nhỏ như con kiến đến các loài sinh vật to lớn như cá voi đều chịu sự chi phối của yếu tố này. Điều này chắc chắn không phải ai nghĩ ra hay ngẫu nhiên phải không ? Chỉ có đấng sáng tạo mới có đủ quyền năng làm các việc đó. Này các bạn, khắp nơi trong vũ trụ đâu đâu cũng có một sự quân b́nh tuyệt đối, không loài nào lấn át loài nào. Hăy nh́n loài côn trùng, chúng sinh sản rất nhanh mà sao không chiếm quả đất ? Ấy là v́ chúng không có bộ phổi như loài có vú (mammal). Chúng thở bằng khí quản (trachea) và khi chúng lột xác lớn lên, khí quản không lớn theo nên thân thể chúng bị giới hạn trong khuôn khổ nhất định. Con người hơn loài thú ở điểm lư trí. Bản năng con thú tuy kỳ diệu, nhưng bị giới hạn. Bộ Óc con người tuyệt vời ở chỗ nó có thể vượt xa tầm giới hạn của nó. Muốn quan niệm sự hiện hữu của thượng đế, cần phải có một năng khiếu mà chỉ loài người mới có. Ta có thể gọi nó là trí tưởng tượng cũng được, nhưng nhờ nó mà con người mới thu nhận các sự kiện vô h́nh, vô ảnh. Trí tưởng tượng mở cho ta một chân trời bao la và nhờ thế ta mới ư thức một thực tại tuyệt diệu rằng thượng đế là tất cả, ngài ở khắp mọi nơi, nhưng không ở đâu ngài hiện rơ như trong tâm hồn chúng ta.

Toàn thể phái đoàn yên lặng, thán phục những dẫn chứng hoàn toàn khoa học và giản dị của nhà chiêm tinh. Vài giờ trước đây, ai cũng nghi ngờ khả năng của “gă thầy bói”; nhưng hiện giờ mọi người đều công nhận y là một nhà bác học với kiến thức uyên bác không thua ai.

Babu mỉm cười nh́n tất cả mọi người và nói :

- Là khoa học gia, các ông hăy suy nghĩ về những điều tôi vừa tŕnh bày. Hăy quan sát vũ trụ, hăy dẹp bỏ các thành kiến sẵn có, và sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm, rồi các ông sẽ thấy tất cả đều diễn ra trong một trật tự, mỹ lệ và điều hoà. Các ông sẽ ư thức sự bé nhỏ của con người trước vũ trụ bao la v́ khoa học xây dựng trên căn bản của giác quan vốn rất giới hạn, sao có thể cảm xúc vũ trụ được ? Nếu ta cứ khăng khăng cho rằng những cái ǵ không nghe được, không nh́n được, đều không hiện hữu th́ thật là một sai lầm tai hại. Có biết bao nhiêu sự kiện xảy ra mà giác quan giới hạn không thể cảm nhận, cho đến một ngày nào họ khai mở các giác quan khác….

- Làm sao ông biết như thế ?

- Tôi đă nghiên cứu trực tiếp các vấn đề này trong khi Thiền định. Các sách vở bí truyền cũng đều nói rất rơ như vậy…

Giáo sư Mortimer hấp tấp :

- Chúng tôi có thể nghiên cứu hay phiên dịch những sách này không ?

Babu mỉm cười :

- Liệu ông có muốn bỏ ra vài chục năm để phiên dịch không ? Sách vở huyền môn đâu phải loại sách phổ thông để mọi người coi chơi. Theo tôi hiểu th́ chỉ một thiểu số người thích nghiên cứu nó v́ trong tiền kiếp họ đă có những hứng khởi tâm linh, đă từng nghiên cứu vấn đề này, đă có đủ trí tuệ để xét suy một cách tường tận. Họ là những ngườ iđă đến bên thềm Đạo và sắp bước vào. Chỉ những người này mới thích thú để tâm nghiên cứu những quyển sách khô khan như những sách trong nhà tôi.

Toàn thể phái đoàn im lặng, mỗi người theo đuổi một ư nghĩ riêng nhưng tất cả đều đồng ư rằng nhà chiêm tinh nói không sai. Giáo sư Allen lên tiếng :

- Tại sao thấy ánh sáng Chân Lư rồi mà ông vẫn tiếp tục hành nghề chiêm tinh. Tại sao ông c̣n chỉ vẽ cho người đời quá khứ, vị lai ?

Babu hănh diện tuyên bố :

- Tôi sống và phụng sự thế gian bằng nghề nghiệp này. Đâu phải ai tôi cũng tiếp. Dù bạn là tiểu vương hay thủ tướng. Nếu thấy bạn không có tâm hướng thiện, sửa đổi th́ không đời nào tôi hé môi nói một điều ǵ. Biết bao người đă đến cổng, nhưng mấy người vào được đến đây. Cách đây ít lâu, một tiểu vương cho khuân đến một rương ngọc chỉ để hỏi tôi một điều nhưng tôi không trả lời. Nếu không nhận được một thông điệp bằng tư tưởng th́ dễ ǵ tôi tiếp các ông và nếu không xem qua lá số của giáo sư Oliver , dễ ǵ tôi tiết lộ các bí mật cho những người lạ, nhất là người Âu Mỹ. Từ xưa đến nay, khoa chiêm tinh vẫn bị người đời hiểu lầm và diễn tả sai lạc rất nhiều. Nhờ nghiên cứu bộ sách nguyên thuỷ Brahma Chinta nên tôi có thể nói cho các ông biết chút ít về khoa học này, với hy vọng sẽ đánh đổ phần nào thành kiến sai lầm của người Âu. Khi sinh ra đời, mỗi cá nhân đều mang sẵn một tài sản khác nhau, đó là Nghiệp Báo. Tài sản này có thể tốt đẹp do các nguyên nhân hợp với thiên ư hoặc xấu xa bởi các lỗi lầm trong tiền kiếp. Tất cả nguyên nhân này đều chứa chấp trong Tàng thức hoặc A-lạiđa-thức (alaya-vijnana), và trở nên một động lực chi phối đời tạ Động lực này được phân phối bởi các mănh lực trong vũ trụ một cách vô cùng phức tạp, và biến thành một thứ gọi là Vũ trụ tuyến (cosmic rays). Những vũ trụ tuyến này không ồ ạt ảnh hưởng đến ta ngay, mà tùy theo sự thay đổi của tinh tú để phản chiếu xuống trần gian. Điều này rất hợp lư v́ trải qua vô lượng kiếp sống, con người đă làm biết bao điều xấu xa, đâu thể nào trong vài ba kiếp mà trả hết được. Đó cũng là lư do con người cứ trầm luân trong luân hồi sinh tử. Chiêm tinh học nghiên cứu sự xê dịch, vận hành của tinh tú mà đoán biết được các ảnh hưởng con người trong kiếp sống này. Nhờ nghiên cứu chiêm tinh mà người ta hiểu rơ rằng không hề có một Đấng Thần Linh thưởng phạt hay kiểm soát các hành động của tạ Tất cả chỉ là hậu quả của những ǵ do ta tạo nên và phải gánh chịu.

- Nhưng chính ông đă đề cập đến thượng đế và sự hiện hữu của ngài kia mà?

Babu bật cười :

- Các ông vẫn c̣n quan niệm rằng thượng đế là một ông già ngồi trên cao nắm quyền sinh sát, định đoạt số phận con người – đó là một quan niệm rất ấu trĩ. Thượng đế cao cả hơn nhiều, ngài sáng tạo và đặt tất cả vào một trật tử trong vũ trụ. Làm ǵ có việc ngài định đoạt số phận từng người như các ông nghĩ. Tất cả diễn tiến theo luật vũ trụ, nhân nào quả nấy, một lực nào cũng có một phản lực đi kèm đó là khoa vật lư chứ đâu phải ǵ xa lạ ? Làm ǵ có việc số mệnh đă định sẵn, nếu thế ta cứ tiêu cực, bất động mặc cho số phận run rủi hay sao ? Này các ông bạn, chiêm tinh học là một khoa học thực tiễn và tiến bộ, không thể có vấn đề mê tín. Lá số tử vi không có nghĩa là con người chỉ là nô lệ của quá khứ mà chỉ cho ta thấy rơ sự tuần hoàn của vũ trụ mà trong đó con người có thể thay đổi tính mạng. Chiêm tinh học nghiên cứu phản ứng của con người dưới ảnh hưởng tinh tú. Các tinh tú chỉ là những khí cụ trung gian biểu lộ một cách trung thực các tác động quân b́nh của nghiệp quả gây nên trong quá khứ. Mỗi người sinh ra đời vào một ngày giờ mà ảnh hưởng của tinh tú hoà hợp với nghiệp quả cá nhân của ỵ Các vũ trụ tuyến được tinh tú phản chiếu xuống làm mạch máu di chuyển, tế bào thay đổi, dĩ nhiên ảnh hưởng đến cuộc đời con người . Mặc dù con người không thể thay đổi việc đă xảy ra trong quá khứ, nhưng nhờ ư chí tự do, y có thể vượt khỏi tầm ảnh hưởng này và chiến thắng ảnh hưởng tinh tú. Tôi lấy một thí dụ như thương gia Keymakers, bạn của các ông. Đáng lư theo số mạng th́ ông ta phải chết trong cuộc chiến vừa quạ Nhưng v́ một mầm thiện nẩy sinh, thấy chiến tranh quá ư tàn khốc, ông động ḷng trắc ẩn mang tài sản ra giúp đỡ rât nhiều nạn nhân chiến cuộc. Dĩ nhiên, khi đó ông ta không hề biết ǵ về số mạng của ḿnh, nhưng hành vi bác ái này đă tạo một phản lực mạnh mẽ thúc đẩy các vũ trụ tuyến xê dịch sang một bên và nhờ thế ông ta thoát chết. Số mạng của ông ta hoàn toàn thay đổi từ đó. Các ông hiểu rằng hoán cải số mạng không có nghĩa việc quá khứ sẽ bị xoá bỏ, nhưng đáng lư một biến cố lớn sẽ xảy ra trong kiếp này, lại không xảy ra. Khi ta phát tâm làm một việc hợp với thiên ư th́ một ảnh hưởng tinh tú bỗng chói sáng và các từ điện mạnh mẽ đẩy ngược luồng vũ trụ tuyến sang hướng khác. Do đó, con người có thể cải số mệnh dễ dàng, nếu biết làm các việc tốt lành, đẹp đẽ. Dĩ nhiên , ảnh hưỏong xấu không mất đi, nhưng sẽ tiềm ẩn, chờ một cơ hội khác sẽ phát hiện lại. Nói một cách khoa học th́ đời người có thể ví như một phương tŕnh toán học, A * B bằng C. A và B là nguyên nhân và C là hậu quả, nhưng nếu tta thêm vào đó một nguyên nhân X th́ A * B * X sẽ không thể bằng C nữa, v́ đă có thêm nguyên tố X. Đó là nguyên lư hoán cải số mạng mà tôi vừa tŕnh bày. Đời người thực ra đă ghi khắc trên tinh tú nhưng các tinh tú khi sáng khi mờ, và sự mờ tỏ do chính ta quyết định. Khi ta có các hành vi xấu xa nó tạo ra những động lực xấu và số thu hút các điều xấu ghi khắc trên tinh tú, phản chiếu xuống mau lẹ hơn. Dĩ nhiên hậu quả không thể lường. Trái lại, nếu ta ư thức điều này, phát tâm làm việc hữu ích tự nhiên phát sinh các động lực tốt đánh bật các ảnh hưởng xấu sang một bên. Nhờ nghiên cứu chiêm tinh học một cách đứng đắn, khoa học, con người sẽ hiểu biết mệnh trời, biết tin tưởng ở ḿnh, và sống cuộc đời thoải mái, không bi quan, không lạc quan, an vui tự tại.

- Như thế người đi trên đường Đạo, sẽ gặp ǵ khi đă có nghiệp quả xấu ?

- Nghiệp quả xấu ví như một án treo, bất động, nhưng không ai có thể tránh được nó. Đối với những người đă vào cửa Đạo, đă hiểu biết th́ họ lại cầu xin được trả quả cho lẹ. Tuy họ không gây các nhân xấu nữa, nhưng họ đủ can đảm để chịu đựng nghiệp quả. Có thế họ mới rút ngắn thời gian trong sinh tử luân hồi. Hiểu biết mệnh trời để sống thoải mái chính là mục đích của khoa chiêm tinh chân chính.

Babu im lặng suy nghĩ. Sau cùng, y bước đến một tủ lớn mang ra một cái hộp nạm vàng rất đẹp. Trong hộp chứa một quyển sách cổ viết trên lá buôn (papyrus), y long trọng tuyên bố :

- Đây chính là một phần của bộ Brahma Chinta mà tôi sưu tầm được. Các ông nên biết huyền môn có hai phần. Công truyền (exoteric) và bí truyền (esoteric). Loại bí truyền chỉ được dạy cho các đệ tử đă bước vào cửa Đạo, đă được tuyển chọn rất kỹ. Hiền triết Bhrigu chỉ truyền cho 4 đệ tử bộ sách này. Tôi tiếc rằng mẫu nhỏ này c̣n nhiều thiếu sót và rất khó hiểu, mất hơn 20 năm nghiên cứu, mà tôi chỉ hiểu chút ít thôi. Gặp gỡ các bạn bữa nay là một nhân duyên hiếm có, tôi xin dịch vài trang để làm quà cho các bạn : “ Vạn vật trong vũ trụ dù ở cơi vô h́nh hay hữu h́nh đều được sắp hạng và phân loại theo quy mô của số 7. Tất cả mọi h́nh thức sinh hoạt trong dăy hành tinh hiện tại đều thuộc một trong 7 cung. Mỗi cung có 7 phân bộ hay 49 nhóm . Toàn thể Thái dương hệ của chúng ta đều là sự biểu lộ của thượng đế, mỗi phần tử trong đó đều là một phần của ngài. Ngoài ra có 7 vị tinh quân (logo) mỗi vị kiểm soát một cung. Thật ra các vị này chỉ là những trung tâm thần lực, những con đường vận hà để thần lực thượng đế ban răi ra. Con người có ba thể chính là thể xác, thể vía và thể trí tương ứng với ba cơi giới Hạ giới ,Trung giới, và Thượng giới. Thượng đế cũng thế, tất cả vật chất trong Hạ giới hợp thân thể xác của ngài . Tất cả vật chất cơi Trung giới hợp thành vía của ngài, và tất cả vật chất cơi Thượng giới hợp thành thể trí của ngài. Tóm lại, tât cả đều là thành phần của thượng đế từ hạt bụi đến các dăy thiên hà. Mọi nguyên tử vật chất cấu tạo nên chúng ta đều là một phần của thượng đế xuyên qua 7 cung – khi qua đây nó bị thay đổi ít nhiều, tùy ảnh hưởng các cung. Khoa chiêm tinh có thể phân biệt người nào chịu ảnh hưởng cung nào tùy số lượng nguyên tử cấu tạo xuất phát từ cung liên hệ.”

Babu nh́n mọi người thấy họ có vẻ ngơ ngác. Y mỉm cười giải thích :

- Đề tài này rất khó hiểu, thôi để tôi giải thích rộng ra vậy. Nói theo danh từ Thiên chúa giáo th́ 7 vị tinh quân này đă xuất hiện trong linh ảnh (vision) của Thánh Jean. Sách khải huyền 4.5 nói rơ, “có 7 ngọn đèn thắp trước ngài, đó là 7 vị đại thiên thần của chúa trời”. Lúc khởi thuỷ, mọi người chúng ta đều là thành phần của thượng đế, nghĩa là cùng bắt nguồn từ một nơi. Sau đó, chúng ta tách rời ra, xuyên qua 7 con đựong vận hà này. Theo sự hiểu biết của tôi, th́ 7 con đựong biểu lộ 7 đức tính của thượng đế, qua 7 vị tinh quân. Vị thứ nhất là thiên thần Michael (sức mạnh), liên hệ đến hoa? tinh. Vị thứ hai là Gabriel (toàn tri) liên quan đến thuỷ tinh. Vị thứ ba là Raphael (quyền năng) liên quan đến thái dương. Vị thứ tư là Uriel (ánh sáng) liên quan đến mặt trăng. Vị thứ năm là Zakiel (hảo ư) liên quan đến mộc tinh, c̣n hai vị kia là Jophiel và Samuel th́ tôi không biết rơ hành tinh liên hệ. Khoa học thực nghiệm tinh rằng các hành tinh đều là sự kết hợp ngẫu nhiên của vật chất. Nếu là ngẫu nhiên tại sao chúng nằm ở các vị trí nhất định trong vũ trụ, và di chuyển theo một quỹ đạo cố định ? Mọi vật dường như tuân theo một định luật thiên nhiên, nhưng đằng sau định luật đó luôn luôn có một sức mạnh thiêng liêng cai quản. Tôi cố gắng dùng tên các vị thiên thần và danh từ Thiên chúa giáo để giải thích cho các ông . Điều này có thể được diễn tả khác đi tùy theo quan niệm tôn giáo, văn hoá; nhưng sự thật vẫn là một. Muốn hiểu khoa chiêm tinh phải đi ngược về nguồn cội. Con người từ một chốn nguyên thuỷ ví như nước cùng một nguồn chảy theo bảy ḍng suối khác nhau để ra biển. Mỗi ḍng suối sẽ mang một tính chất khác nhau, do đó nước trong suối cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều. Loài người có thể phân biệt ra 7 đức tính rơ rệt tùy theo con đường vận hà mà họ trải quạ Chiêm tinh nghiên cuú con người và ảnh hưởng hành tinh đến các tính nết nhất định. Cũng như khoa Sinh lư học phân biệt con người qua tính chất nồng nhiệt, lănh đạm, bạch huyết chất hay đa huyết chất. Thực ra đó chỉ là các phương pháp khác nhau để tŕnh bày tính chất con người. Dĩ nhiên không dễ ǵ t́m ra cung của mỗi người v́ y đă đi sâu trong luân hồi sinh tử, tạo các nghiệp quả phức tạp, và những nguyên nhân này chế ngự, ảnh hưởng đến tính t́nh y rất nhiều. Chỉ với sự khai mở các giác quan như Thần nhăn hay có một kinh nghiệm sâu xa về huyền môn, ta mới có thể biết rơ họ thuộc cung nào. Nếu một người biết rơ cung của ḿnh và tiếp tục trau dồi bản tính sẵn có, th́ y sẽ tiến bộ rất nhanh, v́ khí cụ hữu hiệu nhất là phương pháp thuộc về cung liên hệ. Thí dụ như người có khiếu về âm nhạc lại cứ học toán. Không phải y sẽ không tiến bộ ǵ, nhưng nếu đi về âm nhạc y sẽ tiến nhanh hơn v́ hợp với khả năng hơn. Sự hiểu biết ḿnh là ai, có những khả năng tiềm ẩn nào sẽ giúp ta định hướng đi cho chính xác. Đó mới là mục đích của khoa chiêm tinh. Đa số con người hành động không ư thức, chịu ảnh hưỏong ngoại cảnh, nên luôn bất măn, không thoải mái. Họ tự đóng kịch với chính ḿnh, hoặc sống theo một lề lối khuôn khổ không thích hợp. Trong Kinh thánh có câu, “nếu các ngươi không hồ nhiên như trẻ con, các ngươi không thể vào nước thiên đàng”. Điều này khuyên ta nên sống thật với chính ḿnh. Chiêm tinh học có thể giúp ta biết ta là ai, thích hợp với nhũung công việc ǵ ? Sự nghiên cứu chiêm tinh như thế mới gọi là đứng đắn chứ không phải chỉ xem quá khứ, vị lai, may rủi.

- Làm sao con người có thể biết họ thích hợp với cung nào ?

- Một nhà chiêm tinh giỏi có thể lấy lá số tử vi để xem cá nhân liên hệ với cung nào, điều này đ̣i hỏi rất nhiều thời giờ, kinh nghiệm. Một phương pháp khác là hăy nh́n hành động mỗi người . Người thuộc cung 1 sẽ đạt đến mục đích bằng sức mạnh ư chí. Người thuộc cung 2, phân tích kỹ lưỡng vấn đề để lựa chọn phương pháp nào hữu hiệu nhất. Người thuộc cung 3 nghiên cứu rất kỹ về thời gian, giờ khắc thuận lợi nhất v..v… Một thí dụ khác như trong việc chữa bệnh, người cung 2 sẽ t́m hiểu nguyên nhân và phương pháp nào thích hợp nhất để chữa bệnh, khi người ở cung 3 sẽ nghiên cứu thời gian nào thuận lợi để chữa. Người ở cung 6 sẽ t́m cách chữa bệnh bằng đức tin. Người thuộc cung 7 sẽ chữa bằng các nghi lễ, cúng tế, v..v.. Tuy nhiên,cách tốt hơn hết là tự ḿnh, xét lấy ḿnh. Hăy dẹp bỏ những điều ḿnh vẫn khoác lên bản ngă như danh vọng, địa vị, ham muốn. Hăy thành thật với chính ḿnh th́ ta có thể xem được ḿnh thuộc về cung nào. Nếu ta là người có ư chí mạnh mẽ, cương quyết làm việc trong tinh thần khoa học th́ có lẽ ta ở cung 1. Nếu là người khôn khéo, thích lư luận và làm việc một cách hiệu quả th́ có lẽ ở cung 2. Nếu là người nhạy cảm, thích hoạt động xă hội, từ thiện th́ có lẽ ta thuộc cung 5. Nếu là người có đức tin mạnh mẽ, cẩn thận, có thể ta thuộc cung 7, v..v… Đề tài các cung rất khó giải thích trong một thời gian ngắn. Tôi chỉ có thể nói vắn tắt thôi. Cái vật chất sơ khai nguyên thuỷ bắt đầu tiến hoá qua 7 con đường vận hà hay 7 đức tính quan trọng. Chỉ khi nào con người phát triển toàn vẹn cả 7 đức tính này, y sẽ trở nên toàn thiện. Dĩ nhiên , chúng ta đều bất toàn dù mỗi cá nhân đă nảy nở các đức tính cần thiết căn bản. Người Âu tây đă khai mở rất nhiều khả năng suy luận, khoa học, nhưng thiếu khả năng sùng tín, bác ái. V́ lư trí nảy nở nhiều hơn t́nh cảm nên họ có vẻ thiếu thiện cảm, lạnh lùng, thích chống báng thay v́ dung hoà. Trong khi đó, người Á châu phát triển mạnh mẽ về sự sùng tín, bác ái, nhưng thiếu khả năng suy luận, để t́nh cảm chi phối nên họ có vẻ chịu đựng, nhượng bộ, khoan dung, dễ dăi. Cả hai đều không quân b́nh tuyệt đối, nên trong tương lai sẽ có các biến chuyển mạnh, xáo trộn để cả hai dân tộc có dịp học hỏi, hoà hợp với nhau.

Babu im lặng suy nghĩ một lúc rồi trầm giọng :

- Trong cuộc đời nghiên cứu sách vở bí truyền của các tôn giáo, tôi không hề thấy có sự khác biệt giữa các giáo lư, nếu không nói là giống hệt nhau. Tiếc thay, con người chỉ thích đi t́m sự khác biệt để chỉ trích, phê b́nh và càng ngày càng đi xa đến chỗ vô minh cùng cực.

- Nhưng các tôn giáo có khác biệt nhau chứ ?

Babu nhẹ nhàng :

- Này các bạn, mỗi quốc gia có phong tục, tập quán riêng biệt. Mỗi thời buổi đều có các thay đổi, giá trị khác nhau. Do đó, một chân lư cũng có thể được giảng dạy bằng các phương pháp khác nhau. Phương pháp, ngôn ngữ có thể khác, nhưng chân lư vẫn là một cũng như thượng đế có 7 con đường vận hà khác nhau qua bảy cung. Nguyên tử mỗi cung có các rung động khác nhau, có màu sắc khác nhau, tính chất khác nhau, nhưng nó đều là nguyên tử xuất phát từ thượng đế. Nếu bạn thay đổi áo mặc khác nhau th́ bạn đâu có thay đổi, chiếc áo có thể khác nhưng người mặc áo vẫn chỉ là một. Nếu các ông đi ngược về cội nguồn các ông sẽ hiểu sự thay đổi từng thời kỳ qua ảnh hưởng tinh tú.

Giáo sư Allen thắc mắc :

- Xin ông giải thích thêm về việc này.

Babu trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi trả lời :

- Trong 7 vị tinh quân có những biến đổi diễn ra từng thời kỳ giống như sự tuần hoàn của hơi thở trong bộ máy hô hấp, hay sự vận động của quả tim. Các sự biến đổi này diễn ra vô cùng phức tạp, dưới thiên h́nh vạn trạng. V́ lẽ thể vía con người được cấu tạo cùng một nguyên tử với thể vía các vị tinh quân, nên khi vị tinh quân thay đổi , tự nhiên mọi người trên thế gian cũng ít nhiều ảnh hưởng theo. Nói một cách khác, khi vị tinh quân cai quản một cung thay đổi th́ những người đă đi qua cung đó, nguyên tử cấu tạo có chứa đựng nhiều tỷ lệ của cung đó sẽ thay đổi theo. Trong lịch tŕnh tiến hoá, đă có những sự thay đổi trong đầu óc loài người, từng thời kỳ và do đó, văn minh nhân loại cũng đổi thaỵ Theo sự nghiên cứu của tôi th́ mỗi chu kỳ kéo dài khoảng 100 năm, nhưng cứ 25 năm cuối lại có các biến chuyển gây ảnh hưởng cho chu kỳ kế tiếp.

- Như vậy th́ sự biến chuyển kỳ này sẽ bắt đầu vào khoảng 1975 cho đến năm 2000 và ảnh hưởng đến thế kỷ 21 ?

Babu gật đầu :

- Thật ra chu kỳ không hoàn toàn trùng hợp từng năm, từng tháng, v́ niên lịch thông thường không chính xác. Khoa chiêm tinh sử dụng một thứ lịch khác theo sự vận chuyển của các tinh tú. Tuy nhiên, để giản dị hoá vấn đề này ta có thể nói rằng cứ 25 năm cuối của mỗi thế kỷ là buổi giao thời có nhiều sự thay đổi mănh liệt.

Giáo sư Mortimer buột miệng :

- Nhưng đă có bằng chứng nào rằng cuối thế kỷ này sẽ có các thay đổi lớn ?

Babu mỉm cười nh́n tất cả mọi người :

- Các ông đều là người Âu, tôi xin dẫn chứng bằng lịch sử Âu châu cho dễ hiểu. Các ông có thể coi nó là sự trùng hợp ngẫu nhiên cũng được. Năm 1275, Roger Bacon phát động phong trào phục hưng văn hoá, rồi suốt 100 năm sau, toàn thể Âu châu đều thay đổi. Năm 1375, Chirstian Rosenkreuz phổ biến nền văn hoá này khắp từng lớp dân chúng, đưa Âu châu thoát khỏi nền tảng hắc ám của thời kỳ Trung cổ. Năm 1275 và 1375 chả là 25 năm chót của thế kỷ 13 và 14 hay sao?

Giáo sư Mortimer, một nhà bác học về cổ ngữ và lịch sử Âu châu suy nghĩ :

- Qủa thế, phong trào phổ thông văn hoá bằng đường lối phục hưng đă cứu nguy cho sự suy đoềi của Âu châu, nhưng đó chỉ là hai trường hợp. Tôi thiết nghĩ muốn kết luận ta cần nhiều dữ kiện rơ ràng hơn.

Babu mỉm một nụ cười bí mật và xác định :

- Thế th́ ông nghĩ sao về việc phát minh ra máy in, kỹ thuật ấn loát vào năm 1473 ? Nhờ thế tư tưởng các triết gia, giáo sĩ mới phổ thông khắp quần chúng, nâng cao dân trí Âu châu? Ông nghĩ sao về Francis Bacon và cao trào nghiên cứu khoa học năm 1578, sử dụng Anh ngữ thay v́ Latin để phổ biến kiến thức khoa học. Có phải những việc này đă đem khoa học vào xă hội để cải thiện cuộc sống hay không ? Việc này xảy ra vào 25 năm cuối của thế kỷ 15 và 16. Phải phục hưng văn hoá, đưa Âu châu khỏi các thành kiến bảo thủ đă, rồi cải cách, phát triển khoa học để mọi người biết suy luận sau đó, mới thay đổi xă hội được chứ. Văn hoá đi trước phổ biến tư tưởng để dọn đường cho các thay đổi chính trị, xă hội về sau. Năm 1675, các Hội Kín bắt đầu mọc lên, kêu gọi san bằng giai cấp, dẹp tan bất công xă hội, gây nên bởi chế độ Bảo Hoàng. Năm l789, cuộc cách mạng Pháp đă bùng nổ, và thay đổi hẳn lịch sử Âu châu. Hai biến cố này đều xảy ra trong ṿng 25 năm cuối của thế kỷ 17 và 18. Từ đó đến nay chắc các ông đă thấy ?

Giáo sư Mortimer toát mồ hôi trán. Lịch sử Âu châu đối với ông nào có xa lạ ǵ, nhưng sự giải thích của Babu đă làm ông bừng tỉnh.

Toàn thể phái đoàn đều bàng hoàng, khâm phục Babụ Trong một buổi chiều, nhà chiêm tinh xứ Ấn đă hùng biện, dẫn chứng về toán học, sinh vật học, triết học, tôn giáo và cả lịch sử Âu châu như một học giả uyên bác nhất. Kiến thức của y đă chinh phục tất cả mọi người.

Giáo sư Mortimer run giọng :

- Vậy th́ theo ông việc ǵ sẽ xảy ra cho thế kỷ 20 này ?

Babu im lặng suy nghĩ một lúc rồi trả lời :

- Năm 1875 đánh dấu một bước tiến quan trọng, đó là sự phát triển khoa học văn minh cơ giới cùng thuyết “Tiến hoá” của Darwin, và phong trào Thiên chúa giáo tự dọ Từ đây bắt đầu một cuộc tranh chấp giữa tinh thần và vật chất. Có hai mănh lực rất mạnh phát xuất từ hai bầu tinh tú đối cực, gây nên phong trào Duy tâm và Duy vật. Thế kỷ 20 bắt đầu với sự phát triển cực thịnh của thuyết Duy vật. Con người sẽ bị thúc đẩy vào các sự kiện vật chất, họ sẽ gặp các thử thách mà nhu cầu bao tử, khoái cảm xác thân tranh đấu với nhu cầu tâm linh một cách mănh liệt. Đến khoảng 25 năm cuối, từ 1975 trở đi th́ phong trào Duy tâm sẽ phát triển mạnh ẽm và được phổ biến sâu rộng để thúc đẩy sự tiến hoá tâm linh. Cuối thế kỷ 20, phong trào Duy vật sẽ sụp đổ, hiện tượng nghiên cứu các giáo lư bí truyền sẽ bắt đầu. Này các ông bạn, các bạn đều là những người tiên phong. Trước khi một sự phổ thông Bí giáo được thực hiện phải có những hạt giống gieo sẵn và nẩy mầm. Đó là lư do các bạn được thúc đẩy để nghiên cứu các hiện tượng huyền bí phương Đông. Tôi không thể tiết lộ thêm điều ǵ, nhưng qua lá số tử vi của Oliver, tôi quả quyết những điều tiên đoán đều sẽ thành sự thật. Chắc chắn trong 25 năm cuối của thế kỷ này, sẽ có nhiều thay đổi và có những cố gắng giúp cho sự tiến bộ của nhân loại, giai đoạn này rất quan trọng. Có hai loại người trên thế gian : một loại đă thấy ánh sáng rực rỡ nơi cuối chân trời và định hướng để tiến tới đó. Dĩ nhiên, họ sẽ phải chiến đấu cam go với các cám dỗ, các hoàn cảnh bất lợi xảy ra chung quanh. Nhưng ở họ, hy vọng luôn luôn sáng rỡ. Hạng thứ hai, không cảm xúc được các tư tưởng thanh cao, không tin tưởng những điều cao thượng. Họ là những người lạc lơng, đáng thương v́ họ sẽ phải học các bài học hết sức đau khổ cho đến khi họ hiểu biết và quay đầu về phía ánh sáng. Điều này đă và đang xảy ra.

- Chuyện ǵ sẽ xảy ra cho những người không hiểu biết này ?

Babu bật cười :

- Các ông nghĩ rằng thượng đế sẽ trừng phạt họ ư ? Không đâu, họ sẽ phải tự học lấy những bài học trong lầm lỗi, trong đau khổ. Thí dụ như một người muốn đi từ quê lên tỉnh. Y có thể đi theo các đường lộ xây cất sẵn sàng, theo bản đồ chỉ dẫn. Nhưng có người cứ khăng khăng đi theo ư ḿnh bất tuân theo luật lệ, đường dọn sẵn không đi, bản đồ có sẵn không thèm nh́n. Y sẽ đi vào rừng, dẫm lên gai góc, đau đớn, lạc lối lung tung. Sau đó, mới ư thức được sự ngu xuẩn của ḿnh. Đời là một bài học vô cùng quư giá mà ai cũng phải học. Cơi đời đầy những vô thường, khi thế này, lúc thế khác chứ đâu êm xuôi bằng phẳng.

Babu ngưng nói đưa mắt nh́n về sông Hằng. Bên kia bờ sông là một câu lạc bộ với những ánh đền màu cùng tiếng nhạc dập d́u. Y thở dài :

- Đó là nơi hội họp của một hội đồng thương mại. Hội này quy tụ toàn các thương gia, các bậc thượng lưu, trí thức, giàu có bậc nhất thành phố này. Tuần nào họ cũng hội họp ăn uống. Đa số đều đă ngoài 60 mà vẫn c̣n ham vui. Cơ thể họ đă suy nhược, nhưng ḷng hưởng thụ vật chất c̣n mănh liệt. Họ tụ tập nhau để nói chuyện mưa gió, thời tiết, thú vui đời người. Không ai ư thức được rằng chỉ ít lâu nữa, ai cũng phải từ giă cơi trần. Nghe họ vui đùa, tưởng như họ có thể lột da như giống rắn để sống măi măi như thế.

Babu nh́n lên bầu trời đầy sao trầm ngâm :

Mọi vật trong vũ trụ đều quân b́nh tuyệt đối, không dư, không thiếu, từ hạt bụi bé nhỏ đến những dăy thiên hà vĩ đại. Đời người quá ngắn, và luôn bị lôi cuốn vào sinh hoạt quay cuồng. Đâu mấy ai ư thức được sự phung phí hôm nay, dọn đựong cho sự đau khổ ngày mai. Tất cả chỉ là những ảo ảnh chập chờn, thế mà người ta cứ coi như thật. Nếu biết thức tỉnh quan sát, ta có thể học hỏi biết bao điều haỵ Tiếc rằng khi đắc thời người ta quên đi quá khứ rất nhanh. Chỉ trong đau khổ, nhục nhă ê chề mới chịu học. Có thể đó cũng là lư do luôn luôn có các biến động vô thường, thúc dục con người học hỏi.

- Ông nghĩ rằng con người sẽ học hỏi trong đau khổ.

Babu thở dài :

- Đúng thế, chúng ta có tính hay quên, nên cứ phải học đi, học lại cái bài học khổ. Chỉ khi bị khổ sở, bị đàn áp, tự do bị chà đạp, con người mới quay về với niềm hy vọng cuối cùng là đức tin. Khi sung sướng ít ai nghĩ đến việc tu thân cầu giải thoát. Khi cơ thể bệnh hoạn, ta mới thấy khoẻ mạnh là hạnh phúc. Khi bị tù đày, ta mới thấy giá trị của tự dọ Tiếc rằng khi khỏi bệnh, ta không ư thức nguyên nhân đă gây nên bệnh đó, mà lại tiếp tục một đời sống như trước; do đó, ta cứ bị bệnh hoài.

- Nhưng con người cũng học hỏi rất nhiều, và đă có tiến bộ lớn lao.

Babu ngắt lời :

- Các ông gọi như thế nào là tiến bộ ? Trên phương diện vật chất, con người ta đă tiến bộ chút ít so với những thế kỷ trước. Nhưng phương diện tinh thần vẫn nghèo nàn như xưa, chả tiến được chút nào, bằng cớ là họ vẫn tiếp tục các lỗi lầm quá khứ.

- Ông muốn nói đến chiến tranh ư ?

Babu im lặng nh́n lên bầu trời đầy tinh tú, ngẫm nghĩ một điều ǵ.

Toàn thể mọi người im lặng chờ đợi. Sau cùng, giáo sư Allen lên tiếng :

- Theo ông, th́ hoà b́nh có thể thực hiện một ngày gần đây không ?

Babu mỉm cười trả lời :

- Các ông nghĩ rằng, với khả năng bé nhỏ của tôi mà có thể biết hết được ư ? Từ khi con người có mặt trên trái đất này, đă có hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác. Chiến tranh có bao giờ chấm dứt được ? Thực ra chiến tranh chỉ là sự biểu lộ trạng thái bên trong chúng ta, là sự phóng đại các động tác hàng ngày của chúng tạ Sở dĩ mỗi ngày, nó một trầm trọng hơn, là do kết quả các hoạt động kỹ nghệ, và óc sáng tạo của con người. Chiến tranh không thể chấm dứt nếu các nguyên nhân gây nên cuộc chiến vẫn c̣n. Nếu có một cây cổ thụ thật lớn và ta muốn tiêu diệt nó. Ta không thể leo lên vặt hết lá cây được, vặt lá này nó lại mọc lá khác phải không các bạn ? Cách duy nhất là đốn tận gốc rễ. Nguyên nhân chiến tranh bắt nguồn từ các tham vọng, giận dữ, oán hận, đầu óc quốc gia, bộ lạc, tinh thần phe phái, đố kỵ, ganh ghét, v…v… Tận diệt được các thói xấu này là chấm dứt chiến tranh. Phương pháp duy nhất là làm một cuộc cách mạng trong tâm hồn. Chỉ khi nào loài người ư thức điều này và thay đổi quan niệm sống, xoá bỏ ḷng thù hận, th́ họ sẽ thấy b́nh an. Tiếc rằng ai cũng chỉ nh́n thấy sự sai quấy nơi người khác, nên mới có t́nh trạng ngày naỵ Hoà b́nh và thiện chí cần đi đôi với nhau, nên không ai có thể thực hiện hoà b́nh khi ḷng c̣n đầy oán thù, ghen ghét, muốn bốc lột kẻ khác để mưu lợi cho cá nhân ḿnh hay phe phái ḿnh. Tất cả các hội nghị, các mưu tính để mang lại hoà b́nh cho nhân loại đều thất bại, v́ con người không chịu thực hiện hoà b́nh ở chính ḿnh.

Babu mỉm cười nh́n tất cả mọi người một lúc, rồi trầm giọng :

- Các ông đều biết Đại đế Alexander, người đă chinh phục thế giới. Trong việc xây dựng hoà b́nh cho Hy Lạp, ông đă càn quét, tiêu diệt tất cả những nước láng giềng, có thể đe doa. xứ sở của ông. Rồi cứ thắng xong trận này, lại phải lo đến trận khác, và cuộc chiến tranh để mang lại hoà b́nh cứ kéo dài. Alexander là một người thông minh theo học với hiền triết Aristotlẹ Khi lên ngôi hoàng đế, ông đă tâm sự với thầy, “con sẽ chiến thắng Ai cập và Thổ nhĩ kỳ”. Aristotle hỏi, “Rồi sao nữa?”. Alexander suy nghĩ, “Sau đó, con có thể ngủ một cách b́nh an”. ( Thời đó người Hy Lạp chỉ biết đến Ấn độ, chưa biết đến các nước khác ở Á châu). Aristotle mỉm cười, “ Con hỡi, tại sao con không ngủ b́nh an ngay đêm nay có hơn không?”.

Babu kết luận :

- Tôi nghĩ con người cần đặt cho ḿnh một câu hỏi tương tự. Hăy quan sát ḷng ḿnh một cách thành thật xem ḿnh muốn ǵ ? Chúng ta muốn b́nh an hay kích động ? Phải chăng chúng ta đều náo nức muốn cái ǵ ? Mỗi buổi sáng, chúng ta vội vă cầm lấy tờ báo để t́m các tin tức sôi nổi nhất. Nếu không có tin ǵ về chiến tranh, thiên tai, xáo trộn, khó khăn kinh tế - - th́ chúng ta vất tờ báo xuống đất, và than rằng chả có ǵ đáng xem. Có phải thế không ? Chúng ta muốn sống yên ổn, không thích xáo trộn, nhưng rất thích thú nghe nói về các sự xáo trộn của kẻ khác. Chúng ta dành nhiều giờ để bàn căi sôi nổi về người này, người nọ, chê bai ông này, diễu cợt bà kia. Phải chăng chúng ta vẫn làm thế ? Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi, tại sao chúng ta lại làm thế không ? Ḷng ta c̣n ham tiền bạc, danh vọng, địa vị, sức khoẻ, và chỉ cầu b́nh an cho chính ḿnh thôi, nên chẳng bao giờ thoa? măn. Nếu ai có hỏi th́ ta cũng sẽ chối quanh như đại đế Alexander chỉ xin một giấc ngủ b́nh an mà thôi. Giấc ngủ b́nh an nào có khó, nào xa xôi diệu vợi, tốn công nhọc sức mới có. Làm sao ta có thể lao đầu vào vật chất phù du, xây dựng danh vọng địa vị, thỏa măn cái phàm ngă hữu h́nh hoại đồng thời t́m sự b́nh an, yên tĩnh ? Chính các điều trên đă phá vỡ sự yên tĩnh sung măn của nội tâm tạ Phiền năo là do chính ta tạo nên, chứ đâu phải hoàn cảnh phải không các bạn ? Ngày hôm nay chúng ta đă nói chuyện rất lâu rồi. Các bạn sẽ c̣n trải qua một hành tŕnh dài, gặp gỡ nhiều bậc danh sư, hiền triết. Tôi chúc các bạn t́m được niềm an tĩnh của tâm hồn.

Babu mỉm cười, dơ tay tiễn khách, vầng trăng đă lên cao, lấp loáng phản chiếu trên sông Hằng.

 
Chapter VI
The man we had left in the village to observe Emil joined us here and reported that he had conversed with Emil until nearly four o'clock of the day he was to keep his appointment with us. Then Emil said he was about to keep his appointment. His body immediately became inactive and reposed upon the couch as though asleep. It was in this position until about seven o'clock in the evening, when it gradually became more indistinct and disappeared. It was at this time in the evening that Emil came to us in the lodge at the little village.
We had made a number of short trips from our headquarters with either Jast or Neprow accompanying us and in every instance, they had shown their sterling qualities and worth. On one of these trips Emil, Jast, and Neprow accompanied us to a village where a temple called The Silence Temple, The Temple Not Made By Hands, is located. This village contains the temple and the houses of the attendants and is located on the former site of a village that had been nearly destroyed by the ravages of wild animals and pestilence. We were told that the Masters visited this spot and found a few inhabitants left of about three thousand population. They ministered to them and the ravages of the wild animals and pestilence ceased. The few villagers vowed that, if they were spared, they would, from that time on, devote their lives to God, serving Him in any way He chose. The Masters left and when they returned later they found the temple erected and attendants in charge.
The temple is very beautiful, situated on an elevation overlooking a wide expanse of country. It is about six thousand years old, is made of white marble, and has never needed repairs, as a piece chipped off replaces itself, as was proven by members of our party.
Emil said, "This is called the Temple of Silence, the Place of Power. Silence is power, for when we reach the place of silence in mind, we have reached the place of power-the place where all is one, the one power-God. `Be still and know that I am God.' Diffused power is noise. Concentrated power is silence. When, through concentration (drawing to a center), we have brought all of our forces into one point of force, we have contacted God in silence, we are one with Him and hence one with all power. This is the heritage of man. `I and the Father are one.' There is but one way to be one with the power of God and that is consciously to contact God. This cannot be done in the without, for God manifests from within. `The Lord is in His holy temple; let all the earth keep silent before Him.' Only as we turn from the without to the silence of the within can we hope to make conscious union with God. We will realize that His power is for us to use and we will use it at all times. Then we will know that we are one with His power.
"Then will humanity be understood. Man will learn to let go of self-delusions and vanities. He will realize his ignorance and littleness. Then will he be prepared to learn. He will realize that the proud cannot be taught. He will know that only the humble can perceive the Truth. His feet will feel the firm rock, he will no longer stumble, he will be poised in decision.
"To realize that God is the only power, substance, and intelligence may be confusing at first. But when man does realize the true nature of God and brings Him forth into active expression, he will use this power at all times. He will know that he consciously contacts His power at all times-when he eats, when he runs, when he breathes, or when he does the great work before him. Man has not learned to do the greater works of God because he has not realized the greatness of God's power and has not known that God's power is for man's use.
"God does not hear us through our loud and vain repetitions nor our much speaking. We must seek God through the Christ within, the invisible connection which we have within ourselves. When the Father within is worshipped in Spirit and Truth, He hears the calls of that soul which sincerely opens to Him. The one who makes the connection with the Father in secret will feel the power flowing through him as the fulfillment of every desire. For he that sees the Father in the secret place of his own soul and there abides, him the Father will reward openly. How often Jesus disclosed his individual contact with the Father. See how He constantly held Himself in conscious communication with God within. See how He talked with Him as though He were personally present. See how powerful this secret inner relation made Him. He recognized that God does not speak in the fire, the earthquake, or the great wind, but in the still, small voice-the still, small voice deep in our own souls.
"When man learns this, he will become poised. He will learn to think things through. Old ideas will drop away, new ideas will be adjusted. He will soon find the ease and efficiency of system. He will learn at last to take all the questions that perplex him into this silent hour. There he may not solve them but he will become familiar with them. Then he will not need to go hurrying and battling through the day and feel that his purpose has been defeated.
"If man would come to know the greater stranger-himself-let him enter his own closet and shut the door. There he will find his most dangerous enemy and there will he learn to master him. He will find his true self. There will he find his truest friend, his wisest teacher, his safest adviser-himself. There will he find the altar upon which God is the undying fire, the source of all goodness, all strength, all power-himself. He will know that God is in the deepest part of the silence. He will find that within himself abides the Holy of Holies. He will feel and know that his every desire is in God's mind and is, therefore, God's desire. He will feel and know the closeness of the relationship of God and man, the Father and the Son. He will realize that only in consciousness has there been any separation of these which have seemed two-just as his spirit and his body have seemed to be two-but which in reality are one.
"God fills both heaven and earth. It was this great revelation that came to Jacob in the silence. He had slept on the stone of materiality. In a great burst of divine illumination he saw the outer is but the out-pressing or expression of the image held within. So impressed was he by this that he called out, `Surely the Lord (or law) is in this place (the earth or body) and I knew it not. This is none other but the house of God and this is the gate to heaven.' Man will realize, as Jacob did, that the real gate to heaven is through his own consciousness.
"It is this `ladder' of consciousness, revealed in a vision to Jacob, which each of us must climb before we can enter that silent secret place of the Most High and find that we are in the very center of every created thing, one with all things visible and invisible, in and of the Omnipresence. In Jacob's vision he was shown the ladder reaching from earth to heaven. He saw the angels of God descending and ascending upon it-God's ideas descending from Spirit to form and ascending again. It was the same revelation that came to Jesus when the `heavens were opened unto him' and he saw the wonderful law of expression whereby ideas conceived in the divine Mind come forth into expression and manifest as form. So perfectly was this law of expression revealed to the Master that at once he saw all form may be transformed, or changed in form, through a change of consciousness in regard to it. His first temptation was to change the form of stones to that of bread to satisfy personal hunger, but with the revelation of this law of expression came the true understanding that stones as well as all other visible forms have come forth from the Universal Mind Substance, God, and are in themselves true expressions of divine Mind; and all things desired, (not formed) are still in this Universal Mind Substance ready to be created or brought forth to fill every desire. Thus, the need for bread but showed that the substance with which to create bread or any other needed thing is at hand without limitation and bread can be created from this substance just as well as stones can be created therefrom. Every good desire man has is God's desire; therefore, there is an unlimited supply in the Universal God Substance all about us to fill every desire. All we need do is to learn to use what God has already created for us and this He wills to have us do that we may be free from every limitation and thus be `abundantly free.'
"When Jesus said, `I am the door,' He meant that the I AM in each soul is the door through which the life, power, and substance of the great I AM, which is God, comes forth into expression through the individual. This I AM has but one mode of expression and that is through idea, thought, word, and act. This I AM God Being, which is power, substance, intelligence, is given form by consciousness; and for this reason the Master said, `According to your faith be it unto you,' and `All things are possible to them that believe.'
"Now we see that God is within the soul as power, substance, and intelligence-or in spiritual terms, wisdom, love and truth-and is brought out into form or expression through consciousness. The consciousness which is in the infinite mind of God and in man is determined by the concept or belief that is held in mind. It is the belief in separation from Spirit that has caused our forms to age and die. When we see that Spirit is all and that form is constantly being expressed from Spirit, then shall we understand that that which is born of or brought out of Spirit is Spirit.
"The next great truth to be revealed through this consciousness is that each individual, being a concept of the divine Mind, is held in that Mind as a perfect idea. Not one of us has to conceive himself. We have been perfectly conceived and are always held in the perfect mind of God as perfect beings. By having this realization brought to our consciousness, we can contact the divine Mind and so reconceive what God has already conceived for us. This is what Jesus called being `born again.' It is the great gift the silence has to offer us; for by contacting the God-mind we can think with God-mind and know ourselves as we are in reality rather than as we have thought ourselves to be. We contact God-mind through true thought and so bring forth a true expression; whereas, in the past, perhaps through untrue thought, we have brought forth an untrue expression. But, whether the form be perfect or imperfect, the Being of the form is perfect God-power, substance, and intelligence. It is not the Being of the form that we wish to change but the form that Being has assumed. This is to be done through the renewing of the mind, or through the change from the imperfect to the perfect concept, from the thought of man to the thought of God. How important then to find God, to contact Him, to be One with Him and to bring Him forth into expression. How equally important is the silence or the stilling of the personal mind, that the God-mind in all its splendor may illumine the consciousness. When it does, then we shall understand how `the sun of righteousness (right-use-ness) shall rise with healing in his wings.' The mind of God floods consciousness as sunshine floods a darkened room. The infusion of the Universal Mind into the personal mind is like the entrance of the vastness of the outside air into the impurity of that which has long been held in some close compartment. It stands alone, supreme, and we realize that we are to build but one temple. The Temple of the Living God is the blending of the greater with the lesser through which the lesser becomes one with the greater. The impurity was caused by the separation of the lesser from the greater. The purity is caused by their union, so that no longer is there a greater and a lesser but just the one good, whole, pure air. Even so must we know that God is One and all things visible and invisible are One with Him. It is separation from Him that has caused sin, sickness, poverty, and death. It is union with Him that causes one to become a whole Being or to become conscious of being whole.
"The separation from unity is the descent of the angels on the ladder of consciousness. The return to unity is the ascent of the angels upon the ladder. The descent is good, for unity then becomes expressed in diversity, but in diversity there need be no concept of separation. That which is diversity has been misconceived from the personal, or external viewpoint, to be separation. The great work for each soul is to lift the personal viewpoint to such heights in consciousness that it becomes one with the whole. When all can `meet with one accord in one place,' that place in consciousness where it is understood that all things visible and invisible have their origin in the one God, then we stand upon the Mount of Transfiguration. At first we see Jesus and with Him Moses and Elias; or Law and Prophecy, and the Christ, (the power within man to know God); and we think to build three temples, but the deeper meaning comes. We are given to realize the immortality of man and to know that divinity is never lost, that Divine man is deathless, eternal. Then Moses-the Law, and Elias-the Prophecy, disappear; and the Christ stands alone supreme and we realize that we have to build but one temple-the Temple of the Living God within our very selves. Then the Holy Spirit fills the consciousness and the sense delusions of sin, sickness, poverty, and death become no more. This is the great purpose of the silence.
"This temple from which you may chip a piece and the scar will be instantly healed but typifies the temple of our body, of which Jesus spoke, the temple not made by hands, eternal in the heavens, which we are to bring forth here on earth."
 

 

Chapter VII
Thursday morning the sun rose clear and beautiful but, instead of pushing on as we had expected, we were told that we would wait where we were until the trails had dried and the rivers had receded so we could proceed more comfortably. We were all fearful lest our provisions should be exhausted and one of our party voiced this fear. Emil, who had charge of the whole outfit, came to us and said, "You need not fear. Does not God take care of all His creatures, both great and small, and are we not His creatures? You will see that here I have a few kernels of corn or corn seed. I will plant them. By this act I have definitely said that I want corn. I have formed corn in my mind. I have fulfilled the law and in due season it will come forth. Is it necessary for us to await the long, arduous process that Nature in her slow growth and unfoldment will take in order to grow corn? If so, we would be obliged to wait a long, hard time to obtain it. Why not use a higher or more perfect law, given us by the Father, to produce it? All that is required is to become quiet and visualize or idealize corn and we have corn cured, ready for use. If you doubt it, you can gather it, grind it into meal, then make it into bread." There before us was corn grown and cured so that we did gather it, and grind it, and afterwards made it into bread.
Then Emil went on to say, "This you have seen and believe but why not use a more perfect law and bring forth a more perfect thing or exactly what you want-bread. You will see by using this more perfect, or as you would say, more subtle law, I am able to bring forth exactly what I need-bread." And as we stood there spellbound a large loaf of bread was in his hands, nor did the supply stop until there were forty loaves upon the table before us, placed there apparently by Emil himself. He remarked, "You see there is sufficient for all; if not sufficient, more can be supplied until there is enough and to spare." We all ate the bread and pronounced it good.
Emil continued, "When Jesus at Galilee asked Philip, `Whence shall we buy bread?' He did this to try him, for within Himself He knew full well there was no necessity to buy the bread needed to feed the assembled multitude nor to secure it through the material market then in existence. He saw the opportunity to prove to His disciples the power of bread leavened or increased by the Spirit. How often man in the mortal concept thinks as did Philip! He was calculating, as human consciousness is calculating today, from the visible supply on hand-thinking he had only so much bread or so much supply or so much money with which to buy. Jesus recognized that the one in Christ Consciousness knows no limitation. He then, in Christ Consciousness, looked to God as the source and creator of all and gave thanks for the power and substance right at hand to fill every want. He then broke and distributed, through His disciples, to those in outer need until the need was supplied and there remained twelve baskets over. Jesus never depended on the over-supply of another to fill His need nor the need of another; but He taught that our supply is right at hand in Universal Substance where all supply exists and all we need do is to create it or bring it forth. Just so when Elisha multiplied the widow's oil. He did not apply to someone having an over-abundance of oil, for had he done this the supply would have been limited. He contacted the Universal and the only limit to the supply was that all the vessels were filled. The supply could have flowed on until this day had there been vessels to receive it.
"This is not hypnotism. None of you feel that you are in any way under a hypnotic spell. Let me say that the only hypnotism is the selfhypnotism of believing that each and every one can not do the perfect works of God, and create the desired condition or thing. For is not the need itself the desire to create? Instead of unfolding and creating as God wills us to create, you fold up in your little shells and say, `I can't,' and you hypnotize yourselves into actually believing that you are separate entities apart from God. You simply fall short of your perfect creation or expression. You do not let God express perfectly through you as it is His desire to do. Did not Jesus the Great Master say, `The works that I do, ye shall do also, and greater works than these shall ye do'? Was it not Jesus' true mission here on earth to show that we, as sons of God, or man in his true estate, can create as perfectly and as harmoniously as God does? When Jesus commanded the blind man to bathe his eyes in the pool of Siloam, was not this intended to open the eyes of all? All were to see that Jesus was sent by the Father to show us that the Father intended us to create exactly as He creates; all are to do the perfect work as Jesus did by recognizing the Christ in himself and in all.
"I can go one step further. This loaf I just received and held in my hand is consumed as though burned by fire. What happened? I misused the perfect law that brought forth my conception and consumed that which I brought forth, because of my misuse or not using rightly or righteously, the perfect law which is as exact as music or mathematics or any other so-called natural law. If I persisted in the misuse of the perfect law, it would consume not only that which I create but would consume me, the creator.
"Is the bread really destroyed? We will admit the form is changed for, in place of the loaf, we have a small amount of dust or ashes. Has it not in reality been returned to the Universal Substance from which it sprang? Is it not now in unmanifest form, waiting to be brought again into manifestation? Is this not the way with all forms that go from our sight either by fire or decay or in any other way? Do they not return to the Universal Substance-God-from which they sprang? Is this not the meaning of `What descends from heaven must ascend into heaven'?
"A short time ago you saw ice formed, without any apparent cause, as you perhaps think of it. Let me say that that is the same as creating the bread. I can use the law to obtain ice as well as bread, just as long as I use either as a benefit to mankind, or as long as I am working in living accord with the law, or expressing as God wishes all to express. It is good for all to make bread, or ice, or any and all things desired; and all must press on to the stage at which they can do these things. Can you not see that by using the highest law, the absolute law of God, you may bring forth that which you need or conceive in mind as your highest idea and thus please God more fully by manifesting more fully, knowing as Jesus did that we are perfect Sons of God?
"Does not this suggest freedom from commercial bondage as well as all other bondage? As I see it, the commercial bondage will, in a few years, become the greatest bondage of all. If it goes on at the rate it is now progressing, it will dominate man, soul and body, and it cannot do otherwise than consume itself and those that are interested in it. There is no question but that the first inception of commercialism was on a high spiritual plane, but materialism was allowed to creep in until the very power used to create is the power that will consume; just as the very power used to create will always consume if not used rightly. Is not the pressing of commercialism and limitations upon us crowding us on to see that we must come up over, or overcome, these conditions? Is not this done by simply realizing that we are to do the perfect works of God, to raise our consciousness to the Christ Consciousness? Is not this what Jesus taught us here on earth? Does not His whole life exemplify this?
"My dear brothers, do you not see that in the beginning there was the Word and the Word was with God? At this time, everything to be formed later was in unmanifest form in the Universal Mind Substance-or as expressed by some, in chaos. This word in the original was actuality. This word, chaos, is misinterpreted to mean a turbulent or warring state, instead of the deep, spiritual state of actuality, always awaiting a definite, creative, spoken word through which it can spring forth into manifest form.
"When God Principle desired to bring forth the world out of Universal Mind Substance, God was quiet and contemplative. In other words, God saw an ideal world; He held in mind that substance of which the world was to be formed a sufficient time to lower its vibration; then He spoke the Word and the world was formed-or, as we might say, God visualized a mental pattern or mold into which could flow the substance needed to make the world and it came forth a perfect form, built upon the pattern which was held in consciousness.
"All these things might have been thought of by God, Infinite Power. He might have wished during an indefinite time that they were formed and made visible. Had not the definite spoken word been put forth into the formless ether, nothing would have been created or brought forth into visible form. In order to establish in visible results the thought and desires of even an Infinite Omnipotent Creator and bring orderly forms out of actuality, it took the definite, positive `Let there be.' So must we take the definite step.
"God is holding the ideal perfect world in mind in every detail and it is bound to come forth as a heaven or perfect home where all His children, all His creatures, and all His creations may dwell in peace and harmony. This is the perfect world that God saw in the beginning and the one He is thinking into existence right now, and the time of its manifestation lies in our acceptance of it. When we can come to the one place and know that we are all one, one man, and know that we are all members of God's body as much as one member of our body is a part of the whole body, then we are in, and of, God's kingdom, heaven here on earth, now.
"To make this manifest, realize that there is nothing material in heaven. All is spiritual. Realize that heaven is a perfect state of consciousness, a perfect world here on earth now, and all we need to do is to accept it. It is here all about us, waiting for us to open the inner eye. Through that eye our bodies shall be made light, the light which is neither of the sun nor moon but of the Father; and the Father is right here in the very innermost part of our being. We must sufficiently realize that there is nothing material, that all is spiritual. Then we must think of that wonderful God-given spiritual world which is right here now if we can realize it.
"Do you not see that God created all in this way? Did not God first become quiet and contemplative and see the light? Then He said, `Let there be light,' and it was so. In the same way He said, `Let there be a firmament,' and it was so; and likewise with other creations, He held each form or ideal steadfast in consciousness, then spoke the word, and the ideal was brought forth. Just so with man. God said, `Let us make man in Our image, after Our likeness and give him dominion over all.' God, all good, created all things good; man the greatest and last, with full dominion over all. Then man saw only good, and all was good until man separated himself from God and saw duality, or two. Then he, by his thought, created two, one good and the other the opposite; for if there were two, they would be opposite-good and evil. Thus evil came through man's perfect power to express or bring forth that which he gazed upon. If man had not seen evil, evil would have been given no power of expression. Only the good would have been expressed and we would be as perfect as God sees us today. Would not heaven always have been on earth as God sees it and as we must all see it to make it manifest? Jesus had a perfect right to say that He came from heaven; for did not all come from heaven, the great Universal Mind Substance?
"Since man was created in the image and likeness of God, did not God give man the power to create exactly as He creates? And does not God expect man to use that power as freely as He uses it-and in exactly the same way? By first perceiving the need; then conceiving the good, the ideal, with which to fill the mold that we hold in consciousness and which is to be filled from the Universal Mind Substance; then sending forth the word that it is filled; that it is so, and it is good.
"Jesus, when He was crucified, gave His flesh, the outer, what we see of the body, to prove that there is really a deeper or spiritual body; and it is this spiritual body that He manifested when He came forth from the tomb. This is the body of which He spoke when He said, `Destroy this temple and in three days I will raise it up.' He did this to show us we have the same spiritual body and that we can do all the works He did. There is no question that if Jesus had wished to do so, He could have saved Himself. There is no doubt but that He saw there was a great change taking place in His body. He also saw that those about Him were not able to see that they also could bring forth the spiritual body, as He was attempting to have them see. They still looked to the personal and He saw that if He brought forth the spiritual body without some decided change, the people would not be able to discern between the material and the spiritual; so He adopted the way of the crucifixion to bring about the change.
"Truly is not this the Christ in man, which the Great Master, Jesus, whom we all love and reverence, came to show? Did He not unfold His life here on earth to show us the perfect way to God? Can we do other than love this perfect ideal way when we once see it, whether it be planting seed, making bread, or doing the million and one things necessary to human existence? Are not these acts mere lessons carrying us on to our unfoldment? Some day we are to realize that we are truly Sons of God, not servants; that as Sons we can and do have all that the Father has and that we can use it just as freely as our Father does.
"I admit this takes a mighty faith at first; one that usually must be taken step by step and must be practiced faithfully like music or mathematics, until we come to the place of knowing. Then we are grandly, beautifully free. Could there be a better, truer example of this life than that of Jesus? Can you not recognize the power that is in His name, Jesus, the Christ made manifest, or God manifesting through the flesh man? Jesus came to the place where He relied wholly upon His deep knowledge or understanding of God and this is how He did His mighty works. He did not rely upon His own will power or upon strong, concentrated thoughts. Neither must we rely upon our own will power nor strong, concentrated thoughts, but upon the will of God. `'Tis not my will, but Thine, O God, be done.' Will to do the will of God. Do you not think that Jesus willed in all things to do the will of God or to do what God willed Him to do?
"You will note that very often Jesus is referred to as going into a high mountain. Whether He physically ascended a high mountain or not, I do not know. This I do know, that we must all ascend to the heights, the very highest in consciousness to receive our illumination. This height means the very top of the head and there, if the faculty is not developed, we must develop it by spiritual thoughts. Then from the heart, the love center, we must let love flow forth to balance all and when this is done the Christ is revealed. The son of man perceives that he is the Son of God, the only begotten Son, in whom the Father is well pleased. Then with constant love, we must realize this for all.
"Just stop and think deeply for a moment and realize the countless number of the grains of sand of the seashore; the countless number of drops of water that go to make up the waters of the earth; the countless number of life forms in the waters of the earth. Then realize the countless number of rock particles that are contained in the whole earth; the countless number of trees, plants, flowers, and shrubs upon the earth; the countless number of forms of animal life upon the earth. Realize that all are the outpicturing of the ideal held in the great universal mind of God; that they all contain the one life, the life of God. Then think of the countless number of souls born upon this earth. Then realize that each soul is a perfect outpictured ideal image of God as God sees Himself; that each soul is given the same power, expression, and dominion over all that God Himself has. Do you not think that God wills or wishes man to unfold these God-like or God-given qualities and to do the works that God does through the inheritance given man by the Father, the one great, Universal Mind in all, through all, and above all? Then realize that each person is an expression or pressing out (from the unseen, the Spirit) into visible form, a form through which God loves to express. When we can realize and accept this, we can truly say as Jesus did, `Behold a Christ is here.' It is in this way that He attained His mastery over the worldly or flesh self. He recognized, claimed, and accepted His divinity, then lived the life just as we must do."
 

Chapter VIII
After a delay of eight days, we broke camp on Monday morning and proceeded on our way. The afternoon of the third day out, we came to the bank of a larger river. The stream was about two thousand feet wide, running bank-full, and the current was at least ten miles per hour. We were told that this stream, in ordinary times, could be crossed at this place without any inconvenience.
We decided to camp until morning and observe the rise and fall of the water. We were informed that we would be able to cross by bridge farther up stream, but to reach this bridge would necessitate a detour of at least four days' hard travel. We felt that if the water was receding, it would be better to wait a few days rather than undertake the long detour. It had been demonstrated to us that we need not take any thought as to our provisions for, from the day already referred to, when our provisions were exhausted the whole company, consisting of over three hundred persons, had been supplied with an abundance of provisions from the invisible, as we called it. This supply was maintained for sixty-four days, until we returned to the village from which we started. Thus far, none of us had any idea of the true significance or meaning of the things we were experiencing. Neither were we able to see that these things were performed by definite law, a law that all can use.
When we were assembled for breakfast next morning, we found five strangers in camp. They were introduced and it was mentioned that they were from a party that was camped on the other side of the stream and were returning from the village of our destination. We thought very little of this at the time, as we naturally supposed they had found a boat and had crossed in it. One of our party said, "If these people have a boat, why can we not use it to cross the stream?" I think all of us saw this as a way out of our difficulty; but we were told that there was no boat as the crossing was not thought to be of sufficient importance to maintain one.
After finishing breakfast that morning we were all assembled on the banks of the stream. We noticed that Emil, Jast, and Neprow with four others of our party were talking with the five strangers. Jast came to us and said they would like to cross with the others to the camp on the other side of the stream as they had decided to wait until the next morning to see if the water showed signs of receding. Of course, our curiosity was aroused and we thought it rather fool-hardy to attempt to swim a stream as swift as the one before us just to make a friendly call upon a neighbor. We felt that swimming was the only way the crossing could be accomplished.
When Jast rejoined the group, the twelve, fully dressed, walked to the bank of the stream, and with the utmost composure stepped on the water, not into it. I never shall forget my feelings as I saw each of those twelve men step from solid ground upon the running water. I held my breath, expecting, of course, to see them plunge beneath and disappear. I found afterwards that that was the thought of all our party. At the time, I think each of us held his breath until they were all past midstream, so astonished were we to see those twelve men walking calmly across the surface of the stream without the least inconvenience and not sinking below the soles of their sandals. When they stepped from the water to the farther bank I felt that tons of weight had been lifted off my shoulders and I believe this was the feeling of every one of our party, judging from the sighs of relief as the last man stepped ashore. It certainly was an experience that words fail to describe. The seven belonging to our party returned for lunch. While the excitement was not so intense at the second crossing, every one of us breathed more freely when the seven were safe ashore again. Not one of our party had left the bank of the stream that forenoon. There was very little discussion regarding what we had witnessed, so engrossed were we with our own thoughts.
The second day the company was toiling up the steep side of a mountain with the hot sun pouring down upon us when our Chief, who had said but little during the last two days, suddenly remarked, "Boys, why is it that man is obliged to crawl and grovel over this earth?" We answered in chorus that he had voiced our thoughts exactly.
He went on to say, "How is it, if a few are able to do the things we have seen accomplished, that all men cannot accomplish the same things? How is it that man is content to crawl, and not only content to crawl but is obliged to do so? If man was given dominion over all things, he was certainly given power to fly above the birds. If this is his dominion why has he not asserted this dominion long ago? The fault must certainly be in man's own mind. This must all have come about by man's own mortal concept of himself. He has only been able, in his own mind, to see himself crawling; thus he has only been able to crawl."
Then Jast took up the thought and said, "You are perfectly right, it is all in man's consciousness. He is limited or unlimited, bound or free, just as he thinks. Do you think that the men you saw walk across the stream yesterday to save themselves the inconvenience of this trip are in any way special creations any more than you are? No. They are not created in any way different from you. They do not have one atom more power than you were created with. They have, by the right use of their thought forces, developed their God-given power. The things you have seen are accomplished in accord with definite law and every human being can use the law if he will."
 

 

Chapter IX


Located in this village was The Healing Temple. It is claimed that only words of Life, Love, and Peace have been given expression in this temple since its erection, and the vibrations are so potent that nearly all who pass through the temple are instantly healed. It is also claimed the words of Life, Love, and Peace have been used and sent out so long from this temple and the vibrations emanating from them are so strong that, should words of inharmony and imperfection be used at any time, they would have no power. We were told that this is an illustration of what takes place in man. If he would practice sending forth words of Life, Love, Harmony, Peace, and Perfection he would in a short time not be able to utter an inharmonious word. We attempted to use inharmonious words and found in each instance that we could not even utter them.


This temple was the destination of those of the company who were seeking healing. It is the custom for the Masters who are in the vicinity to congregate at this village at certain intervals for a season of devotion and instruction to those who wish to avail themselves of the opportunity. The temple is dedicated entirely to healing and is open to the people at all times. As it is not always possible for the people to reach the Masters, the Masters encourage the people to go to the temple for healing. This is the reason they do not heal those that congregate for the pilgrimages. They accompany the pilgrims to show the people that they are no different than themselves, that all have the same God-given power within. I suspect that when they crossed the river that morning they did it to show that they could rise above any emergency and that we should also rise above any emergency.


In places not accessible to this temple all who come to the Masters for help are greatly benefited. Of course, there are the curious and those who do not believe that do not seem to receive any help. We witnessed a number of assemblages of from two hundred to two thousand people and all those desiring healing were healed. A great many told us they were healed by declaring silently that they desired to be made whole. We had the opportunity to observe a large number of those healed at different times and we found that about ninety per cent of these healings were permanent, while all the healings in the temple seemed to be permanent. It was explained that the temple is a concrete thing located in one place, representing the God center, the Christ in the individual-just as all churches should typify this God, or Christ center, in the individual-and that it is always accessible to those desiring to go there. They could go to the temple as often as they chose and stay as long as they wished. The ideal is thus formed in the minds of those who come to it and the ideal becomes fixed in mind.


Emil said, "Right here comes the suggestion that has led to the idolatry of the past. Men sought to grave in wood or stone, gold, silver or brass the image of that which they idealized but any idol can only imperfectly picture the ideal. The image, the idol, is no sooner formed than men become conscious that the ideal surpasses the idol and they are shown that they must gaze upon love and idealize for themselves that which they wish to bring forth from the within, instead of graving any idol in outer form of the ideal they would express. A later form of idolatry is to idealize the personality of the one who expresses our ideal. We should idealize the ideal which he expresses and not the personality which expresses it. This is true even of so great a person as Jesus. Thus, Jesus chose to go away when He saw the people were idealizing His personality instead of the ideal which He represented. They sought to make Him their King, only realizing that He could supply them with every outer need, not recognizing that they within themselves had the power to supply their every need and that this they must do, as He, Himself, had done. He said, `It is expedient that I go away for if I do not go, the Comforter will not come,' meaning that as long as they looked to His personality they would not recognize their own powers. For they must look within, within their very selves.
"Another may teach or tell you, but you of yourselves must do the work, for if you look to another, you build the idol instead of bringing forth the ideal."
 

 


Chương 4

Trên Đường Thiên Lư

Cuộc gặp gỡ Brahmananda và Sudeih Babu đă thay đổi tất cả. Cho đến lúc đó, phái đoàn mới công nhận rằng đằng sau khu rừng mê tín dị đoan, c̣n có những chân lư cao siêu đáng học hỏi và nghiên cứu. Sự hiện diện của một vị Chân sư bí mật gửi thông điệp bằng tư tưởng cho Brahmananda và Sudeih Babu, làm phái đoàn phấn khởi, tin tưởng rằng cuộc khảo cứu sẽ c̣n vượt xa hơn điều họ dự tính.

Cuộc tiếp xúc với Sudeih Babu đă khiến mọi người bắt đầu cởi bỏ các thành kiến dị biệt, các quan niệm bảo thủ và ḷng tự hào của người Âu, để bắt đầu quan sát, học hỏi thêm về nền minh triết bí truyền của Á châu.

Phái đoàn bắt đầu cuộc hành tŕnh nhắm hướng Rishkesh trực chỉ. Lúc đầu, đường xá c̣n tốt nên sự di chuyển c̣n nhanh chóng, nhưng về sau có những đoạn đường bị ngắt quăng, phái đoàn phải dùng lừa, ngựa hoặc đôi khi phải đi bộ qua các eo núi . Sự kiện một nhóm người Âu, di chuyển trên những con đường độc đáo, hẻo lánh là một điều chưa hề xảy ra. Các sĩ quan quân lực Hoàng Gia đă hết sức ngăn cản v́ lư do an ninh. Mặc dù Ấn độ là thuộc địa của Anh, nhưng nhiều địa phương vẫn không hợp tác với chính quyền. Việc di chuyển đ̣i hỏi sự hộ tống của lực lượng quân đội vơ trang đầy đủ. Có nhiều vùng, ngay cả dân địa phương cũng ít dám qua lại, v́ có những đảng cướp hoạt động mạnh mẽ. Để đề pḥng, phái đoàn đă vơ trang cẩn thận, nhưng trong suốt thời gian di chuyển, không hề có một sự kiện đáng tiếc nào xảy ra. Toàn thể mọi người có cảm tưởng như được che chở bởi một quyền năng mạnh mẽ vô h́nh.

Trên đường, phái đoàn đi qua một đền thờ của đạo Jain. Căn bản của tôn giáo này xây dựng trên chủ trương mở rộng ḷng từ bi (Ahimsa). Tín đồ đạo Jain thực hành lư tưởng Ahimsa triệt để, đôi khi có vẻ quá khích. Đạo Jain được thành lập hơn 2000 năm, do đức Mahavira, một vị hoàng tử đă từ bỏ cung vàng, điện ngọc vào rừng tu hành và đắc đạo. Ngay khi bước chân vào đền, người ta đă thấy ngay pho tượng đức Mahavira ngồi thiền, trên trán có gắn một viên kim cương lớn. Trước khi vào đây, du khách phải cởi thắt lưng, giày dép, những vật ǵ làm bằng da thú, sừng, ngà voi, v…v… Tất cả các vật do sự giết chóc mà ra. Sở dĩ phải làm thế, v́ giáo lư Ahimsa dạy các tín đồ phái này không được sát sinh, ăn thịt cá, mà ngay trong nhà cũng không được chứa một thứ ǵ của sự giết chóc. Các giáo sĩ đạo Jain mặc toàn đồ trắng, trên mặt bịt một miếng vải thưa chỉ chừa đôi mắt. Họ làm thế để tránh loài ruồi, muỗi khỏi bay lọt vào mũi, miệng. V́ ḷng từ bi (Ahimsa) bao trùm tất cả, lỡ có sâu bọ nào vô phúc bay lọt vào rồi nằm ĺ trong đó th́ phạm tội sát sinh. Không những thế, các giáo sĩ đạo Jain mỗi năm phải nhập thất một lần trong suốt ba tháng hè, v́ thời gian đó côn trùng sinh sản nhiều, nếu di chuyển sợ dẫm lên chúng.

Đối với người Âu, việc thực hành Ahimsa có vẻ quá khích, và vô lư, nhưng phần đông phái này thực hành giới luật rất nghiêm chỉnh. Họ tin rằng nếu các giới luật mà không giữ được th́ không hy vọng ǵ đi xa hơn trên đường tu học.

Một số giáo sĩ Jain c̣n “quá khích” hơn nữa. Sau một thời gian tu ở trong đền, họ phát nguyện vào rừng tu và sống loă thể. Họ chỉ uống nước suối, ăn trái cây, và dành trọn thời giờ thiền định. Họ quan niệm rằng khi c̣n ăn cơm gạo, mặc y phục là c̣n mang nợ xă hội. C̣n hưởng những vật dâng cúng của tín đồ là c̣n mang nợ loài người. Khi tu là phải ly khai với đời, từ bỏ tất cả, không bận tâm đến bất cứ chuyện ǵ của thế gian, như của cải, vật chất, và ngay cả mảnh vải che thân. Đạo Jain cho rằng xuất gia phải tuyệt tất cả ư niệm sở hữu, v́ sở hữu bất cứ ǵ đều là ràng buộc, níu kéo đưa đến sự quyến luyến, gây chướng ngại cho việc tu hành giải thoát. Ngay cả các đền thờ đẹp đẽ cũng phải từ bỏ để vào rừng lấy đất làm giường, lấy trời làm nhà, và thú rừng làm bạn. Họ dành tất cả thời giờ để thiền định về ư niệm mở rộng ḷng thương đến muôn loài. Nhiều tu sĩ ngồi thiền mà thú rừng kéo đến quấn quít chung quanh, không hề sợ hăi. Các học giả người Âu đă gọi tôn giáo này là phái “Loă thể”, v́ quan niệm từ bỏ triệt để này. Điều đáng tiếc là danh từ “Loă thể” thường bị đồng hoá với các sự kiện xấu xa, mọi rợ, thiếu văn minh. Khi người Anh đến cai trị xứ này, rất nhiều tu sĩ đạo Jain đă bị bắt giam v́ tội xâm phạm thuần phong mỹ tục, mặc dù họ chỉ sống trong rừng không tiếp xúc với xă hội. Khi gác bỏ các thành kiến dị biệt, phong tục và tập quán, phái đoàn thấy đạo Jain chủ trương rất thực tế. Giáo phái này tin tưởng rằng sức mạnh của t́nh thương có thể san bằng mọi khó khăn, trở ngại. Tuy nhiên, t́nh thương phải hết sức tuyệt đối. Mục đích của nó không giới hạn vào một hạng người nào riêng biệt, mà phải được ban rải đồng đều cho tất cả, không phân biệt giai cấp, chủng tộc hay tín ngưỡng. Đây là một cải cách hết sức lớn lao v́ phong tục Ấn độ vốn rất thiên vị, và chủ trương dị biệt giai cấp. Tín đồ đạo Jain tin rằng, con người dù mạnh hay yếu, sang hay hèn, trung lưu hay hay hạ lưu, b́nh dân hay vua chúa, đều thụ hưởng ḷng thương như nhau. Ḷng thương chẳng những phải bao la, mà c̣n nồng nàn như t́nh mẹ con, không quản ngại khó khăn, nguy hiểm. Ḷng thương phải chân thành, thâm thúy phát ra từ đáy ḷng, không thể giả dối , hay vị nể một hoàn cảnh nào. Sau khi ban răi t́nh thương khắp đồng loại, c̣n phải ban răi đến loài vật, từ con voi to lớn đến các côn trùng nhỏ nhen. Do đó, họ tránh sát sinh đă đành mà c̣n không sử dụng bất cứ vật dụng ǵ do sự giết chóc mang lại. Đạo Jain cho rằng chiến thắng kẻ thù bằng sức mạnh là một thú tánh cần loại trừ, nhưng chinh phục bằng t́nh thương là đường lối duy nhất để giải quyết mọi việc.

Đạo Jain có khá đông tín đồ, phát triển mạnh tại miền bắc Ấn độ, nhưng không đi đến các nơi khác, v́ gặp phải sức chống đối của Ấn độ giáo và Hồi giáo. Lịch sử Ấn độ ghi nhận Hồi giáo đă tiêu diệt Phật giáo và đạo Jain một cách hết sức dă man. Hơn nữa, quy luật khắc khe của tôn giáo này không mấy ai theo nổi, và các tu sĩ bịt mặt, loă thể dễ bị người đời ngộ nhận. Có lẽ thế, nên tôn giáo này chỉ bành trướng trong các vùng hẻo lánh miền sơn cước.

Ashmah là một làng nhỏ, nằm sát chân núi. Phái đoàn dừng chân ở đây một thời gian cho lừa, ngựa nghỉ ngơi. Một lư do nữa là gần đó có một di tích lịch sử quan trọng : Ngôi đền yên lặng.

Đó là một ngôi đền kiến trúc bằng đá trắng, xây cất hơn 4000 năm naỵ Trong đền không có h́nh tượng ǵ, mà chỉ là một căn pḥng to lớn, trang nghiêm. Bước vào ngôi đền yên tĩnh, tất cả mọi người đều thấy trong ḷng bỗng lắng xuống một cảm giác b́nh an khôn tả. Tục truyền, hoàng đế Rapoor mang quân đi chinh phục các nước láng giềng, đă gặp một vị đạo sĩ nơi đây. Đạo sĩ khuyên vua nên bỏ ư định chinh phục bằng sức mạnh, mà chỉ nên lấy nhân nghĩa mà đối xử với người. Nhà vua nghe theo, ra lệnh băi binh, khuyến khích dân chúng sống theo đạo hạnh. Từ đó vương quốc Rapoor được hưởng một nền thái b́nh, thịnh trị.

Thời gian trôi qua, đến nay chẳng c̣n mấy ai biết đến thời đại của hoàng đế này, nhưng ngôi đền xây cất để kỷ niệm sự tỉnh ngộ của nhà vua vẫn c̣n tồn tại. Khi bước chân vào đ6y, không ai được nói một lời nào, mà phải tuyệt đối giữ yên lặng. Lư do ngôi đền không có h́nh tượng ǵ là để nói lên cái chân lư tuyệt đối vốn vô h́nh, vô tướng. Vị đạo sĩ giữ đền đă giải thích cho phái đoàn.

- Đền yên lặng là nơi chỗ của quyền năng , v́ yên lặng đồng nghĩa với quyền năng. Khi con người đạt đến chỗ im lặng trong tư tưởng th́ họ đă đến chỗ mà tất cả đều là sự hợp nhất với quyền năng thiêng liêng. Con người có sức mạnh tư tưởng nhưng v́ vô ư thức, họ đă để cho nó hao tán. Qưyền năng hao tán là Động, c̣n tập trung là Tĩnh. Khi tập trung mọi sức mạnh tư tưởng vào một trung tâm sinh lực duy nhất, con người tiếp xúc với thượng đế. Khi hợp nhất với đấng thiêng liêng, ta hợp nhất với mọi quyền năng và đó là di sản tâm linh tối hậu. Phương pháp duy nhất để hoà hợp với đấng thiêng liêng, là tiếp xúc với ngài một cách ư thức, từ bỏ ngoại cảnh, để quay về với nội tâm, v́ đấng thiêng liêng ẩn tàng trong tâm con người. Khi con người từ bỏ ảo giác của kiêu mạn, bản ngă, nhận thức sự vô minh, hèn kém của ḿnh và sẵn sàng học hỏi, sửa đổi, đó là tu thân. Người ta không thể dạy bảo điều ǵ cho những cá nhân kiêu căng, tự phụ, v́ chỉ có người khiêm tốn mới thấy được chân lư. Đấng thiêng liêng không nghe các lời cầu xin ồn ào, lập đi lập lại mà chỉ nghe những lời cầu nguyện chân thành của những kẻ đến với ngài bằng trái tim, sùng kính ngài bằng tâm hồn và sự im lặng. Kẻ nào tiếp xúc với ngài trong ầm thầm sẽ nhận biết quyền năng của ngài do sự thực hiện các điều mong muốn của họ.

- Nhưng nếu không cầu nguyện theo mọi sách vở, thánh kinh làm sao tín đồ có thể hiểu biết về tôn giáo mà họ đang theo đuổi ?

- Minh triết phát sanh từ sự yên lặng. Thượng đế không cần ta phải tuyên dương ngài một cách ồn ào hay bằng một ngôn ngữ ǵ. Khi một tín đồ thànht âm trong tĩnh lặng, y sẽ hoà hợp tư tưởng với ảnh hưởng thiêng liêng; và ảnh hưởng này chỉ có thể nhận biết được khi ḷng ta vắng lặng. Khi tâm hồn hoàn toàn an tĩnh, ta có thể tự phân tích ḿnh, trau dồi phẩm hạnh và đón nhận những mặc khải từ cơi trên. Chỉ trong sự vắng lặng, con người mới ư thức năng lực trong ḿnh, và chung quanh ḿnh. Chỉ trong yên lặng các quyền năng tiềm ẩn mới phát sinh và nẩy nở. Tâm có an th́ việc bên ngoài mới koh6ng vọng động, dục vọng mới chịu yên tĩnh. Con người có giải thoát các ồn ào, náo nhiệt bên ngoài, th́ mới đón nhận được các hoà âm tuyệt diệu đến từ cơi vô biên. Con người cần khám phá rằng hạnh phúc ở trong tâm ḿnh. Hiện nay phần lớn đều t́m kiếm hạnh phúc bên ngoài, nhưng ngoại cảnh chỉ đem lại các giải trí trong chốc lát, thay v́ hạnh phúc vô biên. Tất cả phương pháp t́m kiếm bên ngoài đều vô vọng. Con người phải biết quay về nội tâm v́ mọi h́nh tướng, nghi thức đều là sự áp chế.

- Nhưng làm sao t́m thấy điều ǵ khi ngồi yên lặng ?

- Con người sẽ dần dần ư thức được chính ḿnh. Dĩ nhiên, điều này đ̣i hỏi một thời gian. Họ sẽ t́m thấy ở ḿnh một thứ hạnh phúc không lệ thuộc ngoại vật, cũng không lệ thuộc tha nhân. Một tâm trạng giải thoát không ai có thể cướp được, đó là tâm trạng “tôn giáo”, kết tinh bởi sự nẩy nở, thăng hoa các ư thức sâu kín trong nội tâm. Con người sẽ tự ḿnh t́m thấy câu giải đáp khi họ ư thức thực chất của chính ḿnh, và ảnh hưởng cao cả của thượng đế. Chỉ khi đó, mọi sự t́m kiếm ở ngoại cảnh sẽ chấm dứt.

- Những điều ông nói rất hay, nhưng nếu không có sách vở chỉ dẫn, làm sao con người biết đâu mà t́m để đạt đến trạng thái đó ?

- Đa số người Âu chỉ quen hoạt động và ỷ lại vào một phương pháp, giáo lư hướng dẫn cuộc đời. Do đó, họ dễ bị hướng dẫn sai lạc, lầm lẫn. Phải tự ḿnh suy gẫm và t́m lấy con đựong cho chính ḿnh mới là phương pháp đứng đắn. Con đường giải thoát đ̣i hỏi can đảm và nổ lực cá nhân, v́ không đường nào giống đường nào. Lịch sử cho thấy có biết bao tôn giáo rao truyền chân lư cực kỳ tốt đẹp, nhưng có mấy tín đồ nghiên cứu tường tận ? Đa số đều ỷ lại vào các giáo sĩ chỉ dẫn. Chính các giáo sĩ c̣n chưa giải thoát chính ḿnh, th́ c̣n cứu độ cho ai nữa ? Đó là lư do hoàng đế Rapoor xây dựng ngôi đền yên lặng và trong đó không có một pho tượng, một h́nh ảnh hay ngôn ngữ nào, để tránh đi vào con đường của các tông phái Ấn giáo. Thượng đế ở khắp mọi nơi và tuyệt đối, ngôn ngữ, h́nh ảnh không thể diễn tả được. Chỉ trong sự im lặng hoàn toàn phá bỏ tất cả h́nh tướng, nghi thức, con người mới tự do sống b́nh an với nhau, hiểu sự liên quan giữa y và những người đồng loại. Con người thường suy tư về sự liên hệ giữa người với người, nhưng sự suy tư này ít nhiều đều thiên vị. Nó luôn luôn sai lạc nếu nó khảo sát sự vật xuyên qua bản ngă. Tư tưởng con người chỉ chân chính khi họ giải thoát khỏi các thành kiến, điều kiện bao bọc bên ngoài. Tự do tư tưởng không phải chỉ là muốn nghĩ thế nào th́ nghĩ, mà c̣n là giải thoát ta ra khỏi các áp lực bắt ta phải suy nghĩ theo một lề lối riêng. Đây là một chân lư chỉ t́m thấy trong sự yên lặng, trong sự cởi bỏ mọi nghi thức, h́nh tướng, ngôn từ, các thành kiến dị biệt, các cưỡng bách tư tưởng, các sợ hăi bắt nguồn từ vô minh . Chỉ khi nào hoàn toàn tự do, con người mới thực sự b́nh an và giải thoát.

Phái đoàn từ giă vị giáo sĩ coi đền. Cuộc viếng thăm tuy ngắn ngủi nhưng đă gây một ấn tượng tốt đẹp với mọi người. H́nh như có một luồng từ điện vô h́nh phảng phất quanh ngôi đền, khiến ai cũng thấy trong ḷng dào dạt một sự b́nh an khó tả. Lối tu trong yên lặng không c̣n là một vấn đề trừu tượng, vô ích như họ nghĩ. Qủa thật xứ Ấn c̣n rất nhiều điều để cho người Âu học hỏi và suy nghĩ.

 
 

Chương 5

Thành Phố Thiêng Liêng

Rishikesh! Một tên gọi linh thiêng, thành phố của các vị thánh. Từ lâu nay người ta đă coi thành phố này như một thánh địa mà tất cả những kẻ cầu đạo đều phải đến để đắm ḿnh trong bầu không khí thiêng liêng. Rishikesh nằm ở một vị trí đặc biệt và là cánh cửa vào rặng Hy Mă Lạp Sơn. Từ đó đi lên hướng bắc là rặng núi hùng vĩ, chứa đựng những điều huyền bí. Phía nam là con sông Hằng, ḍng sông thiêng của Ấn giáo. Một người Ấn bất kể giai cấp, trí thức, đều ít nhất một lần trầm ḿnh trong ḍng nước này để đón nhận những ân phược mà ḍng sông mang lại.

Đúng như lời người Ấn bí mật thành Benares đă nói, khắp nơi đâu đâu cũng có các đạo sĩ và tín đồ hành hương. Có những đạo sĩ ḿnh hạc, xương mai vừa đi vừa tụng niệm các câu thần chú. Có các đạo sĩ khổ hạnh, chống gậy trầm tư bên ḍng nước sông Hằng. Chen chúc bên các tín đồ huyên náo là các thuật sĩ , quần áo sặc sỡ biểu diễn những tṛ lạ lùng. Một đạo sĩ to lớn, lực lưỡng, quấn khố bằng da cọp, uốn ḿnh trong tư thế Yogạ Bên cạnh một thuật sĩ gầy g̣, nằm lăn trên đất, lâm râm cầu nguyện. Có các vị tăng sang sảng đọc kinh bên cạnh những giáo sĩ vừa đánh trống vừa nhẩy nhót, ca hát tên các vị thần. Có những tu sĩ thiền định trong những hang đá đục sâu vào núi, không màng thế sự, bên cạnh những đạo sĩ râu tóc xồm xoàm, quấn ḿnh trong những mảnh vải rách như một xác ướp. Có các tu sĩ nằm yên lặng, hơi thở thoi thóp như sắp chết, bên cạnh những thuật sĩ say sưa gọi tên thượng đế một cách ồn ào. Trong làn khói hương nghi ngút, các tín đồ hành hưoong chen vai thích cánh, trên mặt ai cũng một niềm thành kính rơ rệt. Phái đoàn cảm tưởng như đang lạc vào một thế giới lạ lùng, huyền ảo, với những nhân vật kỳ dị , khác thường.

Bác sĩ Kavir, giám đốc viện nghiên cứư Phạn ngữ (Sanskrit) của chính phủ là một học giả nổi tiếng, có một kiến thức rộng và đă sống ở Rishikesh nhiều năm . Theo ông ta th́ Rishikesh không c̣n là một thành phố của các bậc chân tu đạo hạnh như xưa, mà là một nơi quy tụ rất nhiều thành phần hỗn tạp. Đa số là các đạo sĩ, tu sĩ nghèo nàn từ h́nh thức đến tinh thần. Họ góp nhặt vài phép tu, vài phương pháp dưỡng sinh, vài câu thần chú, rồi kiếm ăn qua sự mê tín của dân chúng. Phần lớn những tu sĩ này đều là những kẻ thất bại ngoài đời, lười biếng, không chịu làm việc. Đối với một quốc gia chậm tiến như Ấn độ, th́ h́nh thức dễ nhất để có cơm ăn, áo mặc, và một mái nhà, là trở nên một tu sĩ, sống trên ḷng sùng tín của dân chúng. V́ không có một tiêu chuẩn kiểm soát nào, nên bất cứ ai cũng có thể trở thành tu sĩ; chỉ cần mặc áo tu sĩ, học thuộc vài câu kinh, vài h́nh thức lễ nghi, cúng tế là có thể tự xưng đạo sĩ, thánh nhân được rồi. Chính các tu sĩ, đạo sĩ giả mạo này là những kẻ làm hoen ố danh dự tôn giáo, lợi dụng đức tin để làm chuyện xằng bậy, ích kỷ cá nhân. Đă thế, họ c̣n tụ tập phe nhóm, phong chức tước, ca tụng lẫn nhau và đả kích những tu sĩ không cùng phe nhóm.

Được tin có phái đoàn ngoại quốc đến nghiên cứu nền minh triết cổ truyền, rất đông đạo sĩ, gíao sĩ t́m đến để tiết lộ những pháp môn huyền bí, dĩ nhiên, là với một giá biểu. Khi bị từ chối, lập tức họ sụt giá như người mua bán. Một đạo sĩ đ̣i bán một cuốn sách bí truyền với giá 50 đồng tiền vàng, sau nhiều lần sụt giá, y bằng ḷng để lại cuốn sách với giá một bữa ăn. Một nhóm tu sĩ danh xưng trọng vọng, chức tước đầy người đ̣i đến thảo luận triết lư với phái đoàn. Khi nghe họ giới thiệu về thành tích và đạo quả đạt được, phái đoàn cực kỳ ngẩn ngơ, v́ toàn các bậc thần thánh ǵ đâu, chứ không phải người. Ai cũng tu cả trăm năm, đủ các phép thuật thần thông biến hoá. Tuy nhiên, khi một viên cảnh sát ở đâu bước vào th́ các bậc “thần tiên” mặt mày lơ láo, kéo nhau bỏ chạy hết.

Quanh các chợ , có rất nhiều tu sĩ khổ hạnh phô trương thân thể tàn phế bị huỷ hoại như một công tŕnh vĩ đại. Phái đoàn không hiểu họ có thể đạt đến điều ǵ, ngoài ít xu lẻ mà khách bộ hành ném chọ Một số các đạo sĩ sử dụng tà thuật công khai. Với một giá biểu, họ sẵn sàng làm bùa chú, thư phù, nguyền rủa một kẻ thù của bạn, đem đến cho bạn một cô gái đẹp hoặc giúp bạn thành công trên thương trường. Đâu đâu cũng có đạo sĩ rao bán bùa ngăi hoặc xưng là đấng này, đấng nọ. Một tu sĩ đến gặp phái đoàn xưng là hậu thân của đấng Krishna và đă từng là Phật Thích Ca trong một tiền kiếp. Bác sĩ Kavir nổi giận ra lệnh tống giam ngay tu sĩ này. Khi cảnh sát đến c̣ng tay, tu sĩ thú nhận, y chỉ là một học sinh thi rớt tiểu học, không sao kiếm được việc làm. Y đă lười biếng c̣n thích làm thầy kẻ khác, nên làm ǵ một thời gian cũng gặp khó khăn. Sau cùng, y cạo đầu, mặc áo tu và tự xưng là Krishna giáng thế, một số dân quê tin những lời tuyên bố của ỵ Họ quyên góp, xây cho y một ngôi đền. Y sống trên phẩm vật dâng cúng của tín đồ, một cách ung dung chẳng tu hành ǵ hết. Đă thế, y c̣n đ̣i hỏi này nọ, chê ngôi đền quá nhỏ bé không xứng với chức tước của ỵ Quen thói hống hách, lừa bịp, khi nghe tin có phái đoàn ngoại quốc đến thăm viếng, y dở tṛ bịp bợm để mong kiếm được món tiền nhỏ.

Lịch sử Ấn độ cho thấy khi xưa Rishikesh là một thánh địa thiêng liêng, một nơi các tu sĩ thánh thiện đến để tu học. Sau này, khách hành hương quá đông, một số hành khất kéo nhau đến đây hành nghề. Thấy làm đạo sĩ coi bộ dễ kiếm ăn hơn nên nhiều hành khất đă “chuyển nghề” trở thành các đạo sư, gíao sĩ chuyên làm tiền các tín đồ ngây thơ, nhẹ dạ.

Dĩ nhiên, Rishikesh vẫn c̣n các tu sĩ học thức, dành trọn đời cho việc đi t́m chân lư. Họ vẫn tu hành quanh đó không để ư đến sự kiện các tu sĩ giả lợi dụng sự có mặt của họ để mưu cầu lợi lộc. Đó cũng là một nét đặc thù của nền văn hoá xứ này. Một người Âu Mỹ chắc chắn không thể chấp nhận sự kiện như thế, họ sẽ nhờ luật pháp can thiệp hoặc cảnh cáo những tu sĩ bất lương. Nhưng Ấn giáo không có một tổ chức chặt chẽ như Thiên chúa giáo. Các giáo sĩ quan niệm có nhiều đường tu khác nhau, ai tu nấy chịu và những kẻ mạo danh, lợi dụng sẽ phải chịu hậu quả ở một kiếp sau.

Giáo sư Kavir cho biết, theo thời gian, khi nền văn hoá suy đồi, cuộc sống trở nên khó khăn, các bậc tu sĩ thánh thiện mỗi ngày một hiếm, th́ các đạo sĩ, thuật sĩ giả mạo nổi lên mỗi ngày một nhiều. Hàng ngàn người dốt nát, vô học đi lang thang với các chức tước rất lớn như đạo sư, giáo sĩ, thánh nhân. Họ chỉ chờ những ngày hội, ngày lễ là xuất hiện quanh các đền, chùa lên mặt này nọ để quyên tiền. Dĩ nhiên họ là gánh nặng của xă hội, v́ chỉ thụ hưởng mà không làm lợi ích ǵ. Đó cũng là lư do nhiều người Âu Mỹ đă coi thường gia tài văn hoá xứ Ấn. Xét cho cùng, một phần lỗi cũng là do sự tôn sùng tôn giáo quá mạnh của dân chúng. Họ không phân biệt một đạo sư tu hành chân chính, ǵn giữ giới luật nghiêm minh, với những kẻ bịp đời. Ḷng sùng tín khiến họ trở nên ngây thơ, nhẹ dạ, sẵn sàng làm theo sự mách bảo của các bậc tu hành. Một lư do nữa là sự ỷ lại vào sức mạnh thần quyền. Đa số các tín đồ mải mê với sinh kế, không có th́ giờ lo việc tinh thần, nên họ uỷ thác cho các giáo sĩ cầu nguyện dùm, và đồng hoá việc giải thoát với việc trung thành vào một bậc giáo sĩ. Đa số các giáo sĩ lợi dụng vấn đề này tối đa, hứa hẹn sẽ chăm lo tinh thần giáo dân bằng cách cầu nguyện cho họ. Các giáo sĩ này tự hào đă tu hành đắc đạo, đă có thể nói chuyện trực tiếp với thượng đế. Và là người trung gian giữa trời và người. Họ sống trong các đền đài đẹp đẽ, hưởng thụ vật dụng được cúng, và nhân danh thượng đế để đ̣i hỏi này nọ. Người Á châu bản tính không thích hoài nghi, chấp nhận việc các tu sĩ nói ra ư muốn của thượng đế, và tuân hành triệt để. Cũng v́ thế, các tài liệu tôn giáo Ấn độ đă bị sửa đổi rất nhiều, không phân biệt được điều có thật với những sự kiện huyền hoặc. Các tu sĩ tha hồ trích dẫn những câu nói bí ẩn, và giảng ra theo ư nghĩa có lợi nhất cho họ. Xứ Ấn độ phân biệt giai cấp rơ ràng, tu sĩ luôn đứng hàng đầu trên cả vua chúa, quư phái. Giai cấp tu sĩ không làm ǵ, chỉ hưởng thụ và các giai cấp khác có bổn phận phải cung cấp các nhu cầu đ̣i hỏi của tu sĩ. Cũng v́ không làm ǵ, quá nhàn hạ, họ đâm ra chống báng , đả kích lẫn nhau. Mỗi người tự lập một giáo phái, xưng hùng, xưng bá, giảng kinh điển theo quan niệm của ḿnh từ cụ thể đến trừu tượng, như Thời gian luận, Phương hướng luận, Đa nguyên luận…Không ai chịu theo ai, và c̣n tranh luận lung tung khiến các tín đồ không c̣n biết đâu mà lần. Cũng v́ xă hội nghèo đói, rối ren, tinh thần lại điên đảo bởi các tà thuyết, nên từ bao năm nay, Ấn độ không sao trở nên một quốc gia hùng cường, thịnh vượng như các xứ khác. Tuy thế, với gia tài minh triết lớn lao tiềm ẩn, vẫn có các bậc chân tu đạo hạnh, sống kín đáo để giữ cho ngọn lửa tâm linh luôn cháy sáng và vẫn có những người tha thiết mong cầu chân lư, sẵn sàng từ bỏ tất cả để đi t́m chân lư.

Sự kiện từ bỏ tất cả để đi t́m đạo cũng là một nét rất đặc biệt của Á châu, v́ người Âu Mỹ khó có thể chấp nhận vấn đề từ bỏ của cải, vật chất, để chạy theo một viễn ảnh trừu tượng, viễn vông, không thiết thực. Người Âu cả quyết rằng sự t́m kiếm chân lư là vô ích, hạnh phúc là hưởng thụ tất cả những ǵ cuộc đời có thể mang lại v́ chết là hết! Nếu như thế, th́ mục đích cuộc đời là ǵ ? Tại sao chúng ta lại sinh ra để chết ? Văn hoá Âu tây đă không giải thích được vấn đề này một cách rốt ráo. Biết bao nhà triết học nổi danh đă nhức óc về đề tài này, nhưng đa số đều chỉ nói một cách quanh co, không đi đến một kết luận nào chắc chắn. Họ chỉ nói rằng có thể như thế này, hay cũng có thể như thế khác mà thôi. Cho đến khi người Âu thật sự giao tiếp với người Á châu, th́ họ bỗng bật ngửa, v́ tất cả những ǵ họ thắc mắc th́ người Á châu đă có những câu trả lời từ nhiều ngàn năm về trước.

Lịch sử đă ghi nhận có những người Âu đến viếng thăm Á châu và say mê nền minh triết xứ này, đến nổi quên cả mục đích chính của chuyến đi. Điển h́nh là đại đế Alexander xứ Hy Lạp, vị hoàng đế, bách chiến bách thắng đă chinh phục thế giới, dẹp tan Ai cập, quét sạch Ba tư , mở rộng bờ cỏi đến tận Ấn độ dương. Khi đến Ấn độ, ông là một kẻ chinh phục, oai danh lừng lẫy nhưng khi trở về nước, ông đă trở nên một triết gia khiêm tốn, nhă nhặn. Hoàng đế Alexander, học tṛ của hiền triết Aristotle đă bị các bậc hiền giả xứ Ấn chinh phục. Khi dẹp tan các đạo binh của hoàng đế Ấn độ, Alexander cho mang tất cả những tướng chỉ huy xứ Ấn đến hạch hỏi. Ông vua kiêu căng lớn tiếng, “Thua trận như vậy, các người đă chịu phục ta chưa ?”. Nếu là trường hợp các quốc gia khác, th́ vua chúa đều quỳ mọp xin tha tội, và xin thần phục trước sức mạnh của Hy Lạp. Nhà chỉ huy xứ Ấn đă dơng dạc trả lời, “Nhà ngươi chỉ là một kẻ vũ phu, tàn ác làm sao ta phục cho được. Người có thể thắng bằng quân sự, nhưng cai trị thế nào nổi dân của tả” Alexander nổi giận, “Ta đă cai trị toàn thế giới, có nước nào không phục tài ta, nơi nào làm phản, ta giêt trọn cả nước. Ngươi không thấy các đại cường quốc như Ai cập, Ba tư c̣n xin thần phục huống chi Ấn độ yếu đuối ?” Vị chỉ huy xứ Ấn bật cười, “Chinh phục bàng sức mạnh quân sự th́ dễ, chứ chinh phục nhân tâm c̣n khó gấp trăm ngàn lần. Một kẻ vũ phu như ngươi, làm sao có thể cai trị được Ấn độ ?” Câu nói bất ngờ làm đại đế Alexander giật ḿnh. Nên nhớ, ông là một hoàng đế văn vơ toàn tài, chứ không phải là một kẻ chỉ ỷ vào sức mạnh. Từ nhỏ, ông đă được giáo dục bởi các bậc hiền triết Hy Lạp và năm 14 tuổi, ông đă đem quân chinh phạt khắp Địa trung hải, tạo các chiến công hiển hách. Ông theo học với triết gia Aristotle và lúc nào cũng có vài chục hiền giả chung quanh để thảo luận. Câu nói của vị tướng lănh chỉ huy xứ Ấn, làm ông suy nghĩ. Thay v́ ra lệnh giết ngay viên tướng này để làm gương, ông đă không giận dữ, lại c̣n mang ngay đề tài chinh phục nhân tâm ra thảo luận với ỵ Trong suốt lịch sử Âu châu, chỉ có Alexander là hoàng đế duy nhất đă tranh luận ôn tồn cho đến khi kẻ thù kính phục mới thôi.

Chi tiết cuộc thảo luận này ra sao, không thấy lịch sử ghi chép nhưng chỉ ít lâu sau, hoàng đế Alexander đă cho mời các bậc hiền triết xứ Ấn đến thảo luận với các học giả Hy Lạp vẫn tháp tùng theo đoàn viễn chinh. Chỉ một thời gian ngắn, Alexander nhận thấy các triết gia Hy Lạp không thể sánh kịp với các hiền giả Ấn độ. Nhà vua bèn đổi thái độ, lấy lễ nghĩa đối xử với các vị này. Thay v́ cai trị bằng sức mạnh như vẫn làm với các quốc gia khác, ông ghi nhận những lời khuyên của các bậc hiền triết, tôn trọng quyền lợi dân chúng xứ này.

Đoàn quân viễn chinh ngừng lại, không đi sâu vào nội địa xứ Ấn, để ông có thời gian học hỏi, đàm đạo với các bậc thánh nhân, hiền triết. Các cuộc thảo luận nhiều khi kéo dài đến cả tuần lễ, có khi cả tháng. Sau đó, ông đă ra lệnh rút binh trở về Hy Lạp, v́ giấc mộng bá vương không c̣n nữa. Ông dự định sẽ cải tổ lại guồng máy cai trị thế giới theo gương Ấn độ. Tiếc thay, nhà vua lại chết sớm khi chưa đầy 30 tuổi. Một sử gia đă than, “Nếu Alexander sống lâu thêm ít năm nữa, th́ biết đâu lịch sử Tây phương đă khác hẳn.

Trong các hiền triết nổi danh, Ramakrishna được coi là một vị thánh của Ấn giáo. Danh tiếng ông này vang sang tận Âu châu. Phái đoàn t́m đến đức Mahayasa, môn đệ của ông này đang tu ở một ngôi đền gần đó.

Ngang qua một khoảng sân nhỏ đến một căn pḥng kiến trúc kiểu xưa, cổ kính. Mọi người được mời ngồi xuống thảm. Khoảng vài phút sau, có tiếng chân người chậm răi bước lại, đó là một ông lăo khoẻ mạnh, râu dài trắng phếu, dung mạo nghiêm trang, và đôi mắt chói sáng toa? ra một cái ǵ thánh thiện, khiến mọi người có cảm giác rung động lạ thường.

Giáo sư Evans-Wentz lên tiếng bày tỏ mục địch của phái đoàn, Mahayasa mỉm cười :

- Ơn trên đă dẫn dắt các ông đến đây, các ông sẽ có dịp tiếp xúc nhiều với những bậc hiền triết xứ này. Ơn trên có một mục đích rơ ràng rồi các ông sẽ thấy.

- Chúng tôi nghe nói nhiều về đạo sư Ramakrishna, ông có thể cho chúng tôi biết thêm về ngài không ?

- Tôi rất thích nói về ngài. Ngài mất đă nửa thế kỷ rồi, nhưng vẫn c̣n lưu lại nhiều kỷ niệm linh động trong ḷng tôi. Tôi gặp ngài hồi 27 tuổi, và luôn luôn ở bên ngài, cho đến những ngày cuối cùng. Nhờ ngài, tôi đă trở thành một con người mới, và quan niệm của tôi đối với cuộc đời cũng thay đổi hẳn. Ảnh hưởng của ngài thật sâu đậm, ai đến với ngài cũng được cảm hoá như vậy, kể cả những kẻ hoài nghi, chế nhạo…

- Nhưng nếu người ta không tin, làm sao người ta có thể được cảm hoá ?

Đức Mahayasa mỉm cười:

- Trước ảnh hưởng an lành toa? ra từ con người thánh thiện của đức Ramakrishna dù có hoài nghi thế nào, người ta cũng thấy thanh thoát.

Giáo sư Allen rụt rè :

- Chúng tôi được biết ngài rất ít học.

- Đúng thế, ngài là con người đơn giản, biết ít, học ít, nhưng ngay cả những bậc học rộng , tài cao của Ấn độ đều ngưỡng mộ ngài. Họ cúi đầu trước hào quang tâm linh của ngài. Ngài vẫn dạy rằng tiền bạc, chức tước, địa vị chẳng qua chỉ là phù vân, hư ảo trước các giá trị tâm linh…

- Nhưng người Âu không thể hiểu tại sao những vua chúa, học giả nổi tiếng lại có thể cúi đầu trưóoc một người không học hết bậc trung học.

Đức Mahayasa mỉm cười :

- Sở dĩ họ không hiểu được, v́ họ quan niệm đạo sư phải là người có bằng cấp, tốt nghiệp những đại học nổi tiếng, có tài ăn nói hấp dẫn. Quan niệm người Ấn không như vậy. Một đạo sư không nhất thiết phải tốt nghiệp trường học chuyên môn, viết những sách vở cao siêu, mà ở những điều ngài khêu gợi, thức tỉnh tâm thức được cho ḿnh. Có gần ngài, mới hiểu thế nào là b́nh an. Những ngày bên ngài tốt đẹp biết bao. Ngài thường đắm ḿnh trong những cơn thiền định sâu xa, khiến chúng tôi có cảm tưởng như tiếp xúc với một vị thánh hơn một người phàm. Tôi xin kể cho các ông về cảm tưởng của tôi. Tôi được giáo dục theo phương pháp Âu tây, tôi rất tự đắc được đọc nhiều biết rộng hơn những người chung quanh. Khi đó tôi là giáo sư dạy Anh ngữ cho trường trung học ở Calcuttạ Đức Ramakrishna tu ở đạo viện Dakshinewar cách đó không xạ Một hôm, tôi theo các bạn đến nghe ngài thuyết giảng, thực ra tôi có ư muốn biện luận với một vị, được dân chúng coi là thánh nhân, hơn là muốn nghe giảng. Nhưng một sự lạ lùng đă xảy ra, khi vừa nghe những lời nói của ngài, tôithấy trong ḷng rộn ră một cảm giác lạ lùng, yên tĩnh. Ngài không nói bằng ngôn ngữ thông thường, sử dụng các danh từ bóng bẩy như tôi nghĩ, mà bằng tiếng nói của trái tim. Tôi say mê uống những lời giảng giản dị, chân thành như người khát nước lâu ngày, sau đó, tuần nào tôi cũng đến nghe giảng. Một thời gian sau, tôi được ngài thu nhận làm đệ tử, chính ngài khuyên tôi, “Xem tướng, thầy biết con sẽ trở nên một tu sĩ (Yogi). Con hăy làm tṛn công việc hàng ngày của ḿnh với đời. Nhưng tâm hồn lúc nào cũng tưởng nhớ đến thượng đế.”

- Chúng tôi nghe nói về Ramakrishna ngay từ khi c̣n ở Âu châu, nhưng dư luận người Anh có lẽ không hiểu rơ về ngài, ngoại trừ việc ngài là một người không có học thức…

Mahayasa gật đầu mỉm cười :

- Theo sự hiểu biết của tôi, sở dĩ ngài không thích học v́ bản tính ngài thiên hẳn về vấn đề tâm linh. Một người như thế tất nhiên không để ư đến những từ chương , bằng cấp hay quyền quí, danh lợi. Năm ngài bắt đầu vào tuổi thanh niên, một sự lạ xảy ra. Tuổi 16,17 là lúc đứa trẻ thường bị khủng hoảng hoặc thay đổi tâm tính nhất là trên phương diện t́nh ái. Đối với người cao thượng, đó là lúc mở màn cho một đời sống thật sự với sự phát triển các năng khiếu tâm linh siêu việt. Sự mở màn ấy bắt đầu vói sự hoảng hốt trước cái chết. Đa số con người ít nhiều cũng đă nghĩ đến sự chết nhưng họ chỉ nghĩ một lát rồi quên ngay, ít ai chịu t́m hiểu sâu xạ Các bậc hiền triết th́ khác, họ tận lực t́m hiểu thế nào là sự chết, đức Ramakrishna cũng phản ứng như vậy, ngài suy ngẫm, “cái ǵ là chết? Thể xác này chết nhưng c̣n tôi, tôi có chết không ? Nếu tôi là thể xác này, tôi chết nhưng tôi có phải là thể xác này không ? Nếu tôi không là thể xác này, tôi sẽ không chết, nhưng làm sao t́m ra điều này? Chỉ có một cách là kinh nghiệm sự chết”. Sau đó, ngài quyết tâm tham thiền, suy gẫm về đề tài này. Ngài tưởng tượng thân thể ngài đă chết, không c̣n thở, không c̣n cảm xúc. Với một ư chí mănh liệt, ngài rút hết sinh lực ra khỏi thể xác và một ngày kia ngài thành công. Thân thể ngài cứng đơ, bất động như người chết, nhưng ngay lúc đó một quyền lực khôn tả phát ra từ đáy ḷng và tràn ngập tâm tư ngài. Chuyện ǵ xảy ra sau đó, không thấy ngài nói đến nhưng chúng ta có thể đoán ra, xuyên qua lời dạy của ngài. Chúng ta có thể nghĩ rằng quyền lực ấy là cái mà ta gọi là Ân huệ, và khi được mặc khải đó th́ ta tiến sâu vào nguồn sống để hoà hợp với đấng vô cùng. Ngài đă hợp nhất với Chân Ngă. Từ đó, ngài kinh nghiệm rằng Chân Ngă ngự sâu trong ḷng nhưng ngài chưa kinh nghiệm được một chân lư khác. Chân Ngă là sự thật duy nhất, ngoài sự thật đó không có ǵ nữa cả. Khi tiến sâu vào nội tâm, ngài thấy sự b́nh an nhưng khi ngài tỉnh dậy, ngài vẫn không thoa? măn v́ điều ngài mới đạt đến chỉ là sự b́nh an của các vị thánh. Ngài ra tâm suy gẫm về cảm giác thiếu thốn này, thân thể ngài khi đó thường nóng hực kéo dài trong nhiều tháng. Dĩ nhiên ,những người chung quanh không hiểu, và cho rằng ngài mắc bệnh. Ngài đắm ḿnh trong trạng thái Vô Ngă rất lâu, không màng đến những việc chung quanh. Chú của ngài không hiểu, nên thường trách mắng ngài lười biếng, không chịu học hành. Một hôm, ngài nghe nói đến ngôi đền Dakshiniwar, danh từ này có một sức hấp dẫn lạ lùng, thế là ngài quyết định đến đó. Đến nơi, ngài bước ngay đến trước tượng Shiva và nói, “Hỡi cha, cha đă gọi, nay con đến với chạ” Ngay lúc đó các cảm giác nóng hực, thiếu thốn hoàn toàn biến mất. Ngài chứng nghiệm được một chân lư mới, cha ta và ta là một. Từ đó ngài không cần tĩnh tâm mới có cảm giác an lạc, mà lúc nào cũng ở trạng thái này. Ramakrishna bị rất nhiều thử thách. Bị trẻ con chọc phá và các tu sĩ khác dèm pha, gây hấn, nhưng ḷng ngài lúc nào cũng b́nh thản, lặng yên, không một chút vọng động. Kinh Gita dạy rằng một khi đă đạt đến trạng thái Vô Ngă, ḷng người không c̣n bị xao động bởi các sự kiện bên ngoài, dù khắc khe, đau khổ đến đâu. Một sự an lạc tràn ngập thân ngài lôi cuốn những người chung quanh khiến họ khâm phục, kính mến và số người này mỗi ngày một đông. Một điều cần lưu ư là ngài không học hay đọc những sách vở ǵ về trạng thái Vô Ngă mà ngài đạt được lúc thanh xuân. Cũng không ai chỉ dẫn ngài về trạng thái siêu việt này. Nhưng mỗi khi tín đồ nhờ ngài giảng giải một đoạn kinh sách ǵ, ngài mới đọc và thông hiểu nó một cách dễ dàng. Các sách vở đó rất ư khó hiểu, nhưng ngài chỉ đọc lướt qua đă quán triệt được ngay, v́ ngài đă chứng nghiệm được những điều nói trong sách đó. Ngài dạy đạo bằng sự lặng thinh hơn là lời nói, nhiều người đến với ngài để chất vấn, nhưng khi vừa gặp ngài th́ mọi thắc mắc tự nhiên tiêu tan như đă được phúc đáp. Nếu một câu hỏi đặt ra, ngài thường trả lời một cách dịu dàng, vắn tắt, dễ hiểu. Ngài không viết sách như những đạo sư khác, mà chỉ dạy đạo qua cử chỉ yên lặng hay vài câu nói giản dị. Môn đệ của ngài đến từ khắp xứ và tùy theo căn cơ lănh hội ít hay nhiều. Ư kiến của họ vê ngài tuy khác nhau, nhưng ai cũng nh́n nhận ngài là một đạo sư vào bậc nhất, và hết sức kính mến ngài. V́ đă đạt trạng thái Vô Ngă, Ramakrishna không phân biệt giữa ngài và những người khác, giữa người giàu, kẻ nghèo, hay nam nữ, đối với ngài, tất cả đều b́nh đẳng tuyệt đối kể cả những loài cầm thú.

- V́ Ramakrishna không hề để lại sách vở, giáo lư, nên người Âu không hiểu tại sao ngài lại nổi tiếng như vậy? Ông có thể cho chúng tôi biết một chút về giáo lư của ngài không ?

Mahayasa mỉm cười :

- Sau khi ngài qua đời, nhiều đệ tử đă xuất gia để truyền bá giáo lư, riêng tôi vẫn c̣n là cư sĩ, hàng ngày tôi vẫn đi làm nhưng sống giữa cơi đời, mà tôi không c̣n tùy thuộc vào đời. Tôi c̣n nhớ rơ một lần ngài đă dạy như sau, “chúng ta xông pha trong cuộc đời với ư niệm cho rằng ta có thể t́m hạnh phúc trong cơi đời. Cho đến lúc gần đất, xa trời, nhiều người cũng không buồn hỏi rằng ư niệm đó có đúng không ? Thật sự là chúng ta chả bao giờ chịu ngừng lại để suy nghĩ, lúc nào chúng ta cũng nghĩ rằng ḿnh gần đạt được những điều ḿnh mong mỏi. Chúng ta chỉ chịu dừng chân khi nào bị cuộc đời hắt hủi, giày ṿ. Ramakrishna cho rằng đó là việc dĩ nhiên, và giải thích bằng giấc mộng . Trong giấc mộng, nếu ta chỉ gặp những điều thích thú, chúng ta vẫn mơ mộng măi và chỉ giật ḿnh tỉnh giấc khi gặp những chuyện đau buồn. Một cuộc đời êm đẹp không tiện cho sự suy tư về các vấn đề quan trọng, nhưng nếu là mộng th́ chắc chắn cũng phải có lúc tỉnh. Trong nhiều năm ṛng ră, chúng ta cố t́m hạnh phúc, và nhiều lần tưởng đă đạt được nó để hưởng một cách lâu bền. Nhưng lần nào ta cũng thất vọng. Sau đó, ta lại tiếp tục chạy theo ảo ảnh đó như trước. Nếu biết dừng chân suy nghĩ, ta sẽ thấy chúng ta đuổi theo hạnh phúc nhưng không hề biết đến bản chất thật sự của nó , và không biết phải dùng phương tiện nào để đạt nó. Hăy thử t́m hiểu thế nào là hạnh phúc. Ai cũng biết đặc tính của hạnh phúc là “thường hằng”, nghĩa là nó ở măi với ta; suốt đời ta lúc nào cũng vui sướng, tươi tắn. Nhưng tất cả những ǵ cuộc đời mang lại cho ta đều là vô thường, chỉ có những khoái cảm nhất thời, chứ có ǵ lâu bền đâu. V́ khoái cảm nhiều và đến với ta như ḍng nước chảy, chúng ta tưởng nó là hạnh phúc và kết luận rằng bao giờ ḍng khoái cảm đó c̣n tiếp tục đến với ta, chúng ta được hưởng hạnh phúc. Suy gẫm kỹ th́ khoái cảm chẳng qua chỉ là phản ứng của ḷng ta trước sự vật bên ngoài, nó lôi cuốn chúng tạ Các sự vật này khi th́ tạo vui, lúc th́ gây khổ. Hơn nữa cùng một sự vật mà có thể tạo vui hay gây khổ tùy lúc, bởi thế ta phải nhận thức rằng “Hạnh phúc” không có ở sự vật bên ngoài. Nếu nó là sự vật bên ngoài, chúng ta phải càng có hạnh phúc khi càng có nhiều sự vật mới đúng chứ. Thật sự, người giàu có, lắm sự vật, chưa chắc đă hạnh phúc hơn kẻ nghèo. Nói cách khác, kẻ nghèo ít của cải, chưa chắc thiếu hạnh phúc hơn người giàu. Tóm lại, chúng ta thấy rơ ràng ḿnh theo đuổi hạnh phúc nhưng không biết thế nào là hạnh phúc và cũng chả biết phải dùng cách nào để đạt hạnh phúc ?!! Những người t́m hiểu một cách chân thành sớm muộn ǵ cũng thấy rằng hạnh phúc nằm ở ngay nội tâm tạ Các khoái cảm không có tính cách tư hữu, mà chỉ là một tia nhỏ của hạnh phúc chân thật thuộc bản tính tự nhiên của con người ,bị che lấp bởi vô minh. Một con chó gậm xương bị trầy miệng, chảy máu nó lại tưởng rằng máu phát xuất từ khúc xương. Chúng ta cũng thế cứ tưởng sẽ được hạnh phúc khi chạy theo những vật ngoại giới. Có lẽ các ông khó chấp nhận quan niệm này, nhưng ít ra cũng tin rằng những nỗi vui hay buồn tùy ở chúng ta nhiều hơn là sự vật bên ngoài. Dù sao, sự chấp nhận này cũng chưa đủ đem lại cho ta hạnh phúc, v́ có hai nỗi đe doa. : sự ham muốn và sợ hăi. Chúng ta càng ham muốn th́ càng sợ hăi, và càng sợ hăi lại càng đau khổ. Thay v́ diệt trừ những đe doa. này, chúng ta lại quỳ luỵ chúng . Khi ham muốn lên tiếng, “hăy đạt được vật đó đi, rồi sẽ sung sướng”, th́ chúng ta tin tưởng và t́m mọi cách đạt kỳ được vật đó. Nếu chúng ta không đạt được, th́ chúng ta đau khổ, mà nếu đạt được th́ ham muốn lại thúc dục ta t́m đến một vật khác nữa. Thế mà chúng ta vẫn không thấy ḿnh bị lừa gạt chút nào mới lạ, quả là ham muốn như lửa đỏ, càng cháy dữ khi càng đổ thêm dầu. Bao giờ chúng ta là nô lệ của dục vọng, chúng ta không sao đạt được hạnh phúc. Nếu đạt được lại sợ mất đi, càng có nhiều càng lo sợ nhiều, có đúng thế không ? Tóm lại, muốn có hạnh phúc thật sự, phải vượt lên khỏi sợ hăi và ham muốn.

Đức Mahayasa im lặng như đắm ch́m vào một quá khứ rồi tiếp tục :

- Đến đây chúng ta cần được một vị thầy hướng dẫn thêm. Người này phải hiểu rơ hạnh phúc ở đâu, phải theo đường lối nào. Người này phải thắng được các đe doa. như sợ hăi, ham muốn, và thật sự đă đạt được niềm hạnh phúc vô biên; như vậy mới có đủ kinh nghiệm d́u dắt chúng tạ Như con bệnh phải đi t́m danh y th́ kẻ cầu đạo cần một vị thầy. Ramakrishna chính là vị thầy mà tôi gặp. Kinh sách xưa xác nhận sự minh triết có thể giúp con người thoát khỏi khổ đau, nhưng ta không thể t́m nó bằng lư luận hay trong sách vở. Trong quá khứ, đă có những bậc đạo sư như đức Phật, đấng Christ đă t́m được hạnh phúc và hướng dẫn những kẻ khác. Sau khi các ngài tịch diệt, môn đệ có tŕnh bày giáo lư của các ngài trong kinh sách, nhưng dù sao đi nữa, kinh sách cũng có những khiếm khuyết, ngôn ngữ làm sao diễn tả hết được, làm sao bằng lời những vị đạo sư hăy c̣n sống bên cạnh chúng tạ Ramakrishna đă dạy rằng, nguyên nhân các đau khổ đều ở trong ta chứ không phải ở bên ngoài. Có người hỏi thế giới chúng ta đang sống có điều ǵ xấu xa không? Th́ ngài đă trả lời rằng nó rất tốt đẹp, có xấu xa chăng là ḷng người, v́ con người đă hiểu sainó. Công việc của chúng ta hiện nay là phải đi ngược ḍng t́m cho ra sự sai lầm nguyên thuỷ để diệt trừ nó, th́ mọi việc sẽ tốt đẹp… Phát giác và trừ tuyệt cái sai lầm căn bản là phương thuốc chánh, tất cả phương tiện khác đều chỉ là tạm bợ. Nhiều lắm là chúng giúp ta t́m ra phương thuốc nói trên. Đó là giá trị của các tôn giáo, các nghi lễ, tiếc thay tôn giáo hay gây sự chia rẽ, đôi khi c̣n làm cho tâm trí suy kém, cản trở bước tiến của tín đồ. Có người đă hỏi tại sao con người luôn luôn đau khổ, sợ hăi, th́ ngài trả lời rằng, sự kiện đó là do lầm lạc phát sinh, từ sự thiếu hiểu biết chính ḿnh. Có nhiều người, họ biết ḿnh rất rơ ràng, hoặc lại cho rằng điều này không cần thiết, v́ trong đời sống hàng ngày đầy rẫy những phức tạp, điểu ta cần khai thác là làm ǵ cho có lợi, kiếm được thật nhiều tiền. Để khai thác, con người gán cho kiến thức một giá trị quá mức, như bắt mọi người phải đến trựong. Từ xưa đến nay nhân loại thu thập biết bao kiến thức nào là sử kư, địa dư, thiên văn, vật lư, triết học và siêu h́nh học nữa… Nếu những kiến thức này là sự hiểu biết đứng đắn th́ nó phải đem lại hạnh phúc cho nhân loại chứ. Sự thật lại khác hẳn, chúng ta học cách chế ngự quyền lực thiên nhiên, đi ngược luật tạo hoá, khiến cho xă hội càng ngày càng đau khổ, bất măn thêm. Sự chế ngự này, con đẻ của khoa học chỉ đem lại lợi ích cho một thiểu số thôi. Do đó, lắm kẻ giàu sang sung sướng nhưng vẫn không sao hạnh phúc được trước khổ đau của đa số. Tóm lại, khoa học đă tạo cho con người nhiều khó khăn hơn là giải quyết các điều kiện căn bản của cuộc sống.

Đức Mahayasa nh́n mọi người trong phái đoàn, rồi tiếp tục :

- Đă có một giáo sư đại học hỏi Ramakrishna về bức tường vô minh mà khoa học không sao vượt qua được. Họ biết các vật vi tế như nguyên tử, điện tử nhưng đó cũng chỉ qua sự ức đoán mà thôi, không phải biết một cách trực tiếp. Họ cũng biết các vật vĩ đại như các dăy thiên hà nhưng cũng chỉ ngưng ở đây thôi. Ngài đă trả lời rằng, ngoại cảnh chỉ đưa con người tới chỗ vô minh mà thôi. Theo ngài, nếu nhân loại cố t́m ṭi những ǵ káhc hơn là bản chất con người th́ những kiến thức ấy không phải sự hiểu biết thật sự. Lời nói này có vẻ làm giảm giá trị của khoa học, nhưng nếu suy nghĩ kỹ ta thấy ngài rất có lư. Sự hiểu biết về khoa học hiện nay c̣n nhiều điểm đáng nghị Các khoa học gia vẫn c̣n bất đồng ư kiến về một chuyện ǵ, th́ quần chúng đă lên tiếng ủng hộ, do đó những người bất đồng ư kiến cũng phải im, dù có thể họ rất có lư và số đông đă sai. Trong phạm vi khoa học, cũng như triết học và tôn giáo, ư kiến thựong sai biệt ít nhiều, tùy tâm trí nhà bác học. Sự t́m hiểu chân lư bắt buộc một học giả phải có những đức tính cao quư v́ tâm trí học giả có một ảnh hưởng to lớn trong sự t́m hiểu và sự hiểu biết chỉ cóthể xem như một chánh keí6n, khi người t́m kiếm có đủ tư cách. V́ thế khoa học đă vấp nhiều lỗi lầm khó sửa. Sự thất bại của khoa học phát sinh từ một lầm lỗi nguyên thuỷ là các bác học tưởng ḿnh đă biết, không cần sự tự biết ḿnh. Trong cả hai trường hợp, họ bắt đầu cuộc đi t́m với những thành kiến sai lầm về bản chất của họ. Do đó, những điều họ t́m ra dù có giá trị vẫn bắt đầu từ những sai lầm căn bản, hậu quả là khoa học ngày nay đă đưa nhân loại đến những hố thẳm, thay v́ chân trời sáng lạng. Một hôm có tín đồ đến hỏi Ramakrishna về các thần tượng mà họ không thích. Họ muốn ngài chấp nhận ư kiến của họ là không nên thờ thượng đế dưới h́nh thức thần tượng.

Một người hỏi ngài :

- Thượng đế có sắc tướng không?.

Ngài đáp:

- “Ai nói rằng thượng đế có sắc tướng.

- “Nếu thượng đế không có sắc tướng th́ tại sao lại thờ ngài trong các h́nh tượng làm ǵ ?

- Chúng ta hăy để thượng đế sang một bên, và xin anh cho tôi biết anh có sắc tướng không ?

- Dĩ nhiên là có chứ, hăy nh́n thân thể này…

- Nhưng anh có phải cái xác thân đen xám, râu tóc xồm xoàm này không?

- Dĩ nhiên tôi là xác thân này chứ c̣n ǵ nữa.

- Trong lúc ngủ say, không mơ mộng, anh có phải là nó không?

- Có chứ, v́ khi thức dậy tôi thấy tôi đâu thay đổi ǵ.

- Và rồi khi anh chết.

- Th́ tôi cũng c̣n là nó.

- Vậy th́ tại sao khi người ta hoa? thiêu nó, nó không nói nó không chịu đi, và muốn ở lại nhà ?

Khi người này ư thức rằng ḿnh đă sai và đáp rằng :

- Tôi không phải là thể xác này, mà là sự sống trong nó.

- Anh hăy suy gẫm kỹ về điều này. Hồi năy anh nói rằng anh là thể xác này. Bây giờ anh lại nói rằng không phải. Cho ḿnh là xác thân này là một lỗi lầm nguyên thuỷ. Bao giờ sự sai lầm này c̣n, dù anh nói thượng đế có sắc tướng hay không cũng không ăn thua ǵ . Khi sự sai lầm này được đánh tan th́ mọi việc sẽ sáng tỏ.

Tóm lại, theo Ramakrishna th́ nguyên nhân của sợ hăi, dục vọng, ham muốn là do sai lầm đầu tiên, tự cho ḿnh là xác thân này, v́ sợ hăi hay ham muốn đều bắt đầu từ thể xác này. Dĩ nhiên, rất nhiều người cũng đồng ư như thế , và tin rằng con người không phải là thể xác mà là một sự sống trường cửu. Sách vở cũng nói như thế rất nhiều. Nhưng trong đời sống thực tế, họ có làm ǵ khác đâu. Lúc đầu họ nghĩ rằng nhờ kiến thức thu thập, hiểu biết các chân lư cao siêu họ sẽ khác người thường. Nhưng tại sao họ vẫn hành động y như họ là thể xác này vậy? Nếu xác thân họ nhỏ bé, họ cho rằng ḿnh bé nhỏ. Nếu xác thân họ to lớn, đẹp đẽ, họ cho rằng ḿnh lớn đẹp. Nếu xác thân họ Ốm đau, họ cho rang ḿnh bệnh hoạn. Nếu tư tưởng họ phong phú, họ cho rằng ḿnh thông minh….Tóm lại, sự sợ hăi và dục vọng vẫn y như xưa, có thể lại c̣n gia tăng hơn v́ họ hănh diện về sự hiểu biết của ḿnh hơn xưa. Nói một cách khác, sở dĩ họ làm thế, v́ chưa chứng nghiệm được con người thật của ḿnh, sự sai lầm nguyên thuỷ vẫn c̣n tác động mạnh mẽ nơi họ. Kiến thức của họ chưa tạo được một sự biến chuyển thật sự….

Ramakrishna đă dạy rằng, kiến thức về tâm linh thu thập qua sách vở thường tai hại hơn là một người thất học, dốt nát. Những người kiến văn quảng bác, lịch thiệp, bằng cấp, danh vọng thường ích kỷ, lại c̣n ngạo mạn, họ cho rằng ḿnh biết nhiều, hiểu nhiều, và không chịu t́m hiểu, thực hành đào sâu vào thêm nữa. Đó là sự hiểu biết hời hợt qua sách vở, chứ đâu phải là một chứng nghiệm nội tâm. Sách vở chỉ là la-bàn hướng dẫn, chứ đâu phải minh triết thật sự. Sự thu thập kiến thức kiểu này, tạo nên t́nh trạng hỗn độn trong triết lư và thần học. Các triết gia và nhà thần học đă thảo luận không ngừng về những vấn đề khó khăn, như nguyên nhân đầu tiên, sự thật cuối cùng, bản chất thời gian, định mệnh con người, tự do, giải thoát, v..v… và chả đạt đến một kết quả nào. Các bậc hiền triết đứng bên ngoài cuộc thảo luận đó, v́ họ có lối giải quyết riêng , trái với các giải pháp trí thức. Thay v́ thảo luận, họ cố khám phá lấy sự thật, và khi t́m ra sự thật, các vấn đề trên sẽ đương nhiên được giải quyết.

Nói đến đây, đức Mahayasa lặng yên ch́m đắm trong một không khí êm đềm nào đó.

Giáo sư Evans-Wentz cố gắng :

- Nhưng con người không thể sốgn bằng đức tin, mà c̣n phải thoa? măn lư trí nữa, đối với những người thiên về lư trí, không biết ngài nghĩ sao ?

Mahayasa mỉm cười :

- Nếu thầy tôi Ramakrishna c̣n sống có lẽ ngài sẽ khuyên ông nên cầu nguyện.

- Tại sao như vậy ?

- Cầu nguyện là phương tiện cuối cùng của con người. Khi nào lư luận tỏ ra bất lực th́ sự cầu nguyện sẽ bổ sung , phù tŕ, cứu độ…

- Nhưng nếu tôi không thể cầu nguyện th́ phải làm sao ?

Đức Mahayasa nh́n giáo sư Wentz, ánh mắt ngài long lanh một niềm ưu ái :

- Ông nên tiếp xúc với các bậc chân tu, các vị này sẽ hướng dẫn tâm hồn ông lên cơi thiêng liêng, và thức động các khả năng thiêng liêng nhất của ông. Có lẻ ông cần một vị thầy.

 

 

Chương 6

Những Sự Kiện Huyền Bí

Bác sĩ Kavir cho biết nếu phái đoàn muốn nghiên cứu những sự kiện huyền bí, những phép thuật lạ lùng th́ phải đến gặp pháp sư Vishudha.

Vị pháp sư này có lệ không bao giờ tiếp khách, ngay cả những tín đồ thuần hành sùng kính nhất. Ông sống trong một căn nhà nhỏ với một vài đệ tử thân tín và rất ít khi nào ra ngoài. Các đệ tử cho biết thầy họ không bao giờ biểu diễn phép thuật dù ở nơi kín đáo, và không chịu cho phái đoàn vào. Bác sĩ Kavir mang hết tài dẫn dụ ngoại giao cũng như quyền lực hăm doa. nhưng họ vẫn khăng khăng. Sự hiện diện của một nhóm người Âu, gây nhiều chú ư của dân chúng và tín đồ hành hương, nên chỉ một lúc, một đám đông đă vây kín phái đoàn. Có lẽ tiếng động ồn ào này tạo sự chú ư của vị pháp sư nên ông ra lệnh cho đệ tử mời bác sĩ Kavir vào nói chuyện.

Một lát sau, Kavir bước ra nét mặt hân hoan :

- Đạo sư Vishudha không tiếp khách lạ, nhưng ngài đặc biệt tiếp phái đoàn như một ngoại lệ đấy.

Đó là một ông lăo to lớn, tóc bạc trắng như cước ngồi trên tấm bồ đoàn kết bằng cỏ, nét mặt ông lạnh như băng , và đôi mắt như nh́n vào khoảng không, như không thèm chú ư ǵ đến phái đoàn. Một đệ tử lên tiếng :

- Các ông đến đây với mục đích ǵ ?

Giáo sư Allen lên tiếng :

- Chúng tôi được biết đạo sư có các quyền năng phi thường. Mục đích chuyến đi này của chúng tôi, là nghiên cứu những sự kiện huyền bí, ghi nhận một cách khoa học những điều tai nghe, mắt thấy…

- Nếu đạo sư vui ḷng…

Vishudha nghe thông ngôn xong, mỉm cười yêu cầu giáo sư Oliver cho mượn một cái khăn tay và một cái kính lúp. Ông ta dơ chiếc kính lên ánh sáng mặt trời cho nó chiếu lên chiếc khăn tay và tuyên bố:

- Tôi sẽ thu hút các mùi hương trong không khí, các ông thích mùi ǵ?

- Tôi thích mùa hoa lài.

Visudha mỉm cười trao trả chiếc khăn cho giáo sư Oliver. Một mùi hương phảng phất khắp pḥng và ai cũng biết đó là mùi hoa lài. Mọi người quan sát kỹ chiếc khăn, nó không hề ướt hay có dấu hiệu ǵ rằng người ta đă nhỏ vào đó một chút dầu thơm. Như đoán được ư nghĩ mọi người, Vishudha yêu cầu giáo sư Mortimer đưa ra một chiếc khăn tay khác. Giáo sư Kavir thông dịch :

- Bây giờ các ông hăy chọn một mùi hoa ǵ đặc biệt của xứ các ông mà không hề có tại xứ Ấn độ.

- Được lắm, tôi muốn mùi hoa uất kim hương (tulip).

Visudha mỉm cười dơ chiếc kính lúp lên ánh sáng mặt trời cho nó chiếu vào chiếc khăn và lần này mùi hoa uất kim hương lại thơm nồng khắp pḥng. Phái đoàn vội vă yêu cầu những mùi hương lạ lùng và lần nào ông cũng làm họ hài ḷng. Thậm chí đến cả những mùi thuốc hoá học, những mùi a-xít trong pḥng thí nghiệm, ông cũng có thể làm được. Mọi người quan sát kỹ xem ông ta có dấu ǵ dưới lớp áo choàng không. Vishudha mỉm cười vén cao tay áo để chứng tó ông không hề làm tṛ ảo thuật hay cất dấu hương liệu ǵ đặc biệt trong người.

Giáo sư Mortimer buột miệng :

- Xin ông giải thích việc này ?

Mọi người giật ḿnh v́ phong tục xứ Ấn, chất vấn một đạo sư là điều bất kính. Vishudha quay sang giáo sư Kavir nói vài lời, ông này thông dịch :

- Đó chỉ là môn khoa học gọi là Thái dương học. Ánh sáng mặt trời chứa đựng một năng lực rất mạnh, nếu biết chọn lựa và cô lập nó ta có thể tạo mọi vật theo ư muốn.

Giáo sư Mortimer giật ḿnh :

- Thái dương học, phải chăng nó là môn khoa học của dân Atlantic ?

- Đó là môn khoa học đă một thời thịnh hành tại châu Atlantic, nhưng không phả riêng của giống dân này.

- Như thế châu Atlantic là có thật…châu này đă ch́m xuống biển từ lâu và chỉ có Plato ghi nhận lại trong tập sách của ông…Chuyện này ra sao ?

Vishudha trầm ngâm :

- Tin hay không là tùy các ông. Người Âu lúc nào cũng đ̣i hỏi bằng chứng này nọ, nếu các ông muốn gọi nó là truyền thuyết cũng chẳng sao…. Khoa học nơi đâu cũng có nguồn gốc, khi tiến đến một tŕnh độ cao xa th́ thời gian hay không gian, đâu có nghĩa lư ǵ nữa. Khoa Thái dương học thật ra xuất xứ từ Tây Tạng ở một thời đại xa xôi, khi Ấn độ c̣n là một ḥn đảo và rặng Hy Mă Lạp Sơn c̣n là một bờ biển…nhưng điều này đâu có ích ǵ cho việc nghiên cứu của các ông ?

- Ông có thể làm ǵ với môn này ?

- Các ông c̣n muốn ǵ ? Như vậy chưa thoa? măn sao ?

Vishudha đứng dậy bước đến bên một chậu hoa gần đó. Mặc dầu chậu nở đầy hoa, nhưng trong đó cũng có một số hoa đă tàn. Vishudha dơ chiếc kính lúp chiếu lên các hoa này. Trước cặp mắt kinh ngạc của mọi người, những hoa khô héo bỗng trở nên tươi tốt, thơm thọ Mọi người nín thở, không ai nói nên lời. Vishudha dơ chiếc kính lên chiếu vào ḷng bàn tay ông. Một chùm nho tươi tốt bỗng xuất hiện. Nên biết Ấn độ là xứ nhiệt đới, không trồng được nho, hơn nữa lúc đó đang vào mùa đông, các cây nho bên Âu châu đều khô héo. Có được chùm nho tươi tốt là một việc vô lư, lạ lùng. Vishudha đưa chùm nho cho giáo sư Allen xem và thản nhiên tuyên bố :

- Đây là giống nho Pajouti chỉ mọc ở miền nam nước Ư, không hề được xuất cảng. Mùi của nó thơm nhưng vị hơi chát.

Mọi người xúm lại xem chùm nhọ Có người ngắt vài quả bỏ vào miệng ăn như sợ rằng đó chỉ là một ảo tưởng. Chờ mọi người ăn xong, Vishudha trịnh trọng :

- Đây đâu phải lần đầu các ông thấy một sự lạ xuất hiện. Các ông đă nghe nói về chuyện này rồi đấy chứ. Các ông không nhớ chuyện đấng Christ hỏi thánh Phillip ở thành Galileo, “chúng ta sẽ mua bánh ḿ ở đâu?” Ngài biết rơ rằng bánh ḿ mà đám quần chúng đang cần dùng không phải mua ngoài chợ. Ngài mượn dịp đó để chỉ cho các tín đồ rằng người ta có thể tạo ra bánh ḿ bằng sức mạnh của tinh thần. Thông thường mọi người chỉ nghĩ rằng ta có bao nhiêu bánh ḿ hay bao nhiêu tiền bạc và chỉ giới hạn trong một khuôn khổ nào đó thôi. Điều đức Jesus muốn nói là khi ta đă sống với tâm thức của Chân Ngă, th́ người ta không c̣n thiếu sót hay g̣ bó vào một giới hạn nào nữa. Ngài nh́n về thượng đế là nguồn gốc sáng tạo ra muôn loài, và tạ Ơn thượng đế đă luôn đặt vào tay loài người cái quyền năng và chất liệu cần thiết để thoa? măn tất cả nhu cầu của họ. Đức Jesus đă bẻ bánh ḿ và bảo tông đồ hăy phân phát cho mọi người .Khi tất cả ăn no rồi mà vẫn c̣n dư đến 10 rổ bánh. Cũng bằng cách đó mà Elisê đă làm cho người quả phụ thành Jerusalem có dầu ăn thừa thăi không bao giờ hết. Ngài không hỏi đến kẻ có dư thừa dầu trong nhà, v́ như thế số dầu chỉ giới hạn mà thôi.

(503)

Những câu chuyện trong Kinh thánh đă dạy ta điều ǵ ? Phải chăng các môn khoa học đời nay không thể giải thích vấn đề này? Phải chăng có kẻ cho đó chỉ là một chuyện thần thoại? Có lẽ các ông cho rằng những chuyện này được ghi chép từ lâu rồi nên có phần nào sai lạc đi ?

Mọi người trong phái đoàn giật ḿnh v́ câu hỏi bất ngờ. Kinh thánh đối với họ không phải quyển sách nào xa lạ. Phần lớn đều thuộc ḷng nhưng ít ai suy nghĩ căn kẽ về những sự kiện xảy ra trong đó. Vishudha mỉm cười nh́n từng người rồi tiếp tục :

- Đức Jesus đă dạy rằng trong thiên nhiên có chất liệu để làm đủ mọi vật, và người ta có thể t́m lương thực của ḿnh trong đó. Chúng ta chỉ cần rút các chất liệu này để tạo ra mọi thứ cần dùng. Nhưng con người hèn nhát và thiếu đức tin đă không nghĩ rằng họ có thể thực hiện được những việc này. Nhu cầu phải chăng cũng là ư muốn sáng tạo ? Thay v́ vươn lên để thực hiện ư muốn, để sáng tạo th́ con người lại thu hẹp ḿnh lại. Nghĩ rằng ḿnh không thể làm được những việc đó. V́ thế con người càng ngày càng rời xa thượng đế. Đến nay con người tin rằng họ là một thực thể cách biệt với thượng đế. Họ đă đi lệch hẳn con đường toàn vẹn, bỏ lỡ cái mục đích cao đẹp. Họ đă không để thượng đế biểu lộ xuyên qua họ như ngài muốn. Chính đức Jesus đă nói rằng, “những ǵ mà ta làm được th́ các ngươi cũng sẽ làm được, và các ngươi sẽ c̣n làm được những việc lớn lao hơn nữa.” Ngài muốn nói điều ǵ đây ? Phải chăng con người trong cương vị chân thật, chính là con của thượng đế? Sứ mạng đức Jesus trên thế gian chính là chứng tỏ rằng trong cương vị nào đó, con người cũng có thể sáng tạo một cách hoàn toàn tốt đẹp như thượng đế. Khi ngài ra lệnh cho người mù hăy ra ao Siloe rửa mắt, phải chăng ngài đă chứng tỏ cho quần chúng biết rằng ngài được thượng đế gửi xuống để sáng tạo cũng như thượng đế vậy ?

Vishudha ngừng nói, đưa tay ra, một ổ bánh ḿ to lớn bỗng xuất hiện trên tay y từ hồi nào. Tất cả mọi người im lặng, nín thở không ai thốt nên lời. Sự kiện một đạo sư Ấn không nói ǵ về truyền thống, tôn giáo xứ này, mà lại nói về Kinh thánh như một vị mục sư làm mọi người kinh ngạc. Bỗng nhiên ổ bánh ḿ biến mất như bị thiêu huỷ. Vishudha mỉm cười thong thả :

- Các ông đă thấy, tôi đă lạm dụng các định luật huyền bí giúp tôi thực hiện ư muốn. Tôi vừa đốt cháy đồ vật mà tôi tạo nên. Làm như thế tôi đă lạm dụng một điều luật bất di bất dịch của thiên nhiên. Nếu tôi tiếp tục làm thế th́ không những món đồ bị đốt cháy, mà chính kẻ sáng tạo là tôi cũng chịu chung số phận. Các ông đă ngửi mùi hương và việc tôi làm chậu hoa hồi sinh, cũng như chùm nho xuất hiện…. Tôi có thể sử dụng quyền năng này khi làm một việc có ích cho nhân loại , hoặc với một ḷng bác ái thanh cao v́ đó là hợp với luật vũ trụ, hợp với thiên ư. Trái lại, chỉ với một ư định xấu xa như khoe trương bản ngă, tôi sẽ đi lệch đường và chịu trách nhiệm về việc làm của ḿnh nghĩa là sẽ gặp ngay sự phản tác dụng về hành động của ḿnh. Tôi đốt cháy một vật th́ tôi cũng có thể cháy thành than tức khắc. Nếu con người phụng sự thượng đế, hành động đúng theo thiên ư, hợp luật trời th́ y đă bước chân vào cơi trời rộng mở c̣n ngược lại th́ y đang bước vào cánh cửa của địa ngục rồi đó…

Vishudha nh́n thẳng vào mặt mọi người :

- Này các ông, những nhà thông thái, thế đă thoa? măn các mong ước, hiếu kỳ của các ông chưa? Nếu các ông c̣n mê man trong các cuộc khảo cứu, ghi nhận các hiện tượng lạ lùng mà khoa học chưa giải thích được th́ khắp thành phố này, có hàng trăm đạo sĩ, pháp sư có thể làm những chuyện đó. Điều đáng tiếc rằng rất ít người hiểu biết về cái hậu quả họ sẽ phải gánh chịu. Các ông muốn ghi nhận những phép thuật thần thông để làm ǵ ? Phải chăng các ông sẽ công bố cho mọi người Âu Mỹ biết hay sao? Như thế có ích lợi ǵ ? Liệu đă có mấy ai tin tưởng rằng những điều các ông nói không phải là một sự tưởng tượng ? Có thể họ sẽ lên án các ông là đằng khác. Có bao giờ các ông nghĩ rằng ḿnh đang làm một chuyện vô ích hay không ? Có lẽ các ông sẽ làm những phúc tŕnh về các hiện tượng lạ lùng nhưng rồi sẽ đi đến đâu? Cuộc đời đâu phải chỉ quan sát ghi nhận rồi làm những thống kê, có phải không ? Này các nhà thông thái, các ông đă khám phá thế nào là mục đích cuộc đời chưa ? Nếu các ông chưa tự hỏi mục đích cuộc đời ḿnh để làm ǵ th́ ghi nhận, nghiên cứu có ích lợi ǵ đâu ? Khi chưa t́m được giải đáp cho chính ḿnh th́ các phúc tŕnh, thống kể cũng vô ích thôi, có phải như thế không ?

Một sự im lặng bao trùm căn pḥng. Vishudha thong thả ngồi trên tấm bồ đoàn, không nói thêm điều ǵ nữa. Bác sĩ Kavir ra hiệu cho phái đoàn rút lui. Rời khỏi căn nhà đá, toàn thể mọi người đều xúc động, không ai nói lên một lời nào. Những sự kiện xảy ra đă làm đảo lộn mọi quan niệm thông thường về vật lư, hoá học… Đúng như nhà đạo sĩ đă nói, làm sao chứng minh một phép lạ đây ?

Làm sao có thể cho những người Âu đang bận rộn với mưu sinh tại New York hay London biết rằng ở phương Đông có những bí mật vô tận, những triết lư cao cả mà người Tây phương không thể hiểu. Tư tưởng Đông phương đă vượt xa, rất xa những tư tưởng tiến bộ nhất của Tây phương . Có lẽ các nhà hiền triết xứ này đă mỉm cười trước những ngông cuồng, hỗn tạp của cái gọi là khoa học tiến bộ. Câu hỏi của Vishudha khiến mọi người suy nghĩ rất nhiều. Lúc đầu, ai cũng mong ghi nhận những điều lạ lùng để nghiên cứu nhưng trước những sự kiện mà khoa học không thể giải thích, toàn thể mọi người đâm ra bối rối không biết phải làm ǵ.

Giáo sư Spalding nhớ lại câu nói của người Ấn thành Benares, “nếu các ông chỉ muốn nghiên cứu các hiện tượng thần thông, các quyền năng lạ lùng th́ hăy đến Rishikesh, các ông sẽ không thất vọng. Nhưng nếu các ông muốn đi xa hơn để có thể gặp các bậc chân sư th́ các ông cần một thời gian nữa”. Sự gặp gỡ các vị chân sư thánh triết có một sức hấp dẫn lạ lùng đối với phái đoàn, nhưng tại sao phải chờ đợi thêm một thời gian nữa ? H́nh như có một nguyên nhân sâu xa nào đó mà phái đoàn không thể giải thích, mọi người linh cảm như đă có những sự xếp đặt huyền bí cho việc du khảo tại phương Đông này.

Harishchandra là một đạo sĩ ḍng tu Swami, thường đi khắp nơi, ít khi nào ở một chỗ. Lần này ông ghé thăm bác sĩ Kavir ít hôm, nên phái đoàn có cơ hội gặp gỡ. Ông trạc 60, thân h́nh cao lớn, có đôi mắt sáng ngời. Sau vài câu xă giao ông cho phái đoàn biết tuổi thật của ông đă quá 100, và tin rằng ông sẽ c̣n sống ít ra vài chục năm nữa.

- Tại sao ông nghĩ ḿnh sẽ sống lâu như thế ?

- Tại v́ lúc này khả năng sáng tạo của tôi rất mạnh. Tôi tin rằng với bộ Óc c̣n linh hoạt như một thanh niên, tôi có thể sống khá lâu nữa.

Bác sĩ Kavir mỉm cười tiếp lời :

- Harishchandra không những là một đạo sư Yoga mà c̣n là một nghệ sĩ. Ông ta có thể sử dụng tất cả nhạc khí cổ điển cũng như tân tiến, ông c̣n vẽ tranh, nặn tượng, làm thơ… Tóm lại, chả có bộ môn nghệ thuật nào mà ông ta không biết.

Bác sĩ Mortimer ṭ ṃ :

- Ông theo học ở đâu và làm sao có thể biết nhiều thứ như vậy ?

Hashichandra cười lớn :

- Bác sĩ Kavir nói không đúng đâu. Tôi chỉ biết chút đỉnh về vài bộ môn nghệ thuật. Tôi không hề được đi học nhưng Yoga đă giúp tôi…

Bác sĩ Mortimer hấp tấp :

- Ông muốn nói đến phương pháp khí công hay các tư thế ?

Đạo sĩ bật cười lớn :

- Không phải thế, tôi ư thức được sự sáng tạo trong một buổi thiền định, và từ đó tôi có thể làm được nhiều thứ. Đa số con người đều coi nghệ thuật như một phương tiện giải trí, họ sử dụng nghệ thuật như một cái ǵ giúp họ trốn thoát hoàn cảnh con người của họ. Nghe một bài ca, một câu hát họ quên đi các ưu phiền hiện tại… Đó không phải là sự thưỏong thức cái Chân, Thiện, Mỹ của nghệ thuật. Nghệ thuật mà tách khỏi cuộc sống th́ chỉ là một kỹ thuật phô diễn những cái ǵ hời hợt, các ước vọng nông cạn. Nguồn cảm hứng không phải mời gọi mà được, mà là một rung động tự nhiên. Tất cả cố gắng chiếm đoạt cảm hứng qua bất cứ một h́nh thức nào, chỉ là những ảo tưởng. Tài năng, thiên tư chỉ giúp ta nhận thấy bản ngă, giúp ta thoa? măn các ước vọng thấp hèn, và làm thui chột sự sáng tạo. Một nghệ sĩ chân chính là người thực sự vượt qua các hư ảo của bản ngă, của danh vọng và ư thức cái đẹp của nghệ thuật như một thực tại.

Nh́n thấy mọi người có vẻ ngơ ngác. Harishchandra mỉm cười giải thích:

- Nội tâm con người là một băi chiến trường luôn luôn có xung đột giữa các quan niệm , h́nh thức, lư thuyết, thực hành. Sự tranh chấp này thường gây lầm lỗi. Khi ta nghe một bản nhạc, thưởng thức một bức tranh ta rung động theo cảm nhận của tạ Rung cảm này mỗi cá nhân một khác, v́ nó dựa theo các quan niệm, thành kiến sẵn có. Nếu tôi thích nhạc Mozart, th́ tất cả các nhạc sĩ khác đều khó có thể so sánh với ông này. Dĩ nhiên người mê Beethoven không đồng ư như thế. Tóm lại, sự rung động của tôi đă có thành kiến, v́ như thế tôi mất đi nhạy cảm đối với sự sáng tạo. Một người nghệ sĩ sẽ trở nên một cái máy nếu y chỉ biết phục vụ cho bản ngă, làm việc để phô trương cá nhân, để thoa? măn dục vọng thay v́ để sáng tạo. Y chỉ biết “tôi viết”, “tôi soạn nhạc”, “tôi vẽ”, “tôi sáng tác”, v…v… Từ phút đó, y mất đi khả năng sáng tạo tuyệt vời mà chỉ c̣n là cái xác không hồn. Sự thành công, lời khen tặng, làm căng phồng bản ngă của y và làm lu mờ sự rung động với cái đẹp thật sự. Cái tinh thần ham lợi, háo danh đó không phải là tinh thần yêu cái đẹp, mà bắt nguồn từ sự khao khát dục vọng. Dục vọng đ̣i hỏi một sự bảo đảm an toàn, do đó người nghệ sĩ đâm ra sợ hăi. Từ đó, y xây một bức rào ngăn cách với mọi sự vật khác. Y không c̣n chiêm ngưỡng những cái đẹp nữa. Dĩ nhiên, cái đẹp vẫn c̣n đó nhưng ḷng y đă khô héo v́ thành kiến, và xu hướng biệt lập. Thay v́ nh́n sự vật như một thực tại, y lại nh́n nó qua một h́nh thức sưu tập, chiếm hữu biến nó thành một đồ vật. Người nghệ sĩ chân chính chỉ biết sáng tạo, chúng ta chỉ biết thưởng thức. Chúng ta đọc sách, nghe nhạc, ngắm các tác phẩm nghệ thuật nhưng chúng ta không hề có cái rung động sâu xa của người sáng tạo. Muốn ca hát ta cần có một bản nhạc, nhưng v́ không có bản nhạc tuyệt diệu, chúng ta đâm ra theo đuổi ca sĩ. Thiếu sự trung gian này, ta thấy mất mát. Trước một vẻ đẹp, ta lại có ư so sánh nó với một bức tranh; trước một âm thanh thiên nhiên ta lại chỉ tưởng tượng đến một bản nhạc nào đó. Ta chỉ c̣n biêt rung động qua sự rung động của kẻ khác. Đó không phải là sáng tạo.

Giáo sư Mortimer lắc đầu :

- Muốn sáng tạo, ta cần một tài năng, thiên tư chứ đâu phải ai cũng có thể sáng tạo, đâu phải ai cũng có tài…

Harishchandra lắc đầu :

- Không phải thế, ai cũng có thể sáng tạo mà không cần tài năng đặc biệt, v́ sự sáng tạo là trạng thái tuyệt vời của nghệ thuật. Không bị ảnh hưởng của bản ngă. Sáng tạo không có nghĩa là soạn nhạc, làm thơ, vẽ tranh, nhưng là một trạng thái mà trong đó Sự Thật có thể biểu hiện. Sự Thật chỉ có thể biểu hiện khi tư tưởng ngưng đọng lại. Và tư tưởng chỉ ngưng đọng lại khi bản ngă vắng mặt. Khi tâm hồn hoàn toàn tĩnh lặng, không bị thôi thúc bởi dục vọng, khả năng sáng tạo sẽ tự biểu lộ. Khi “cái ta” không c̣n nữa, th́ tất cả là một sự hợp nhất thiêng liêng. Cái đẹp có thể được diễn tả trong một bài thơ, bản nhạc, nụ cười hay trong sự im lặng. Phần lớn con người không có khuynh hướng yên lặng. Chúng ta không có thời giờ quan sát đám mây trời, buổi hoàng hôn, một ngọn núi hùng vĩ, một bông hoa hé nở ,v́ đầu óc chúng ta quá bận rộn, quay cuồng. Mắt ta nh́n cảnh nhưng ḷng ta không rung động chút nào, v́ c̣n mải mê theo đuổi những ảo ảnh. Đôi khi ta cũng có cảm giác rung động khi nghe một bản nhạc hay, nhưng nếu ta cứ nghe đi, nghe lại bản nhạc đó để t́m lại cảm giác ban đầu th́ ta đă vô t́nh giết chết sự sáng tạo. Người nghệ sĩ chân chính là người mở rộng tấm ḷng để cảm hứng đến một cách tự nhiên, là người nh́n thấy Chân, Thiện, Mỹ ở khắp tất cả mọi nơi, chứ không phải qua khả năng hồi tưởng hoặc qua một chất kích thích. Người nghệ sĩ chân chính sáng tạo v́ ḷng yêu cái đẹp, chứ không phải v́ tác phẩm sẽ đem lại cho y tên tuổi, tiền bạc, địa vị. Làm thế là đồng hoá cá nhân ḿnh vào đối tượng. Bất cứ ai biết rung động trước cái đẹp đều là nghệ sĩ, đều là người sáng tạo v́ cái cảm giác chân thật, tuyệt vời đó chính là một sự “giác ngộ”, một sự hợp nhất. Cái cảm giác đó không thể tự tạo hay t́m được, mả nó đến và đi một cách tự nhiên…

- Phải chăng ông đă có kinh nghiệm đó ?

- Trong một buổi tham thiền, tôi ư thức được điều này, và từ đó tôi nh́n thấy cái đẹp ở bất cứ mọi nơi. Tôi sống trong tâm thức này và có thể sáng tạo mănh liệt qua bất cứ một phương diện hay h́nh thức nào… âm nhạc, hội hoạ, thơ phú, v…v….

- Ông có thể cho chúng tôi nghe một bài nhạc không ?

Harishchandra mỉm cười, rút trong áo ra một cây sáo trúc rất dài, y đưa sáo lên miệng nhưng rất lâu không một âm thanh nào phát ra. Giáo sư Mortimer sốt ruột :

- Chúng tôi không nghe thấy ǵ cả, ông có thổi sáo hay không đó ?

Đạo sĩ ung dung :

- Các ông chưa biết thưởng thức âm nhạc v́ ḷng các ông c̣n đầy thành kiến, hăy im lặng v́ âm thanh của tôi là sự b́nh an…

Giáo sư Mortimer toan căi, nhưng đạo sĩ đă đưa một ngón tay lên miệng làm hiệu để ông im lặng. Bất chợt giáo sư Mortimer rùng ḿnh, một âm thanh kỳ lạ Ở đâu bỗng phát ra. Một cảm giác b́nh an từ từ thấm nhẹ trong cơ thể và ông thấy ḿnh đắm ch́m trong một niềm hoan lạc khó tả, trong một thế giới lạ lùng của âm thanh. Âm thanh thật chậm, thật êm, nhỏ như tiếng gió th́ thào qua các ngọn cây, như tiếng nước róc rách qua khe suối. Thời gian như ngưng đọng lại.

Khi giáo sư Mortimer giật ḿnh tỉnh lại, th́ âm thanh đă chấm dứt từ lâu. Đạo sĩ vẫn ngồi yên khẻ mỉm cười, cây sáo trúc đặt trước mặt. Toàn thể phái đoàn ngây ngô nh́n nhau không nói nên lời. Giáo sư Mortimer lắc đầu thắc mắc :

- Âm thanh ǵ kỳ vậy ? Liệu ông có thể giải thích được không ?

Đạo sĩ mỉm cười :

- Các ông nên biết, con người có nhiều thể bao quanh xác thân như thể phách, thể vía, thể trí…Các thể này được cấu tạo bằng những nguyên tử rất nhẹ, rất thanh gần như vô h́nh. Âm nhạc tự nó đă có các rung động cùng nhịp với sự rung động của các thể, nên ảnh hưởng rất nhiều đến con người. Âm thanh vừa qua căn bản trên “phần tư âm” , có tác động lên thể trí các ông. Các loại âm thanh dựa trên “phần ba âm” tác động lên thể vía, và “phân nửa âm” tác động lên thể xác. Điều này cũng dễ hiểu thôi, v́ “phần tư âm” thanh hơn nên ảnh hưởng đến các thể nhẹ hơn. Con người chỉ biết tác động của âm nhạc ở cơi vật chất nhưng không hiểu ảnh hưởng của chúng ở các cơi trên. Âm nhạc lưu một dấu vết trên thân thể con người, và trực tiếp ảnh hưởng đến tính t́nh, hành động. Điều này có thể ví như khi ta ném một ḥn đá xuống ao. Khi ḥn đá ch́m nhưng làn sóng vẫn gợn, và lan rộng ra. Một cái lá nổi trên mặt nước chắc chắn sẽ chịu nhiều ảnh hưởng. Hậu quả của âm nhạc c̣n mạnh hơn như vậy. Do đó, việc chọn nhạc để nghe rất quan trọng. Kinh Veda đă nói, “vũ trụ tạo lập do sự phối hợp các âm thanh”. Thánh kinh cũng ghi nhận, “huyền âm xuất hiện trước nhất, và huyền âm ở với thượng đế, huyền âm là thượng đế.”

Phái đoàn nh́n nhau, một lần nữa tu sĩ Ấn giáo đă giải thích một đề tài mới lạ và trích dẫn Thánh kinh, quyển sách không xa lạ với người Âu.

Nhờ âm thanh mà các sinh vật thông cảm với nhau. Quyền năng này rất đơn giản ở loại thú cầm và dân dần trở nên phức tạp ở loài người. Từ ngôn ngữ đến tiếng hát thô sơ chỉ có vài bước và bước này tạo nên âm nhạc. Âm nhạc là một công thức tế nhị, kín đáo để truyền thông nhưng có một tác dụng cực mạnh, có thể làm thay đổi quốc gia, xă hội, truyền thống. Nó c̣n mạnh mẽ hơn các giáo điều, triết lư v́ nó ảnh hưởng đến các thể vô h́nh. Con người chỉ hiểu rằng khi nghe nhạc buồn lâu ngày, ta sẽ trở nên u sầu. Khi nghe nhạc vui ḷng ta thấy phấn khởi. Thật sự ḷng ta chỉ phản ảnh một cách vô thức những đổi thay trong các thể. Từ ngàn xưa , âm nhạc đă giữ một địa vị quan trọng và ảnh hưởng rất lớn từ vua chúa đến thứ dân. Các ông không thấy thời đại nào, âm nhạc càng thay đổi, biến chuyển nhiều th́ thuần phong, mỹ tục càng suy giảm, và xă hội càng đảo lộn hay sao ? Trái lại khi âm nhạc bị hạn chế th́ xă hội đâm ra bảo thủ. Các ông cho rằng âm nhạc là sản phẩm văn hoá, tiêu biểu cho từng thời kỳ. Điều này không đúng lắm v́ lịch sử cho thấy mỗi khi âm nhạc thay đổi là chính trị, văn hoá thay đổi theo sau. Âm nhạc có tính cách xây dựng cũng như huỷ hoại, chỉ có các âm thanh tinh vi do sự sáng tạo chân thành của ḷng vô ngă mới đưa ta trở về quê hương của linh hồn. Muốn sáng tạo các loại nhạc này con người cần phải để cho Chân Ngă sáng chói, cần trau dồi cho tâm hồn tĩnh lặng để hoà đồng với vũ trụ. V́ âm thanh của vũ trụ lúc nào cũng vang lừng cho những người thức tỉnh, người biết thưởng thúuc, biết yêu cái đẹp, biết nghe những huyền âm cao cả trong yên tĩnh vô biên. Hăy yên lặng, các ông sẽ học hỏi nhiều điều mới lạ. Hăy cố gắng nh́n mọi vật như một thực tại, các ông sẽ sáng tạo và khi sống trong tâm thức sáng tạo, các ông đều là những nghệ sĩ, những người biết yêu cái đẹp, biết rung động với Chân, Thiện, Mỹ.

Bác sĩ Bandyo, cựu giám đốc bệnh viện Calcutta, một giáo sư đại học nổi tiếng về khoa giải phẩu. Ông là một bác học Ấn độ đă được đề nghị trao giải thưởng Nobel về y học. Sau một biến cố, ông từ chức, lui về ẩn cư tại một làng nhỏ gần Rishikesh để săn sóc sức khoẻ cho dân chúng tại đây. Ông là người mà thương gia Keysmakers ca tụng và hết sức giới thiệu, nên phái đoàn t́m đến gặp.

Sau vài câu chuyện xă giao, giáo sư Mortimer lên tiếng :

- Chúng tôi nghe nói ông đă từ chức trong trường hợp hết sức đặc biệt. Thương gia Keysmakers dặn chúng tôi nên hỏi ông về việc này. Xin ông vui ḷng cho biết lư do.

Bác sĩ Bandyo im lặng một lúc và trả lời :

- Đây là một câu chuyện đáng lư không bao giờ tôi nói cho ai biết, nhưng v́ có lời giới thiệu của Keysmakers, nên tôi sẵn sàng. Như các ông biết, tôi là một khoa học gia nổi tiếng, trọn đời hiến dâng cho khoa học. Tôi không biết ǵ về Yoga cũng như không hề tin tưởng các sự kiện vô h́nh, huyền bí, mà chỉ tin những ǵ khoa học có thể chứng minh một cách rơ ràng thôi. Là một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh tật miền nhiệt đới, tôi có thói quen là rất thích nghiên cứu các chứng bệnh lạ lùng, khó chữa. Tôi đă điều trị hơn 100 trường hợp lạ lùng mà bác sĩ khác đă bó taỵ Tôi ghi nhận rất kỹ triệu chứng bệnh lư cũng như phương pháp chữa trị và viết vài tài liệu y học để giảng dạy trong các trường y khoa thế giới . Tôi đă nhiều lần đi diễn thuyết về bệnh miền nhiệt đới, và được đề nghị trao giải thưởng Nobel. Dĩ nhiên đó là một vinh dự lớn cho cá nhân tôi và xứ Ấn độ. Một hôm, người ta đưa vào bệnh viện một cô bé chừng mười ba, mười bốn tuổi ǵ đó. Cô bé mắc một chứng bệnh hết sức lạ lùng, chưa từng nghe nói đến. Tôi rất thích thú, dành trọn thời gian nghiên cứu căn bệnh này. Một hội đồng Y khoa gồm các bác sĩ danh tiếng nhất được thành lập để nghiên cứu, suốt mấy tháng liền, chúng tôi ra công chữa trị, nhưng bệnh nhân vẫn không thuyên giảm. Cuối cùng th́ mọi người đành bótaỵ Tôi tuyệt vọng ngồi cạnh bệnh nhân, chờ em bé trút hơi thở cuối cùng. Chưa bao giờ tôi thấy ḿnh bất lực trước sự sống chết vô thường như vậy. Bất chợt trong giây phút đó, tôi bỗng ư thức một điều lạ lùng là sự hiện diện của một bầu không khí tươi mát và êm ái không thể tả. Khắp pḥng bỗng rực rỡ một màu sắc chói sáng và tôi thấy một người đàn bà hiện ra ngay bên cạnh giường cô bé. Thân thể ngài sáng chói hào quang như ḍng nước lấp lánh dưới ánh mặt trời. Trong giây phút đó, tôi bỗng nhận thức ra ngài là đức Mẹ thế gian. Ngài mang nhiều danh hiệu khác nhau như đức mẹ Maria của Thiên chúa giáo, đức Qúan Thế Âm Bồ Tát của Phật giáo, đức Avalokiteshvara của Ấn giáo. Ngài thuộc ngôi hai của thượng đế và biểu hiệu cho ḷng Từ bi, bác ái, luôn luôn đáp lại những lời cầu sinh của chúng sanh. Trong giây phút, ḷng tôi bỗng hoàn toàn thay đổi. Tôi quỳ sụp xuống đất mặc dù suốt đời tôi chưa bao giờ biết cầu nguyện là ǵ. Tôi cầu xin với tất cả ḷng thành kính, xin Mẹ cứu chữa cho bệnh nhân. Tôi phát nguyện trọn đời tôn vinh hoạt động của Mẹ và theo ngài vĩnh viễn.

Bác sĩ Bandyo im lặng như ôn lại quá khứ. Giáo sư Mortimer sốt ruột :

- Rồi sao nữa, cô bé đó ra sao ?

- Các bạn mến, c̣n sao nữa, khi đức Mẹ hành động th́ có bệnh ǵ mà không khỏi. Ngày hôm sau, cả bệnh viện xôn xao v́ tôi đă chữa khỏi bệnh cho cô bé. Tất cả bạn hữu xúm vào trách tôi đă t́m ra cách chữa, nhưng dấu kỹ, chờ mọi người bó tay rồi mới trổ tài. Trường Y khoa yêu cầu tôi công bố phương pháp chữa trị, và đ̣i đặt tên tôi vào căn bệnh đó. Họ tin rằng với phát minh này, chắc chắn giải Nobel sẽ về tay tôi. Các công ty thuốc cũng ồn ào đ̣i tôi công bố loại thần dược. Chẳng những công ty xứ Ấn , mà ngay các công ty ngoại quốc cũng nhất định đ̣i mua trọn bản quyền. Dĩ nihên tôi không thể trả lời và dù có nói cũng không ai tin. Hội đồng Y khoa cực kỳ giận dữ, tin rằng tôi dấu nghề, các bạn thân cũng nhất định chất vấn kỳ được phương pháp chữa trị, và kịch liệt công kích thái độ bất hợp tác của tôi. Bộ trưởng Y tế tiếp xúc với tôi, và cho biết có mười bác sĩ khắp thế giới được đề nghị lănh giải Nobel. Nhưng chỉ một người trúng giải, nếu phát minh của tôi được công bố th́ chắc chắn tôi sẽ lănh giải này. Tôi trả lời rằng chính đức Mẹ hiện ra, và chữa cho bệnh nhân. Tất cả đều cho rằng tôi điên. Sau cùng, giải Nobel năm đó được trao tặng cho một bác sĩ quốc gia khác. Hội đồng Y khoa Ấn độ vô cùng tức giận đ̣i trục xuất tôi. Các bạn đồng nghiệp cũng xa lánh và báo chí xúm vào chỉ trích tôi như một “thầy phù thuỷ”. Các ông thử thưởng tượng , đang là một bác sĩ danh giá nhất xứ, bỗng trở nên một “lang băm hạ cấp” ? Lúc đó tôi hiểu thế nào là vô thường .Tôi không biết phải làm ǵ hơn là cầu nguyện đức Mẹ, giúp cho tôi đủ can đảm để chịu đựng sự bất hạnh này. Tất cả mọi người đều nguyền rủa, chế diễu, chỉ có một người duy nhất tin ở tôi , đó là thương gia Keysmakers. Ông này dùng thế lực bênh vực cho tôi, áp lực Hội đồng Y khoa phải phục hồi danh dự cho một bác sĩ bị vu cáo oan ức. Nhờ ông tung tiền mua chuộc báo chí nên dư luận lắng dịu dần và rồi người ta không c̣n chú ư đến tôi nữa. Trong suốt thời gian khủng hoảng, tôi tin rằng sự kiện này ắt phải có lư do, nên hết ḷng cầu nguyện đức Mẹ. Trong một buổi cầu nguyện, câu trả lời đă đến với tôi qua một linh ảnh. Trong một tiền kiếp xa xôi, tôi là một y sĩ rất có tài nhưng tôi đă phủ nhận các quyền năng huyền bí và chê bai những kẻ có đức tin hay cầu nguyện đức Mẹ, đó là hậu quả mà tôi phải trả ngày nay… Kể từ hôm nh́n thấy đức Mẹ, một sự thay đổi lớn đă diễn ra trong tâm hồn tôi. Từ nhỏ tôi không hề biết đến tôn giáo. Tôi hấp thụ nền giáo dục Tây phương nên tin tưởng tuyệt đối ở khoa học. Sự chứng kiến phép lạ thay đổi tất cả, như người mù bỗng sáng mắt, tâm hồn tôi hoàn toàn khác trước, tôi thấy thanh thản vô cùng và đủ sức chịu đựng sự chế diễu của mọi người. Tôi dành trọn thời giờ để cầu nguyện và phát nguyện đời đời, kiếp kiếp theo chân đức Mẹ, cứu giúp tất cả chúng sanh . Một hôm trong lúc cầu nguyện, ngài bỗng hiện ra mỉm cười, và từ đó tôi thấy ḿnh ngụp lặn trong một thế giới mới lạ. Tôi ư thức được các điều mà từ trước không bao giờ nghĩ đến, tôi chứng kiến rơ ràng các cơi giới khác cũng như sự hoạt động, tiến hoá không ngừng của muôn loài. Nói một cách giản dị hơn, khả năng Thần nhăn của tôi bỗng khai mở. Từ đó, tôi quan sát, học hỏi các cơi giới của Thiên thần. Diễn tả cơi giới vô h́nh bằng lời lẽ thông thường, không thêm bớt là điều rất khó v́ lời nói chỉ có thể diễn tả những ǵ hữu h́nh. Diễn tả những điều không thể diễn tả, dĩ nhiên rất vụng về, nhưng bác sĩ Bandyo đă lưu loát, hoạt bát diễn tả thế giới này như một sự kiện khoa học và hiển nhiên.

Bác sĩ Bandyo nh́n toàn thể mọi người , rồi thản nhiên :

- Có lẽ các bạn không tin tưởng lắm, điều này không quan trọng. Tin hay không là quyền của các bạn. Tôi chỉ muốn chia sẽ với các bạn kinh nghiệm tâm linh này thôi. Nhờ khai mở Thần nhăn, tôi biết chung quanh chúng ta có một thế giới vô h́nh, rộng lớn và có những sinh vật khác sinh sống. Sở dĩ tôi gọi là vô h́nh v́ mắt thường không thể nh́n thấy được, nhưng một ngày nào đó, khoa học sẽ chứng minh được thế giới này. Các sinh vật vô h́nh thường được chúng ta gọi bằng danh từ như Ma, Quỷ, Tinh linh (entities), v…v… V́ không có một kiến thức rơ rệt về các sinh vật này, chúng ta đă gán ghép cho chúng nhiều điều không đúng. Thật ra, các sinh vật này cũng có thứ xấu, thứ tốt, cũng như loài người vậy. Một trong các sinh vật này hợp tác chặt chẽ với đức Mẹ trong các công việc của ngài. Danh từ đứng đắn nhất có lẽ là Thiên thần (Deva). Có nhiều loại Thiên thần, mỗi loại phụ trách một công việc riêng. V́ lư do nghề nghiệp, tôi thường tiếp xúc với các Thiên thần chăm lo sức khoẻ. Tôi xin thuật lại thế giới này cho các bạn… Các thiên thần lo về sức khoẻ thường liên lạc chặt chẽ với những người có trách nhiệm trong việc chăm sóc, chữa bệnh. Điển h́nh là các bác sĩ, ư tá. Một y sĩ có lương tâm chức nghiệp, làm việc để giúp đỡ người khác, luôn luôn được một vị thiên thần hộ mạng. Vị này thường theo dơi, bao trùm chung quanh y sĩ bằng một hào quang sáng rơ và tác động vào trực giác ông này khi điều trị bệnh nhân. Vị thiên thần trấn tĩnh y sĩ và không ngớt phóng ra các hào quang mịn màng như tơ để chuyển sinh khí đến người bệnh. Công việc của vị thiên thần h́nh như dung hoà, pha trộn các sinh lực vô h́nh trong cơi siêu nhiên và sử dụng tư tưởng biến nó thành các sợi tơ ánh sáng tuôn trào vào bệnh nhân. Một bác sĩ tận tâm sẽ có các rung động cộng hưởng với ảnh hưởng này một cách vô h́nh, tự nhiên thu hút các từ điện tinh vi này vào ḿnh, để nó toát ra ở mười đầu ngón tay, và có thể hàn gắn vết thương một cách dễ dàng, mầu nhiệm. Người ta không thể giải thích tại sao một bác sĩ này lại giỏi hơn một bác sĩ kia, mặc dù họ cùng hấp thụ một nền giáo dục như nhau ? Và một bác sĩ giỏi, ta gọi là bác sĩ “mát tay”, nhưng thật ra đó là do tư tưởng vị y sĩ thanh cao, rung động với các luồng thần lực vũ trụ và trở thành một trung tâm vận hà các sinh lực này đến bệnh nhân. Mặc dù y học tự hào đă chữa được nhiều thứ bệnh, nhưng thực ra trên địa hạt siêu h́nh c̣n nhiều vấn đề mà y học phải bó taỵ Một bác sĩ có thể ví như một công cụ của thượng đế cứu giúp chúng sinh; nhưng nếu viên y sĩ không ư thức điều này mà làm các hành động bất nhân th́ y sẽ chịu các hậu quả rất nặng. Lẽ dĩ nhiên, ân phước dồi dào không thể đến với ông, và v́ thế các ảnh hưởng bất hảo sẽ kéo đến ảnh hưởng đến đời sống, chức nghiệp, khả năng của vị này. Nhờ có Thần nhăn, tôi thấy các bác sĩ chuyên phá thai chẳng hạn, lúc nào quanh ông ta cũng có các oan hồn bu kín. Một bác sĩ bất cẩn cũng thế, ông đă lạm dụng quyền năng thượng đế ban cho, làm thương tổn đến bệnh nhân th́ chắc chắn sẽ gặp những điều vô cùng bất hạnh. Từ ngàn xưa, người ta đă biết điều này, nên mới đặt ra lời thề của Hippocrates, đến nay không mấy ai để ư đến chi tiết này. Họ hành nghề như tất cả những nghề nghiệp thông thường khác, không ư thức chức vụ thiêng liêng của ḿnh. Là một bác sĩ chuyên về giải phẩu, tôi có thể lấy kinh nghiệm của ḿnh ra nói : trong cuộc giải phẩu, mạng sống của bệnh nhân hoàn toàn nằm trong tay viên y sĩ, và các thiên thần hộ mạng. Một sơ ư, bất cẩn cũng có thể gây những hậu quả đáng tiếc. Do đó, việc hành nghề y sĩ là một bổn phận, chức vụ thiêng liêng, đ̣i hỏi một lương tâm, một ḷng bác ái và hy sinh lớn lao chứ không thể coi như một nghề nghiệp kiếm sống thông thường.

- Xin ông nói thêm về thế giới thiên thần, ông đă thấy những ǵ ?

- V́ nghề nghiệp, tôi thường quan sát các hoạt động của thiên thần trong bệnh viện, thí dụ như pḥng hộ sinh, nơi các sản phụ chờ giây phút lâm bồn. Nơi đây có một không khí b́nh an, mát mẻ do các thiên thần tạo ra để chào đón linh hồn nhập thế. Đối với cơi vô h́nh, giờ phút này có tính cách vô cùng trang nghiêm, như một cuộc lễ. Vị thiên thần bao trùm y sĩ, y tá trong hào quang và không ngớt di chuyển sinh khí đến người mẹ để giúp bà trong lúc đau đớn. Mọi nghi thức diễn ra thật chính xác, rơ ràng cho đến khi đứa bé lọt ḷng. Khi linh hồn tái sinh, nó có cảm giác bỡ ngỡ như người mê mới tỉnh, linh hồn thấy ngộp thở, tối tăm, nặng nề. Nó cần được trấn an nên khi tiếng khóc chào đời vừa phát ra th́ trong cơi vô h́nh, một ảnh hưởng thanh thoát cũng rung động vào tâm thức đứa bé khiến nó b́nh tĩnh hơn. Vị thiên thần trông coi buổi lễ có một khuôn mặt uy nghi, tâm thức vị này luôn luôn liên kết chặt chẽ với trái tim đức Mẹ. Một niềm ưu ái đối với sản phụ toa? ra từ khuôn mặt của vị thiên thần, và chuyển cho sản phụ dưới h́nh thức một ân huệ để tán dương chức vụ sinh sản cao cả của bà. Lúc đó, tâm thức sản phụ được nâng lên cao hào với ân phước đức Mẹ …

Bác sĩ Bandyo ngưng nói một lúc, rồi thong thả tiếp :

- Các ông đều thuộc phái nam, nên không thể hiểu tâm trạng người mẹ lúc sinh con. Dù hoàn cảnh có khó khăn, đau đớn thế nào, khi vừa nghe con khóc, tất cả người mẹ nào cũng thấy sung sướng vô biên v́ khi đó tâm thức họ đang hoà hợp với ân phước đức Mẹ. Trong tim họ đang phản chiếu sự hiện diện linh động của ngài, chói ngời ḷng bác ái, thương yêu vô tả. Vào giờ phút đó, chính vị thiên thần trông coi buổi lễ cũng nhận được một luồng hào quang. Trong ánh sáng đó, người ta thấy một cái ǵ vinh quang, tươi đẹp, một nguồn an lạc tuyệt vời, tuôn trào đến sản phụ và hài nhị Khi đó vị thiên thần hộ mạng bắt đầu làm công việc giúp đỡ đứa bé, giúp nó điều hoà sự sống đang bị xáo trộn. Ngài phát ra các từ điện bao quanh đứa nhỏ, giống như các bọt xà pḥng để bảo vệ nó chống lại sự Ồn ào bên ngoài. Nhờ đó, đứa bé sẽ thiếp đi trong giây lát, lúc đó vị thiên thần chú tâm điều hoà tâm thức đứa nhỏ để nó thích hợp với hoàn cảnh mới.

Bác sĩ Bandyo im lặng như đắm ch́m vào một tư tưởng nào đó, sau cùng ông nói :

- Đối với một đứa bé vừa ra đời, khoa học chỉ lo cho chúng ăn uống, dinh dưỡng đầy đủ mà thôi, chứ không hiểu chúng cần một yếu tố vô cùng quan trọng đó là t́nh thương. Khi thể xác được chăm sóc thế nào th́ các thể khác cũng phải được chăm lo y như vậy; và món ăn cần thiết của các thể này là t́nh thương. Thiếu t́nh thương, đứa trẻ khó ḷng sống sót v́ nhu cầu t́nh cảm đôi lúc c̣n quan trọng hơn các nhu cầu khác. T́nh thương là một yếu tố dinh dưỡng cần thiết để trẻ em nẩy nở tâm lư, tinh thần và chính v́ cha mẹ không lo đủ nhu cầu này, mà các đứa trẻ chậm lớn, thiếu phát triển. Các bệnh tâm lư, thần kinh đều trực tiếp phát nguồn từ đây. Lư do này cũng giản dị thôi, đứa bé h́nh dung vũ trụ theo lối cư xử của cha mẹ đối với nó. Tùy theo nó được yêu hay ghét mà cuộc đời hiện ra đáng ghét hay đáng yêu. Từ lúc sơ sinh, nó nhận được tiềm lực yêu thương từ đức Mẹ, và nếu được yêu thương, năng lực này sẽ phát động mạnh mẽ và nó sẽ trở thành một trung tâm ban răi t́nh thương. Trái lại, nếu nó bị hất hủi, nó sẽ trở nên hung hăn v́ mầm yêu thương đă bị dập tắt rồi. Bổn phận làm cha mẹ là một điều vô cùng thiêng liêng, một trách nhiệm vô cùng quan trọng hơn là việc chỉ lo cho nó đủ ăn, đủ mặc. T́nh thương là một năng lực sáng tạo khiến người thương và kẻ được thương trở nên phong phú. Trên thế gian này, t́nh thương là một thứ mà ai cũng có thể cho mà không sợ phung phí. Một t́nh thương chân thật có giá trị giao hoà, không ǵ có thể thay thế được. Nó không bao giờ gây hư hại, mà chỉ tạo ảnh hưởng tốt lành. T́nh thương là một sinh lực có thể chữa trị tất cả mọi bệnh tật và đây là điều khoa học cần chú trọng đến.

Bác sĩ Bandyo dẫn chứng :

- Sách “Journal of Medecine” có đề cập đến cuộc nghiên cứu của bác sĩ René Spitz, thuộc đại học New York. Hai nhóm trẻ sơ sinh được nuôi dưỡng khác nhau. Nhóm thứ nhất được nuôi dưỡng bởi chính cha mẹ chúng; nhóm thứ hai được giao cho các cô y tá. Tất cả đều được nuôi nấng, ăn uống như nhau chỉ khác ở sự yêu thương. Chỉ vài tháng, nhóm trẻ thứ nhất phát triển mạnh mẽ, lên cân, khoẻ mạnh, trong khi nhóm thứ hai chậm ăn, chậm lớn và đau ốm lung tung. Bác sĩ Spitz kết luận rằng trẻ con cần t́nh thương để có thể phát triển b́nh thường . Khoa học thực nghiệm đă chứng minh như thế, nhưng bậc làm cha mẹ đâu mấy ai dành nhiều thời giờ cho các con ? Họ chỉ lo cho chúng ăn mặc đầy đủ là cảm thấy làm tṛn bổn phận rồi. Cũng v́ thế, xă hội Âu Mỹ tuy vật chất đầy đủ, nền giáo dục rất cao mà lại phát sinh đủ các hiện tượng tội ác, thần kinh, vi phạm luật pháp một cách kỳ dị khác các xứ chậm tiến. Tại sao những nhà thông thái không đặt câu hỏi, phải chăng bậc cha mẹ đă không dành đủ thời giờ cho con trẻ để chúng phát triển b́nh thường?

Phái đoàn im lặng. Họ thấy bác sĩ Bandyo quả rất có lư trong vấn đề này. Giáo sư Mortimer lên tiếng :

- Hăy trở lại vấn đề các thiên thần, họ c̣n ảnh hưởng ǵ đến đời sống con người nữa không ?

- Các thiên thần ít khi nào can thiệp vào đời sống con người. Thật ra, họ vô cùng bận rộn với các sinh hoạt riêng biệt. Thế giới của họ cấu tạo bằng các nguyên tử thanh, nhẹ, có sức rung động rất nhanh, nên họ không thích dính dáng vào thế giới hữu h́nh, vốn có những rung động thô kệch. Điều này có thể ví như các ông đang sống ở một nơi mát mẻ, sạch sẽ, không lư nào lại chui vào chỗ hôi hám, nóng bức làm ǵ.

Giáo sư Allen ṭ ṃ :

- Ông có thể sử dụng khả năng thần nhăn vào các việc khác như thế giới bên kia cửa tử được không ?

Bác sĩ Bandyo mỉm cười :

- Bạn mến, trước hết tôi xin xác định rằng chết không phải là hết, mà chỉ là một giai đoạn di chuyển từ kiếp sống này sang kiếp sống khác. Con người chỉ rời bỏ thể xác này thôi. Sự chết không có ǵ đáng sợ như người ta vẫn nghĩ.

- Như thế người chết có thấy chúng ta không ?

- Họ nh́n thấy chúng ta qua thể vía mà thôi. Do đó, họ biết được t́nh cảm hoặc ư nghĩ, cảm xúc của ta mặc dù họ không c̣n nghe được lời nói, âm thanh cơi trần nữa.

- Như vậy họ vẫn ở gần người sống ?

- Lúc mới từ trần, c̣n quyến luyến, họ vẫn ở nguyên chốn cũ, gần nhà cửa, gia đ́nh, những người thân. Theo thời gian, họ ư thức được cơi giới mới rồi siêu thoát, nghĩa là hoà nhập với cơi giới mới, không quanh quẩn ở cơi trần nữa. Sự quyến luyến rất có hại cho người chết, nhất là những người chết bất đắc kỳ tử. Họ c̣n nhiều dục vọng, ham muốn, nên cứ quanh quẩn ở cơi trần, không chịu đi đâu hết.

- Số phận trẻ em khi chết ra sao ?

- Chúng ít ham muốn, dục vọng, nên thảnh thơi, tự tại hơn. Lúc đầu chúng vẫn quanh quẩn, nô đùa quanh cha mẹ, và không ư thức sự chết của ḿnh. Chúng tái sinh rất mau lẹ và thường hay trở lại gia đ́nh cũ v́ các nhân duyên từ trước. Thí dụ như một bà mẹ xẩy thai do sự bất cẩn của bác sĩ chẳng hạn. Đứa bé vẫn tiếp tục quanh quẩn bên mẹ chúng và sẽ đầu thai trở lại khi có dịp. Trong trường hợp phá thai lại khác, đứa bé không hiểu tại sao mẹ nó lại ghét chúng và làm hại nó như thế ? Nó quanh quẩn gần đó một cách đáng thương và t́m cách hỏi mẹ chúng nhưng dĩ nhiên không t́m được câu trả lời.

- Người Á châu thường tin rằng các vong linh thân nhân có thể giúp đỡ người sống và có các quyền năng đặc biệt, v́ vậy, có tục lệ thờ cúng tổ tiên. Theo ông th́ điều này ra sao ?

Bác sĩ Bandyo cười lớn :

- Theo sự hiểu biết của tôi, con người khi sống ra sao th́ chết cũng thế thôi. Không có ǵ thay đổi hết! Họ không thông minh hơn, hiểu biết hơn. Hơn nữa, âm dương cách trở, họ khó có thể giúp ǵ cho người cơi trần. Dĩ nhiên, họ rất muốn tiếp xúc với thân nhân c̣n sống, nhưng người sống đâu ư thức ǵ đến sự hiện diện của họ. Đó cũng là lư do người chết rất đau khổ. Hơn nữa, người chết đọc được tư tưởng người sống qua thể vía và đôi lúc biết rơ sự thật c̣n làm họ đau khổ hơn nữa. Thử tưởng tượng cha mẹ đọc được tư tưởng đứa con mừng rỡ khi cha mẹ chết v́ được hưởng gia tài. Người chồng mừng rỡ v́ vợ chết rồi, từ nay tha hồ tự do, muốn làm ǵ th́ làm. Người chồng thấy vợ mừng chồng chết v́ đă trút được gánh nặng. Các ông nên biết, người đau khổ nhiều, phần lớn là người chết, chứ không phải người sống. Do đó, họ cần được an ủi, chỉ dẫn.

- Nhưng làm sao an ủi họ được ? Ông vừa nói âm dương cách trở kia mà ?

Bác sĩ Bandyo mỉm cười :

- Có nhiều cách giúp đỡ người chết, một cách tiêu cực và một cách tích cực. Đối với thân nhân người chết, họ có thể làm một cách tích cực như giúp cho người chết thấy thoải mái, nhẹ nhàng để họ mau siêu thoát. Việc thứ nhất nên tránh than khóc, kêu gào, để người chết khỏi xúc động, thương tiếc, và quyến luyến, khó rời cơi trần được. Việc thứ hai là tránh cỗ bàn, mổ gà, làm thịt v́ như thế chỉ kêu gọi các vong linh bất hảo, các cô hồn đói khát kéo đến đầy nhà gây ảnh hưởng xấu đến người chết. Nên cầu nguyện trong suốt 49 ngày liền, v́ đây là lúc người chết đang ở trong trạng thái quan trọng, sự cầu nguyện khiến đầu óc họ trở nên sáng suốt, hiểu biết dễ siêu thoát. Nên thiêu xác thay v́ chôn cất, để người chết không thấy đau khổ khi nh́n thể xác ḿnh hư thúi, bị ḍi bọ đục khoét. Khi không c̣n lưu luyến thể xác, họ sẽ dễ siêu thoát hơn. Tại Ấn độ, tất cả người chết đều được hoa? táng, đó là phong tục rất tốt, v́ khôgn c̣n các vong hồn quanh quẩn các nghĩa địa nữa. Việc tích cực giúp đỡ thường do các tu sĩ đảm trách. Họ xuất vía sang cơi chết để an ủi, hướng dẫn vong linh. Tu sĩ đảm nhiệm việc này phải phát nguyện phụng sự hoàn toàn, phải trải qua một thời gian huấn luyện để giữ tâm trí luôn sáng suốt, v́ cơi chết có nhiều cảnh ghê rợn với các sinh vật lạ lùng, một người thiếu kiến thức, hiểu biết, có thể kinh hoàng ghê sợ. Chỉ khi nào có thể tự chủ hoàn toàn, không bị ảnh hưởng bên ngoài làm giao động, tâm hồn luôn yên tĩnh không lo âu, sợ sệt và có một t́nh thương hoàn toàn rộng răi đến tất cả, không c̣n phân biệt, th́ sự giúp đỡ mới kín đáo, vô tư và có hiệu quả. Các ông nên nhớ, qua cơi này, sinh vật có thể đọc được tư tưởng lẫn nhau nên một lời nói không chân thật, tinh khiết có thể mang đến hậu quả không thể lường được.

- Tại sao ông biết rơ như thế ?

Bác sĩ Bandyo mỉm cười :

- Tại v́ tôi đang được huấn luyện để làm việc này. Sự khai mở thần nhăn giúp tôi thu thập kiến thức về cơi giới vô h́nh. Từ đó, tôi nhận thức sứ mạng đức Mẹ đă giao cho tôi. Tôi đă phát nguyện dành trọn đời để thực hiện thiên ư. Đó là lư do tôi từ bỏ đời sống quay cuồng của đô thị để đến đây. Ban ngày, tôi là một bác sĩ chăm lo săn sóc những người bệnh. Thời giờ c̣n lại tôi phục vụ đức Mẹ qua các công việc ngài giao phó. Các bạn thân mến, trọn cuộc đời, chưa lúc nào tôi sống thật trọn vẹn như bây giờ.

 

 
Chương 7

Vị Đạo Sĩ Có Thể Chữa Mọi Thứ Bệnh

Ram Gopal Mukundar là một đạo sĩ nổi tiếng có thể chữa trị mọi bệnh tật. Ông thành lập một đạo viện (Ashram) ở ngoại ô Rishikesh và có khá đông môn đệ.

Qua sự giới thiệu của bác sĩ Kavir, ông bằng ḷng tiếp xúc với phái đoàn. Ram Gopal có một thân thể cực kỳ tráng kiện trông như một lực sĩ, bước đi của ông vững chăi và uyển chuyển như một mănh hổ. Giọng nói của ông hùng tráng như một tiếng cồng. Hàng ngày, ông dành riêng một thời gian để tiếp xúc với bệnh nhân. Ông yêu cầu phái đoàn ngồi đó xem ông trị bệnh. Bệnh nhân gồm đủ hạng người , từ các bậc thượng lưu, quư phái ngồi trên kiệu đến các loại b́nh dân nghèo đói, lê lết. Họ mang đủ thứ bệnh từ các loại bất trị như ung thư, cùi hủi đến các chứng đau tim, phong thấp, tiểu đường, v..v.. Một bệnh nhân ăn mặc sang trọng, khuôn mặt tái nhợt cho biết y là một phú ông giàu có tại Madras, bị đau tim đă đến thời kỳ trầm trọng. Bác sĩ cho biết nếu lên cơn một lần nữa chắc chắn y không thể sống.

Ram Gopal yên lặng nghe bệnh nhân kể lể rồi cho biết :

- Hơi thở của ông bị đứt quăng nhiều, tôi nghĩ cơn đau tim sẽ tái phát trong một thời gian không lâu nữa.

Bệnh nhân xanh mặt quỳ mọp xin cứu mạng. Ram Gopal thong thả cho biết :

- Ông có thể sống thêm nhiều năm nữa nếu chịu khó điều trị. Chắc hẳn ông đă biết cách trị bệnh của tôi ?

Bệnh nhân im lặng suy nghĩ . Ram Gopal giải thích cho phái đoàn :

- Bệnh tật là kết quả của những ǵ trái với thiên nhiên. Sống thuận theo thiên nhiên không thể có bệnh. Con người bẩm sinh đều khoẻ mạnh, họ mắc bệnh v́ các thói quen, lối sống không hợp tự nhiên, rồi theo thời gian tiêm nhiễm vào cơ thể làm suy nhược. Khi bệnh mới phát ra, con người ỷ lại vào thuốc men, các phát minh khoa học. Tiếc thay, lối này chỉ có thể tạm thời cầm giữ bệnh tật cho nó không phát lên chứ không trừ tuyệt căn. Y khoa Tây phương chỉ ngăn chận bệnh tật không làm nguy hại đến tính mạng trong một thời gian, rồi sau đó cũng bó taỵ Muốn trừ bệnh hoàn toàn, chỉ có một cách duy nhất là cương quyết trừ tuyệt gốc và người duy nhất có thể chữa được là “chính ḿnh” mà thôi, ngoài ra không có ai khác. Một khi bệnh nhân ư thức được điều này, nhất định theo đuổi cách trị đến cùng th́ hầu như bệnh ǵ cũng có thể chữa khỏi.

Giáo sư Mortimer lên tiếng :

- Xin ông giải thích rơ ràng hơn nữa.

- Cách chữa cũng rất giản dị, việc đầu tiên bệnh nhân phải làm là quyết định xem có theo phương pháp này được không ? Nếu nhất quyết th́ y lập tức từ bỏ tức khắc tất cả gia tài, sự nghiệp, hoàn cảnh gia đ́nh bên ngoài để gia nhập đạo viện cho đến khi hết bệnh.

- Ông muốn nói y phải trở nên một tu sĩ hay sao ?

Ram Gopal bật cười :

- Không phải thế, đây không phải là một đạo viện có tính cách tôn giáo. Tôi không bao giờ bắt buộc ai phải học giáo lư, tin tưởng một số giáo điều, nghi thức hay sùng kính một đấng vô h́nh nào hết. Đạo viện (Ashram) này chỉ có mục đích chữa bệnh. Điều tôi muốn thực hiện là để bệnh nhân phải rời bỏ cái nếp sống cũ, cái hoàn cảnh, nguyên nhân đă khiến y mắc bệnh. Lo nghĩ, phiền năo, dinh dưỡng không đúng cách là nguyên nhân chính của hầu hết các thứ bệnh. Phải dẹp bỏ, dứt sạch tất cả cho tâm hồn thật thảnh thơi, thoải mái, rồi mới có thể chữa trị được. Đó là điều kiện quan trọng nhất của phương pháp này.

- Nhưng việc ǵ phải từ bỏ tất cả, đi dưỡng bệnh một nơi xa cũng có hiệu quả tương tự vậy.

Ram Gopal bật cười :

- Điều này không thể chữa tận gốc được, hoàn cảnh tuy có khác nhưng đầu óc bệnh nhân vẫn c̣n cố chấp, suy nghĩ, lo lắng th́ làm sao dứt được phiền năo? Chỉ có hoàn toàn dứt bỏ, để đầu óc không c̣n bận tâm chút ǵ nữa, để trở nên con người hoàn toàn mới th́ may ra mới có thể chữa hết bệnh được.

- Từ bỏ gia tài, nhà cửa, gia đ́nh đâu phải dễ dàng, mấy ai đă làm được như thế? Nói th́ thật giản dị nhưng nó là cả vấn đề…

- Này ông bạn, nếu chết, ông có mang mấy thứ đó đi theo được không ? Ông cứ việc ôm chặt lấy những thứ giả tạo vật chất rồi để đau đớn dầy ṿ và cái chết quanh quẩn ám ảnh chăng ? Trước sau ǵ cũng mất nó , th́ thà bỏ quách đi có hơn không ? Cách chữa này có thể coi như ta đă chết rồi, đă mất tất cả rồi, và đi t́m cái sống trong cái chết. Nguyên lư của bệnh như sau : con người ch́m đắm trong danh lợi, lo quanh, nghĩ quẩn, tích trữ tài sản mà quên sự vô thường ở đời. Họ chỉ thấy lợi nhỏ mà quên hại lớn. Lo làm giàu vật chất mà quên tu tâm dưỡng tinh thần, v́ thế thân thể suy nhược, tâm trí điên đảo, thần trí bất nhất, lại thêm tửu sắc quá độ, hỉ nộ bất thường, dinh dưỡng coi thường và bệnh tật do đấy mà sinh ra. Khi bệnh c̣n nhẹ, ta không để ư chữa trị, đến khi nó phát ra đe doa. trực tiếp vào đời sống, ta mới hoảng hốt tin tưởng vào các phát minh khoa học chữa trị. Thuốc men chỉ tạm thời ngăn chận khiến cho bệnh chậm tái phát, kéo dài cuộc sống để ta tiếp tục đắm ch́m trong dục vọng, phiền toái một thời gian nữa. Đến khi thuốc men trở nên vô hiệu, bệnh tái phát thật mạnh, th́ khoa học bó tay, và con người chấp nhận sự phải đến sẽ đến, và coi như đó là số mạng. Đây là một lầm lẫn rất lớn mà ít ai để ư. Nguyên nhân chính của bệnh là do sự bận rộn với đời sống hàng ngày, nếp sống càng tiện nghi th́ họ lại càng hết sức lao tâm, lao lực để đạt đến cái tiện nghi hơn nữa. Thêm vào ḷng tham muốn chiếm đoạt, tranh đua để thoa? măn dục vọng nhất thời, khiến cơ thể trở nên mất quân b́nh, phá hoại cơ quan thần kinh. Cơ quan này là đầu mối của mọi thứ bệnh nên theo thời gian, bệnh từ từ ngấm vào tạng phủ khiến con người càng ngày càng lệch lạc, sống nghịch với thiên nhiên, mất đi sự an lạc sẵn có, nói một cách khác, họ mất đi chính ḿnh. Sự xả ly, dứt bỏ tất cả là bước đầu để trở lại cái tinh thần nguyên thuỷ, nó là điều kiện cần thiết để dứt căn bệnh trầm kha của loài người. Có thể đầu óc mới lấy lại sự thăng bằng để họ có thể điều trị…

- Nhưng bệnh tật có nhiều nguyên nhân chứ, ông nghĩ sao về các bệnh do vi trùng gây ra ?

Ram Gopal lắc đầu :

- Trong người khoẻ mạnh, vi trùng xâm nhập thế nào được ? Người sống theo thiên nhiên không thể có bệnh. Vi trùng th́ chỗ nào chả có, nhưng đâu phải ai cũng mắc bệnh như nhau. Nếu vi trùng là nguyên nhân chính th́ tại sao có kẻ mắc bệnh và có người lại không mắc bệnh ? Ngay cả những lúc có bệnh thời khí khiến hàng trăm, hàng ngàn người lăn ra chết; nhưng vẫn có những kẻ sống sót đấy chứ. Tóm lại, thân thể khoẻ mạnh có thể chống mọi thứ bệnh.

Ngay lúc đó bệnh nhân ngửng mặt nói vài câu. Ram Gopal lắc đầu và quay sang phái đoàn cho biết :

- Bệnh nhân này muốn trở về nhà thu xếp công việc khoảng vài tháng đến một năm, rồi sau đó mới đến đây chữa bệnh. Lúc này đang là mùa dệt sợi mà y lại là chủ nhân nhiều hăng dệt. Tôi cho y biết không chịu chữa trị khó ḷng sống qua một tháng nữa.

Giáo sư Allen kêu lên :

- Nhưng nếu bắt từ bỏ tất cả ngay th́ làm sao y có thể thu xếp kịp ?

- Chữa bệnh không phải việc đi chơi. Tôi quan sát thần sắc bệnh nhân rất kỹ và thấy y khó sống lắm rồi. Nếu y mê muội trở về lo thu xếp công việc, th́ đầu óc đă lệch lạc lại càng lo âu thêm, thế nào cũng lên cơn đau tim mà chết. Như các ông thấy điều kiện tiên quyết để chữa bệnh là trị tận gốc và đây là giây phút quyết định sự sống chết. Chỉ có y mới tự chữa lấy cho ḿnh mà thôi. Con người phải hiểu biết để đoạn tuyệt với quá khứ, không thể có lối chữa trị lưng chừng kéo dài thời gian được. Thật ra khoa học đă làm việc này, kéo dài thêm thời gian rồi bó taỵ Đây không phải là lối chữa của tôi.

Bệnh nhân đắn đo suy nghĩ một lúc, y ngập ngừng nói vài câu rồi đứng lên bước vội ra khỏi cửa, không dám nh́n ai. Giây phút quyết định đă trôi qua, Ram Gopal thở dài rồi gọi một bệnh nhân khác vào. Sau buổi khám bệnh, chỉ có một số chấp nhận theo lối chữa lạ lùng này, và được các đệ tử của đạo sĩ đưa vào đạo viện.

Ram Gopal cho phái đoàn biết bệnh nhân chỉ được mang theo một bộ quần áo và tuyệt đối không được tiếp xúc với ai trong thời gian điều trị. Dĩ nhiên, khi hoàn tất việc chữa trị, y có thể rời nơi này theo ư muốn. Một số người sau khi vào đây khong từ bỏ việc đời lại bỏ ra về và số này không phải ít.

Giáo sư Allen thắc mắc :

- Nhưng sau khi vào đây, họ sẽ phải làm ǵ ? Ông chữa trị ra sao ?

- Như các ông đă biết, yếu tố đầu tiên là cương quyết chữa bệnh cho đến khi tuyệt căn mới thôi. Yếu tố này đ̣i hỏi việc xả ly, dứt bỏ tất cả mọi sự. Yếu tố thứ hai là tự ḿnh chữa trị lấy cho ḿnh v́ không ai có thể chữa bệnh cho ai cả. Yếu tố này đ̣i hỏi việc làm chủ các cảm giác của ḿnh để chữa bệnh. Tại đây, bệnh nhân ăn rất ít, thời gian đầu y chỉ uống nước suối và ăn cơm nhạt thôi. Phương pháp này nhắm việc tẩy uế các chất độc trong cơ thể. Một lư do quan trọng gây nên nhiều chứng bệnh là sự ăn uống bừa băi, không tiết độ. Để giúp cơ thể loại bỏ các độc tố đă nhiễm từ lâu. Bệnh nhân chỉ ăn thật nhạt nghĩa là không một chút gia vị, đường hay muối (ghi chú : người Ấn ăn rất nhiều gia vị và rất mặn). Mỗi ngày, bệnh nhân chỉ ăn một lần trước buổi trưa và uống nước vài lần thôi. Uống ít nước giúp cho tim đập chậm lại v́ dung lượng nước qua tim sẽ ít đi. Tim và thận được nghỉ ngơi sẽ giúp cơ thể lấy lại quân b́nh mau chóng, đây là hai cơ quan thiết yếu giữ các vai tṛ quan trọng cho việc phục hồi sức khoẻ. Ăn nhạt khiến gan và dạ dày thải bỏ các độc tố tích tụ trong đó, cứ thế trong khoảng hai tuần lễ là đa số độc tố đă bị khu trục cả. Nếu muốn các ông cứ thử ăn nhạt ít tuần lễ là thấy cơ thể đổi khác ngaỵ Ngoài việc dưỡng sinh đúng cách, bệnh nhân dành trọn thời giờ tập Yoga, để lấy lại quân b́nh cho cơ quan thần kinh, khối óc. Tư thế đầu phải tập là cách ngồi cho ngay ngắn, lưng thật thẳng để luồng hoa? hầu di chuyển không gặp khó khăn. Hai tay buông thỏng trên đầu gối và thở thật tự nhiên, không cố gắng thái quá. Trong khi tập tư thế này, không để tâm xao động, lo nghĩ việc ǵ, phải “vô cầu, vô niệm” mới là đúng cách. Không sử dụng thần chú hay xin xỏ một đấng thần linh nào, mà chỉ cần hết sức tự nhiên, theo thời gian bệnh sẽ từ từ thuyên giảm.

Giáo sư Mortimer thốt lên :

- Chỉ có thế thôi ư ? Như vậy giản dị quá có khó ǵ đâu ?

Ram Gopal thản nhiên :

- Dĩ nhiên , nhưng phải làm thật chuyên cần không gián đoạn trong suốt thời gian tại đây cho đến khi khỏi bệnh.

Mọi người nh́n nhau, họ nghĩ đạo sĩ này phải có một phương pháp ǵ ghê gớm lắm hoặc sử dụng thuốc men ǵ đó để chữa trị, chứ phương pháp ông nói thật tầm thường và có vẻ hoang đường khó tin.

Ram Gopal hiểu ư :

- Khi trở về với chính ḿnh, với con người nguyên thuỷ, hoà hợp với thiên nhiên th́ bệnh tật và sức khoẻ chỉ là những ǵ tương đối, không c̣n tranh chấp nữa. Con người thật của ta vốn sẵn có kia mà, việc ǵ phải g̣ bó, khó khăn mới t́m được. Khi dứt bỏ tất cả, ta trút được một gánh nặng ở tâm hồn. Khi ăn uống đúng cách, ta loại bỏ yếu tố gây nên bệnh tật, và cách tập Yoga giúp ta lấy lại quân b́nh nguyên thuỷ, trở về với con người thật của ḿnh, như vậy là “tự ḿnh chữa cho ḿnh”, không ỷ lại vào một tha lực hay một yếu tố bên ngoài nào hết.

- Nhưng ngoài ra c̣n phải uống thuốc men ǵ nữa chứ ?

Ram Gopal lắc đầu :

- Phương pháp này không sử dụng thuốc men ǵ cả, đó là một phương pháp hết sức tự nhiên và khoa học. Dĩ nhiên, nếu ông chở đến một người bệnh sắp chết hay một kẻ gẫy chân, gẫy tay th́ tôi không thể chữa như thế được. Nói khác đi, nếu một kẻ mắc bệnh thời khí hay các bệnh thông thường th́ họ đă đi kiếm các bác sĩ chữa trị, chứ việc ǵ phải đến đây ? Hầu hết các bệnh nhân đến tận rừng hoang núi thẳm này chỉ là những kẻ đă tuyệt vọng hoặc gặp các chứng nan y mà y sĩ đă bó taỵ Các ông nên biết, cơ thể con người có khả năng làm hồi phục rất nhiệm mầu. Sở dỉ cơ thể suy yếu, bệnh hoạn, v́ họ sống không tự nhiên, có thế thôi. Sống tự nhiên không những giúp thể xác khang kiện, mà c̣n mục đích tối hậu là dẹp bỏ cái “phàm ngă” trở về cái “chân ngă” của ḿnh. Khi từ bỏ được bản ngă thấp hèn th́ ta ung dung, tự tại, thảnh thơi, tiêu diêu cùng trời đất, thiên nhiên, th́ c̣n lo lắng chi nữa ? Trên lư thuyết th́ thật dễ dàng nhưng thực hành lại là cả một vấn đề. Con người quen sống bừa băi, nô lệ dục vọng xác thân quá lâu, đến nổi sinh bệnh, rồi muốn cởi bỏ tất cả đâu có dễ. Quen ăn ngon, mặc đẹp bây giờ ăn vài nắm cơm nhạt, uống vài gáo nước suối đâu phải ai cũng làm được ngay lập tức. Khốn nổi muốn trừ tận gốc phải uống thuốc đắng và thuốc đắng chính là lối sống tự nhiên này.

- Nhưng đă có bằng chứng ǵ về phương pháp này ? Làm sao biết được nhờ thực hành như trên mà bệnh nhân khỏi bệnh, kéo dài đời sống ?

Ram Gopal không tỏ vẻ giận dữ về câu nói bất kính :

- Tôi có hơn ba ngàn môn đệ, tất cả đều là người mắc bệnh nan y sống tại đây. Đa số đă bị các bệnh viện từ chối, v́ không chữa được nữa. Họ vẫn sống nhiều năm nay, hàng ngày cả trăm người đến xin gia nhập đạo viện, và chỉ có một thiểu số cương quyết mới được chấp nhận. Đă thế, nhiều người không qua kỳ thử thách cũng bỏ đi rất nhiều, nhưng trong số những người ở lại, tất cả đều hết bệnh, tuyệt căn. Các ông nên nhớ tôi không nhận một thù lao hay đ̣i hỏi ân huệ ǵ, tôi cũng không tự xưng một danh vọng, chức tước nào hết. Đời sống ở đây hoàn toàn tự túc, và kẻ khoẻ mạnh phải lo trồng tỉa, gặt hái thực phẩm . Quy luật đạo viện không nhận tặng vật dù bất cứ thứ ǵ, nhiều kẻ tỏ ư muốn dâng tài sản, sự nghiệp khi đến đây với hy vọng sẽ được đối xử đặc biệt. Tôi yêu cầu một khi đă dứt bỏ tất cả, th́ hăy bố thí cho người nghèo, hoặc để lại cho con cháu, thân nhân, rồi đến đây với bộ quần áo trên người. Dù bệnh nhân là tiểu vương gia hay kẻ hành khất tôi cũng coi như nhau, mục đích của họ là chữa bệnh và chỉ có họ mới có thể chữa cho ḿnh. Đạo viện được thành lập chỉ để thực hành việc chữa bệnh mà thôi, chứ không phải một nơi giam cầm hay có tính cách tôn giáo. Muốn gia nhập phải tuân theo các điều kiện, nhưng muốn rời đây th́ tùy ư, không hề có sự ngăn cản.

- Nhưng ông có dạy các phương pháp Yoga ?

- Đúng thế, nhưng Yoga là một khoa học, không phải tôn giáo như nhiều người đă hiểu lầm. Ngoài ra tôi chủ trương một lối tu thân cho những người muốn vào cửa đạo nhưng đây cũng không phải là một tôn giáo.

- Xin ông vui ḷng giải thích phương pháp tu này.

Ram Gopal mỉm cười :

- Như các ông thấy, phương pháp dưỡng sinh và tập Yoga có thể giúp con người vượt qua các bệnh tật. Cũng như thế, phương pháp tu thân sẽ giúp con người vượt qua các trở ngại để tiến vào cửa đạo. Có rất nhiều phương pháp tu hành tùy theo quan niệm cá nhân, hoàn cảnh xă hội chung quanh, tôn giáo… Nhưng tất cả đều nhắm mục đích chung là giải thoát. Tôi không quan niệm một phương pháp nào mà để mỗi cá nhân tùy theo sở thích lựa chọn. Tôi chỉ khuyên họ nên sáng suốt kiểm soát cách thức tu hành để tránh các sai lầm thông thường. Như các ông thấy, trên các con tàu lướt sóng ngoài biển khơi bao la, cứ khoảng nửa giờ, vị thuyền trưởng phải nh́n vào bản đồ, xem địa bàn, đo phương hướng để xác định vị trí con tàu. Biết ḿnh ở đâu và đi đến đâu là câu hỏi quan trọng của mọi người trên đường đạo . Công việc tu hành cũng thế, người tu lúc nào cũng phải luôn luôn tự hỏi vê ḿnh, để kịp thời sửa sai các lỗi lầm thông thường v́ sai một ly đi một dặm. Khi con tàu rời bến, một lỗi lầm nhỏ từ khởi điểm có thể làm con tàu đi xa mục tiêu vài chục hải lư. Đường tu cũng thế, một ư niệm sai lầm có thể khiến ta đi vào tà đạo lúc nào không haỵ Phương pháp tại đạo viện không chú trọng đến h́nh thức, mà chỉ nhắm vào kiểm soát thường xuyên quan niệm của người tu đối với bản thân ḿnh, với mọi người chung quanh. Phải tự xét ḿnh, kiểm soát tư tưởng của ḿnh từng ngày, từng giờ, rồi suy ngẫm về bản ngă, chân ngă. Kinh Veda đă dạy, “ta không phải là xác thân vật chất này mà là một linh hồn cao quư, trường tồn, một điểm linh quang của thượng đế.” Nói khác đi, con người là một linh hồn bất diệt c̣n thể xác chỉ là một dụng cụ thô sơ, tạm thời. Người hiểu đạo là người ân cần lo lắng cho linh hồn hơn là cái xác thân tạm bợ. Chân lư này giúp cho người tu tránh các tội ác, các phiền năo, v́ đa số người đều lầm tưởng ḿnh là xác thân nên lo lắng, ch́u chuộng nó đủ điều. Để cho xác thân được sung sướng họ đă không ngần ngại giết nhau, làm hại nhau, lừa bịp lẫn nhau, tóm lại tất cả những ǵ xấu xa, tồi bại. Nếu ư thức được chân lư này th́ ai lại c̣n vơ vét của cải, vật chất làm ǵ, v́ các thứ đó đâu có ích lợi ǵ cho linh hồn. Người hiểu biết đường đạo ư thức linh hồn là ta, là người làm chủ, c̣n xác thân chỉ là con ngựa để ta cưỡi đi trên đường . Người chưa hiểu biết nhận ḿnh là con ngựa và cố gắng thoa? măn các nhu cầu của họ. Họ không ư thức ḿnh là tay kỵ mă kiêu hùng bất diệt mà cam chịu thân phận con vật yếu hèn chịu sự chi phối của thời gian và không gian. Căn bản đầu tiên của người đi trên đường đạo là ư thức ḿnh, duyệt xét đường đi của ḿnh để t́m một lối tu thân hợp lư. Kinh Veda lại dạy rằng, “Ta và người tuy bề ngoài khác biệt nhưng thực sự bên trong lại như nhau, bởi tất cả đều cùng chung một nguồn gốc mà ra”. Chân lư này cho thấy chúng ta đều là hoa trái của một cái cây, cùng chung một gốc, bề ngoài tuy káhc, nhưng bề trong tất cả đều là con của thượng đế. Nếu ư thức được chân lư này th́ ai lại c̣n giận hờn, oán thù, ghen ghét nhau. Có khi nào tay mặt lại cầm dao chém tay trái, có khi nào anh em lại thù nghịch hăm hại lẫn nhau. Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hoá khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta đâu ? Suy luận rằng, “vạn vật đồng nhất”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, v́ họ không hiểu biết, không ư thức hành động của ḿnh, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu. Khi hiểu rằng “nhất bổn tám vạn thù”, ta nh́n vạn vật như chính ḿnh, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ư thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có thượng đê ngự Ở trong. Ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng ḷng thương đến muôn loài. Người tu là người sống thuận hoà với ḿnh và mọi người, sống an lạc với vạn vật trong vũ trụ, sống hoà hợp với thiên nhiên một cách ung dung tự tại. Đó là con đường tu đứng đắn nhất theo sự hiểu biết của tôi.

Ram Gopal nh́n mọi người, rồi mỉm cười :

- Nếu chúng ta tu một thời gian mà thấy ḷng không vui vẻ, phấn khởi, gương mặt không thoải mái, cử chỉ không dịu dàng, lời nói không ôn tồn, tâm hồn không thương mến th́ chắc là ta đă không sống thuận lẽ đạo. Có lẽ ta đă đi vào tà đạo lúc nào mà không haỵ Khi tu hành mà tâm thần rối loạn, thần trí đảo điên, tham lam, sân hận, oán thù, th́ đó là triệu chứng đă đi lạc đường rồi. Nếu biết thế phải lập tức kiểm điểm lại phương pháp tu hành để sửa đổi, và quyết tâm trở lại khởi điểm để bắt đầu lại con đường đạo. Nếu không làm như thế th́ vô phương cứu chữa, cũng như bệnh đă nhập tâm mà c̣n mê say luyến tiếc vật chất, không cương quyết dứt bỏ th́ làm sao c̣n chữa trị được. Này các bạn, giáo lư nào cũng dạy phải thương yêu, tha thứ và giúp đỡ đồng loại nhưng tại sao xă hội lại không như vậy? Tại sao giữa cái biết và hành xử lại có sự trái ngược ? Phải chăng ḷng con người c̣n ham mê vật chất, tuy nghe điều hay lẽ thiệt nhưng ta vẫn để đó, tiếp tục làm các điều càn rỡ. Người bệnh cũng thế, khi mới mắc bệnh không lo chạy chữa mà chờ khi mạng sống bị đe doa. mới cuống lên, thuốc ǵ cũng uống, ai nói ǵ cũng làm, cố sao kéo dài đời sống. Tại sao lại có các điểm tương đồng như thế ? Khoa học công nhận rằng ăn uống điều độ, có thể tránh bệnh tât, nhưng biết rồi để đó, chứ có mấy ai theo ? H́nh như chúng ta vẫn thèm miếng ngon, vật lạ dù biết nó là chất độc. Nếu chúng t chấp nhận tất cả đều là con của thượng đế, tại sao ta vẫn đâm chém, làm hại lẫn nhau ? Nếu chúng ta chấp nhận các loài cầm thú là đàn em bé bỏng, th́ ta phải tránh sát sinh chứ. Tại sao ta vẫn giết hại “đàn em” qua các bữa ăn thịnh soạn ? Phải chăng miếng ăn, v́ béo đă làm ta quên hết rồi ? Vấn đề của cải cũng thế, ta biết chúng chỉ là vật tạm bợ, vô thường khi chết nào có mang theo được; nhưng thực tế, hễ đâu có của cải là nơi đó có tranh chấp lẫn nhau. Hăy nh́n đàn gà trong sân, chúng đang vui vẻ nô đùa nhưng hễ có ném cho nắm thóc, là có xô xát ngaỵ Hăy nh́n bầy chó cùng cha, cùng mẹ âu yếm liếm nhau kia, nhưng chủ ném cho cục xương là cắn nhau tức th́. Loài người thông minh hơn loài vật nhưng của cải, danh vọng, vật chất đa làm họ bất hoà có khác chi loài thú ? Từ mấy ngàn năm nay, con người luôn được hướng dẫn bởi các chân lư cao đẹp. Tôn giáo nào cũng dạy những điều thật tốt lành nhưng tại sao vẫn không thấy có sự tiến bộ? Phải chăng v́ chúng ta chỉ nói chân lư ở đầu môi, chót lưỡi ? Ta đến các thánh đường tôn nghiêm với y phục sang trọng nhất, các lễ vật đẹp đẽ nhất, đọc thuộc ḷng các lời răn chân chính nhất nhưng chúng ta vẫn làm các điều xấu xa, bỉ ổi nhất. Có bao giờ các ông nghĩ về những điều này không ?

Mọi người im lặng nh́n nhau không ai thốt lên lời nào. Ram Gopal mỉm cười :

- Hăy dở Thánh kinh mà xem, đức Jesus đă dạy, “các người đừng quá lo về y phục hay thức ăn. Đời sống không quư báu hơn thức ann và thân thể, không quư báu hơn y phục hay sao ? Hăy nh́n loài chim bay trên trời, chúng không hề gieo cũng không hề gặt, không chứa chấp thực phẩm trong bồ, nhưng cha của các ngươi trên trời vẫn lo cho chúng chu đáo. Các người không quư hơn chim muông hay sao ?” Ḷi dạy thật rơ ràng, giản dị và chắc chắn, các ông đă nghe nói qua nhiều lần rồi, nhưng có lẽ không mấy người hoàn toàn tin tưởng nên thế giới mới có những cảnh chém giết v́ miếng ăn, manh áo.

Một lần nữa, phái đoàn lại ngạc nhiên v́ một tu sĩ Ấn độ sống nơi hoang vu, hẻo lánh dưới chân núi Tuyết Sơn lại trích dẫn Thánh kinh một cách rành mạch cho thính giả người Âu.

Ram Gopal im lặng như suy nghĩ một điều ǵ, sau cùng ông lên tiếng :

- V́ biết rằng của cải, vật chất là nguồn gốc của tội lỗi, cám dỗ nên tại đạo viện này mọi người chỉ được giữ một bộ quần áo trên ḿnh và phải đoạn tuyệt với vật chất hoàn toàn. C̣n lo giữ của tức là c̣n lo mất, quyến luyến vật chất như vậy th́ làm sao giải thoát được. Giữ tiền bạc, của cải hay danh vọng có thể ví như đeo gông vào người, rồi nhẩy xuống sông, chắc chắn sẽ ch́m chứ làm sao bơi lội cho được, phải thế không các bạn ?

Giáo sư Mortimer lên tiếng :

- Ông nói cũng có lư nhưng không hẳn tôn giáo nào cũng lánh xa của cải, vật chất. Đôi lúc họ cần những thứ này để làm các công việc như mua thực phẩm, xây cất thánh đường, v..v.. Tiền bạc có công dụng riêng của nó.

Ram Gopal gật đầu :

- Sử dụng tiền bạc đúng cách là một vấn đề c̣n để nó cám dỗ lại là một vấn đề khác. Chính đức Jesus đă dạy, “kẻ giàu có tu hành chẳng khác con lạc đà chui qua lỗ kim. Một người không thể thờ hai vua, ngươi thờ Chúa hay thờ tiền bạc”. Một người tu hành chân chính không thể nô lệ bạc tiền dưới bất cứ h́nh thức nào. Các ông chắc thắc mắc tại sao tôi cương quyết chủ trương tuyệt sở hữu, gặp nhau hôm nay cũng là một nhân duyên, tôi xin kể một câu chuyện để các ông hiểu tại sao con đường tu hành cho rằng tiền bạc, vật chất là trở lực lớn cho người tụ Câu chuyện như sau : “Một đệ tử quyết tâm cầu đạo, xin học với một đạo sự Sau thời gian học hành chăm chỉ, một hôm sư phụ có việc phải đi xa nên dặn học tṛ ở lại chăm lo tu hành. Học tṛ nghe theo lời thầy, thiền định sớm hôm không hề bê trễ, V́ nếp sống tu hành thanh bần, tu sĩ chỉ có độc mỗi một miếng khố che thân. Nhưng chiếc khố cứ bị chuột cắn rách hoài nên tu sĩ cứ lâu lâu lại phải đi xin một mảnh vải che thân khác. Dân làng thấy vậy, bèn biếu tu sĩ một con mèo để trừ lũ chuột. Tu sĩ đem con mèo về nuôi, từ đó chuột không dám lộng hành nữa, nhưng tu sĩ lại phải lo thêm một phần ăn. Ngoài thực phẩm chay tịnh, tu sĩ phải xin sữa để nuôi con mèo. Một tín đồ thấy vậy bèn t́nh nguyện dâng cúng tu sĩ một con ḅ cái để có sữa nuôi mèo. Tu sĩ vui vẻ nhận con ḅ nhưng nuôi được mèo lại không có rơm cho ḅ ăn. Do đó, ngoài thức ăn khất thực, tu sĩ lại phải đi xin rơm về nuôi ḅ. Dân làng thấy vậy bèn biếu tu sĩ một mảnh đất và dụng cụ canh nông để tu sĩ trồng trọt, nuôi ḅ. Tu sĩ ra công cầy cấy nên rau trổ thật nhiều, ḅ ăn không hết, phải mang bán ngoài chợ. Miếng đất thật mầu mỡ sinh hoa lợi quá nhiều, tu sĩ làm không xuể, phải gọi người đến làng giúp. Lạ thay, miếng đất cứ thế sinh sôi nẩy nở, trồng ǵ cũng tươi tốt và chả mấy chốc trở nên một đồn điền trù phú. Tu sĩ có nhiều hoa lợi bèn xây một đền thờ to lớn, đẹp đẽ, thuê thợ khắc tượng, đúc chuông thật vĩ đại, nhưng thời gian tu hành không c̣n là bao v́ tu sĩ phải lo trông nom đồn điền, lo sổ sách giao dịch buôn bán, kiểm soát nhân công trồng tỉa, rồi có tiền bạc phải lo đầu tư, bỏ vốn mua thêm đất đai, khai khẩn thêm nữa. Một hôm, sư phụ trở về không trông thấy túp lều đơn sơ nữa mà thay vào đó một ngôi đền tráng lệ, nô nức khách hành hương, trong đền ồn ào những tín đồ vừa cúng bái vừa buôn bán. Trông thấy sư phụ, tu sĩ mừng rỡ chạy ra chào. Sư phụ Ôn tồn hỏi tại sao lại có sự thay đổi như thế. Tu sĩ trả lời, 'thưa thầy, thật tâm con muốn tu hành nhưng tại lũ chuột cứ cắn rách áo hoài. Để bảo vệ cái áo con nuôi mèo. Để có sữa cho mèo ăn, con phải nuôi ḅ, và để có rau nuôi ḅ, con phải canh tác. Rồi th́ trúng mùa liên tiếp, sức con làm không xuể nên phải gọi thêm người làm giúp, rồi th́ buôn bán thành công, tiền bạc nhiều thêm, con phải đích thân trông nom mọi việc. Sau đó con cho xây cất đền thờ to tát, đúc tượng thật vĩ đại, con c̣n mướn người lo việc cúng tế, nhang đèn cẩn thận'. Sư phụ thở dài, 'xây cất đền thờ thật to chỉ là trói buộc, nào phải giải thoát. Tụ tập tín đồ cho đông, ồn ào phức tạp, chỉ gây trở ngại cho việc thanh tụ Chỉ v́ một cái khố rách mà con đă đi thật xa, xa hẳn con đường mà ta đă chỉ dạy nhằm việc giải thoát. Con chỉ lầm lẫn một chút mà đă đi lệch lúc nào không hay, trói buộc vào các thứ đó rồi làm sao có thể thoát được ?' ”

Ram Gopal yên lặng như đắm ch́m vào quá khứ, một lúc sau ông nói thật khẻ :

- Các ông thấy câu chuyện thật khôi hài phải không ? Nhưng đó là chuyện thật, v́ tôi chính là vị tu sĩ trẻ đó. Sau khi nghe thầy nói xong, tôi tỉnh ngộ, và hiểu con đường tu hành giải thoát chân chính là thế nào. Tôi lập tức rời bỏ tất cả để theo thầy lên núi Tuyết Sơn học đạo. Suốt mấy chục năm tu hành tinh tấn, sư phụ mới sai tôi đến đây thành lập đạo viện này để chữa bệnh và chỉ dạy đệ tử phương pháp tu thân. V́ kinh nghiệm quá khứ, tôi cương quyết chủ trương kẻ đă tu hành phải tuyệt sở hữu và lúc nào cũng phải tự ḿnh kiểm thảo hàng giờ, hàng phút v́ sai một ly là đi một dặm.

Mọi người ngồi yên tưởng tượng ra cảnh một đạo sĩ trẻ tuổi trước sự cám dỗ của thành công vật chất. Giáo sư Mortimer lên tiếng :

- Theo ông th́ ngoài vấn đề vật chất, người tu c̣n gặp những khó khăn ǵ nữa ? Từ bỏ vật chất có đem lại giải thoát không ?

- Bất cứ một sự cởi bỏ nào cũng làm nhẹ gánh, vật chất là một nô bộc tốt nhưng là một chủ nhân rất xấu. Nhiều người tu vô t́nh quá chú trọng đến tiền bạc mà quên rằng đồng tiền có hai mặt. Nhiều người cho rằng sử dụng vật chất là để phát huy tôn giáo, giúp đỡ các tín đồ có nơi tu học. Dĩ nhiên ,mục đích rất tốt đẹp, nhưng nếu quá chú trọng vào h́nh thức sẽ đưa đến sự xao lăng vấn đề tinh thần. Một tu sĩ cần phải ư thức rằng ḿnh vẫn là kẻ đang đi trên đường, đang cố gắng t́m kiếm chân lư hầu được giải thoát, chứ chưa đi trọn con đường, th́ đừng đ̣i làm những việc to lớn. Họ chỉ nên làm việc một cách nhiệt thành nhưng không nên làm nô lệ cho những công việc này. Một trở ngại lớn trên đường đạo là sự thiếu nhiệt thành, đa số chúng ta đều quen buông lung, do dự, không đủ cương quyết nên sẽ phải trải qua những kinh nghiệm chua cay, khổ sở để học hỏi các bài học quư giá này. Tất cả chúng ta vẫn đồng ư rằng cuộc đời là ảo mộng, phù du, vô thường, gỉa tạo chỉ có con đường tu hành mới là giải thoát thế nhưng tại sao chúng ta vẫn chạy theo vật chất, chả chịu tu tâm dưỡng tánh ?

Giáo sư Mortimer phản đối :

- Người tu hành và kẻ thường khác nhau nhiều, chúng tôi c̣n phải lo sinh kế, kiếm ăn…

Ram Gopal mỉm cười :

- Một ngày có 24 giờ, có lư nào v́ sinh kế mà các ông phải dành trọn để lo việc kiếm ăn. Tại đạo viện này, mọi người chỉ bỏ ra một giờ để trồng trọt các thực phẩm th́ vẫn đủ kia mà. Ta dư ăn th́ lại muốn ăn ngon, đủ sống th́ lại muốn sống cho sang giàu, được giàu sang lại muốn giàu hơn nữa. Rồi ta lại nguỵ biện rằng phải lo kiếm ăn, sinh kế có phải thế không ? Người Âu Mỹ hoạt động không ngừng, coi sự làm việc là nguồn vui, do đó mới sinh lắm bệnh tật, phiền năo, thần kinh suy nhược, v́ nhu cầu tâm linh không thoa? măn. Tại sao ta không hoạt động như thế cho nhu cầu tâm linh?

- Người Âu không thể chấp nhận vấn đề làm việc cho một cái ǵ mơ hồ, cho một viễn ảnh tâm linh không thực tế.

Ram Gopal lắc đầu :

- Khi nào đời sống vật chất trở nên cực kỳ phức tạp, phiền năo th́ con người sẽ ư thức đến vấn đề tâm linh. Đă có nhiều vị tiểu vương, triệu phú từ bỏ tất cả tài sản để vào đây tu hành khi mạng sống của họ bị đe doa. bởi bệnh tật, v́ họ biết không thể ôm lấy tài sản rồi chết. Sau khi từ bỏ tất cả, đầu óc thoải mái thanh thản, họ lại thấy việc trau dồi tâm linh là quư, thế là họ phát nguyện tu hành, sống một cuộc đời trong sạch, ung dung, tự tại. Nếu chỉ là miếng ăn th́ chỉ cần làm việc khoảng một giờ là đủ rồi, nhưng v́ không biết an phận nên mới có các trói buộc vào vật chất, không lối thoát. Các ông cho rằng tu hành chỉ cần ăn mặc đẹp đẽ, đi đến các đền thờ dâng cúng phẩm vật, tiền bạc, đọc vài câu kinh là đă đủ hay sao ? Những cái đó chỉ là h́nh tướng bên ngoài, không có nghĩa chi hết. Ngay cả việc trở nên môt tu sĩ mà không chịu tu thân, trau dồi tâm linh cũng vô ích thôi v́ các phiền muộn đau khổ vẫn c̣n kia mà.

- Như thế th́ thế nào mới là tu hành thật sự ?

- Bước vào con đường đạo là tự sửa ḿnh, thấy ǵ ác không làm, thấy ǵ thiện th́ nhất định làm cho đến cùng. Luôn luôn tự giác, kiểm thảo lấy ḿnh và quan sát, học hỏi không ngừng. Nếu các ông buôn bán, thấy có lợi các ông có dồn sức ra buôn bán nữa không ? Dĩ nhiên là có, th́ việc tu hành cũng thế, tại sao ta không lo cho nhu cầu tinh thần như ta đă lo cho vật chất? Tại sao ta lại cứ hứa hẹn nay mai sẽ sửa tánh, tu thần như người khất nợ vậy ? Tu hành không phải việc chơi mà làm một cách cẩu thả. Đó là một quyết định quan trọng vô cùng. Đừng nghĩ bộ áo có thể làm nên nhà tu, đừng nghĩ ḿnh sẽ được một đấng nào giúp đỡ, đó là một sự hiểu lầm tai hại. Đa số các tín đồ đều mong chờ sự gíup đỡ của đấng ḿnh tôn thờ. Họ cho rằng thuộc ḷng các câu kinh, thi hành vài nghi lễ, dâng cúng các phẩm vật là đă làm tṛn bổn phận và sẽ được cứu rỗi. Nếu điều này đúng th́ các bậc vua chúa đă lên thiên đàng hết cả v́ họ dâng cúng nhiều hơn mọi người kia mà. Tu hành đ̣i hỏi sự tận tâm, tận lực cải thiện con người của ḿnh để xứng đáng là con của thượng đế, chứ không phải dựa vào vài h́nh thức bên ngoài. Đa số tín đồ coi việc tu như đi xe buưt, muốn đến đâu chỉ việc mua vé rồi leo lên xe ngồi, ngắm cảnh vật hai bên đường, ung dung cho tài xế lái, khi đến nơi, là họ xuống xe không chút mệt nhọc ǵ hết. Tu hành chân chính là tự ḿnh cất bước. Thiên đàng không phải nơi mà ta có thể mua vé đến, cũng không thể mong dâng cúng vài thứ mà được các vị thần linh che chở. Giải thoát chỉ đến với sự tinh tấn riêng của từng người . Khi hiểu như thế ta cần lập tức lên đường không chậm trễ. Hăy lấy niềm tin làm bạn đồng hành, tận dụng các cơ hội sẵn có để sửa ḿnh hầu giải thoát cho chính ḿnh. Con đường tu có trăm nẻo đi, không nẻo nào giống nẻo nào nhưng tất cả đều đưa đến mục đích. Sự chọn lựa con đường hoàn toàn do cá nhân nhưng họ cần suy gẫm cẩn thận để khỏi lầm đường, lạc nẻo. Tu hành chân chính dựa trên căn bản “tự biết ḿnh”, v́ trên đường đạo không có vấn đề vinh hay nhục, mà chỉ có sự tiến bộ. Do đó, người tu phải dẹp bỏ tự ái, ngă mạn, mặc cảm, không hổ thẹn, ngă ḷng để tinh tấn tiến bước. Nếu sa ngă lại đứng dậy và tiếp tục, lúc nào cũng định hướng không để cho lầm đường lạc lối. Những kẻ tự cao, tự đại không chịu tu thân sửa ḿnh, thật đáng thương v́ họ giống như người bệnh sắp chết, mà không chịu uống thuốc xả ly, dứt bỏ cho khỏi bệnh.

Ram Gopal ngừng nói, chiều xuống đă lâu chỉ c̣n vài tia nắng vương vấn trên thân thể cực kỳ lực lưỡng của vị đạo sĩ xứ Ấn. Phái đoàn yên lặng bái phục sự giải thích chân lư thật giản dị, khiêm tốn của người mà dân chúng coi là “vị đạo sĩ có thể chữa mọi thứ bệnh”.
 
 
Chương 8

Đời Sống Siêu Nhân Loại

Cuộc gặp gỡ những đạo sư đại diện cho nền minh triết cổ truyền xứ Ấn, đă làm cho phái đoàn phấn khởi, nhưng c̣n các bậc Chân Sư (Rishi), những vị này như thế nào ? Tại sao một vị chân sư bí mật gửi thông điệp cho các đạo sư yêu cầu giúp đỡ phái đoàn ? Đây là một dấu hỏi lớn mà mọi người hết sức thắc mắc. Liệu chúng tôi có thể gặp các bậc chân sư không ? Những vị này ở đâu ? Giáo sư Mortimer đă hỏi giáo Kavir, và ông này cho biết có quen một đạo sĩ tu hành tên Akila Bakhtir vốn thường qua lại nhiều trong dăy Tuyết Sơn và có kiến thức rộng về những hiền triết ẩn tu nơi đây. Phái đoàn bèn t́m đến đạo sĩ này, đó là một ông lăo gầy như hạc, vẻ mặt lúc nào cũng tươi cười.

Giáo sư Mortimer nôn nóng :

- Theo lời truyền tụng th́ ông đă có dịp tiếp xúc với các đạo sĩ Tuyết Sơn ?

Đạo sĩ xác nhận :

- Đúng thế, tôi đă có dịp gặp gỡ các bậc thánh nhân đó.

- Ông tin rằng họ là những thánh nhân ?

- Dĩ nhiên, không những tôi tin mà c̣n biết rơ họ là những bậc hiền giả.

- Dựa vào tiêu chuẩn nào mà ông quả quyết như vậy ? Họ có biểu diễn quyền năng hay làm ǵ khác người không ? Liệu có thể có những bậc siêu nhân như vậy không ?

Đạo sĩ gật đầu :

- Sự có mặt trên thế gian của những bậc thánh nhân là điều hợp lư, nếu ta tin các luật : Luân hồi, Quả báo, Tiến hoá và Nhân quả. Nếu quan sát , ta sẽ thấy con người đều có các tŕnh độ khác nhau. Có người kém ta rất xa, có người lại hơn ta rơ rệt. Nếu nhân loại tuần tự tiến hoá th́ trải qua nhiều kiếp sống, và thời gian, tất phải có những người đă tiến bộ rất xa chứ. Theo tôi biết, đă có những người tiến xa hơn hàng ngũ nhân loại hiện nay, đă khai mở một vài giác quan thượng đẳng, quyền năng siêu việt mà ta gọi là bậc Thánh Nhân. Sự thực, các quyền năng này đều tiềm tàng trong mọi người chúng ta, chờ đợi cơ hội khai mở. Khi khai mở các quyền năng này, ta sẽ thấy rơ các nấc thang tiến hoá của nhân loại và nhận định rằng ở mỗi nấc thang đều đă có kẻ đạt đến. Lịch sử các quốc gia đều chứa đựng công tŕnh vĩ đại của các bậc vĩ nhân trên mọi lănh vực hoạt động. Những người này, trong phạm vi riêng biệt của họ đă vượt xa quần chúng và tầm hiểu biết của những người đương thời. Thí dụ như các bác học, các nhà tư tưởng lớn. Sự tiến hoá chẳng qua chỉ là biểu lộ của sự sống thiêng liêng, con người càng ngày càng trở nên tốt đẹp, tế nhị v́ sự sống vô cùng cần được biểu lộ qua h́nh thể đó. Một bậc toàn thiện là việc tự nhiên, hợp lư do sự kết tinh đến mức tuyệt đỉnh của một con đường tiến hoá dài và liên tục. Tất cả kinh điển mọi tôn giáo đều chứng minh sự hiện diện của các bậc siêu nhân. Mọi tôn giáo khi thành lập đều có các bậc thánh nhân xuất hiện. Người Ấn có các thần linh như : Brahman, Vishnu, Shiva hoặc các đấng cao cả như Krishna, Sancharacharya. Tín đồ Phật giáo th́ có đức Thích Ca, đức Quan Thế Âm. Tín đồ Thiên chúa giáo th́ có đấng Jesus, các nhà tiên tri, các bậc thánh; các bộ lạc man dă cũng có các thần linh riêng của họ.

- Xin ông giải thích rơ hơn về sự tiến hoá này ?

- Luật tiến hoá vũ trụ định rằng mọi vật đêu thay đổi theo thời gian để tiến trên những con đường định sẵn. Dĩ nhiên, đi nhanh hay chậm c̣n tùy cá nhân và hoàn cảnh chung quanh. Loài thảo mộc là kết tinh của loài kim thạch, loài cầm thú sau thảo mộc, và loài người tiếp theo loài cầm thú. Cũng như thế, loài người có một cứu cánh nhất định, một giới hạn mà khi họ vượt qua th́ họ sẽ bước vào một giai đoạn mới. Nói một cách khác, trên loài người là đời sống Siêu Nhân Loại. Trong mỗi con người có ba phần chính : xác thân, linh hồn, và tinh thần. Tinh thần là điểm linh quang tiềm tàng trong mọi con người mà ta gọi bằng nhiều danh từ khác nhau như Phật tính, Chân Ngă, Thần tính, v…v..

- Bằng chứng vào đâu mà ông đưa ra thuyết này ?

- Đây không phải là một giả thuyết, trong sự tu luyện, tôi ư thức được điều này. Các tôn giáo lớn cũng nói như thế. Đức Phật đă nói , “Mọi chúng sinh đều có Phật tính.”. Thánh Paul định nghĩa con người gồm ba phần : xác, hồn, thần… Sự tiến hoá là sự trở về với thượng đế, trở về với con người thật của ḿnh, phát triển Phật tính của ḿnh trọn vẹn, để giác ngộ. Danh từ tuy khác nhưng nội dung đều giống nhau, tôi cố gắng giải thích theo quan niệm mà người Âu có thể hiểu được, sự hợp nhất với thượng đế nghĩa là trở về với ngài v́ chúng ta đều là một phần của ngài. Theo sự hiểu biết của tôi về luật tiến hoá, th́ với con người, thể xác họ đă phát triển khá hoàn hảo, nhưng đa số vẫn chưa chủ trị được xác thân. Một người tiến cao là người đă chủ trị được xác thân, đặt nó dưới sự kiểm soát của lư trí và linh hồn. Một người kém tiến hoá là người c̣n nhiều thú tánh, chỉ lo nghĩ đến các đ̣i hỏi của thể xác như ăn uống, ngủ nghê, dục tính. Chính v́ thế, họ sẽ gặp nhiều đau khổ để học lấy sự chủ trị xác thân. Thế gian là một trường học mà trong đó, có yếu tố đau khổ. Sau khi chủ trị được xác thân , là việc kiềm chế thể vía. Thể vía hay tư tưỏong là điều rất khó kiểm