GIẢI THOÁT TRONG L̉NG TAY
Một bài giảng khúc chiết về con đường đạt đến giác ngộ
(Liberation in the Palm of Your Hand- Aconcise discourse on the path to enlightenment)


Pabongka Rinpoche- Edited by Trijang Rinpoche
Translated by Michael Richards Việt dịch: Thích Nữ Trí Hải dịch
 

 

http://www.thuvienhoasen.org/giaithoattronglongtay-01.htm  

 

   
   
PHẦN MỘT
NHỮNG CHUẨN BỊ SƠ KHỞI
NGÀY THỨ NHẤT

Kyabje Rinpoche, một bậc tướng quân Chánh pháp vô tỷ, đă nói ít lời chuẩn bi cho chúng ta có những động lực thích đáng khi đón nhận những lời giảng dạy tiếp theo. Ngài nói:

Đức Tsongkapa bậc đại nhân, bậc Tướng quân chánh pháp của cả ba cơi, đă nói:

Thân thể vật lư thuận lợi này
Có giá trị hơn cả viên ngọc như ư.
Bạn chỉ được nó một lần mà thôi.
Khó thay được thân người, dễ thay bị mất nó,
Nó như một làn chớp giữa bầu trời.
Hăy quán tưởng điều ấy, rồi bạn sẽ thấy
Mọi hoạt động thế gian chỉ như trấu bị thổi bay
Và bạn phải nỗ lực ngày đêm
để rút ra được một ít tinh hoa từ đời sống bạn
Tôi một ẩn sĩ du già đă tu tập như thế;
Và bạn, người khát khao giải thoát, cũng nên làm như vậy.

Từ thời gian vô thủy, chúng ta đă mang không biết bao nhiêu thân xác cho đến ngày nay, nhưng ta đă không rút tỉa được một tinh túy nào từ những thân xác ấy. Không có một kiểu khổ đau nào mà ta chưa từng nếm trải, cũng không có một kiểu hạnh phúc nào mà ta chưa từng thưởng thức. Nhưng dù ta đă có bao nhiêu xác thân đi nữa, ta cũng đă không rút tỉa được chút tinh hoa nào từ nơi chúng. Bây giờ ta đă có được may mắn mang thân người, th́ ta nên làm cái ǵ để rút tỉa ít tinh hoa từ đó. Nếu không suy nghĩ chín chắn, th́ ta không cho thân người quư báu này có tầm quan trọng chút nào, ta cũng không tiếc nuối ǵ khi lăng phí cơ may được sinh làm người. Có lẽ nếu bị mất tiền, chúng ta sẽ tiếc nuối nhiều hơn. Thế mà cái thân người ta đang đang có lại vô vàn quư báu hơn bất cứ viên ngọc như ư nào cả.

Nếu bạn phải lau chùi một viên bảo châu như ư bằng cách mỗi ngày rửa ba lần, đánh bóng ba lần, rồi đặt trên đỉnh một cái tràng phan của sự chiến thắng, bạn sẽ có được dễ dàng tất cả những sự tốt đẹp của thế gian như đồ ăn mặc ở, vân vân. Bạn có thể được hàng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn viên ngọc như thế, nhưng chúng không thể đem lại cho bạn dù chỉ một điều nhỏ nhất trong những điều bạn có thể thành tựu được nhờ mang thân người trong đời này; bởi v́ bạn không thể sử dụng những bảo châu ấy để che chở ḿnh khỏi tái sanh vào các đọa xứ trong đời sau. Nhưng với thân người hiện tại của bạn, bạn có thể tự đề pḥng cho khỏi sa đọa vào các cơi xấu ác. Hơn nữa, nếu bạn muốn tái sinh làm Phạm Vương, Đế Thích, vân vân, bạn cũng có thể làm được điều ấy nhờ thân người hiện tại. Nếu bạn muốn đi đến những cơi tịnh như cơi trời Thắng lạc (Abhirati), cơi Cực lạc (Sukhàvati) cơi Đâu suất (Tushita), bạn cũng có thể làm được, nhờ cái thân người hiện tại của bạn. Nhưng chưa hết đâu, bởi v́ bạn c̣n có thể đạt đến những trạng thái giải thoát giác ngộ nhờ thân này. Điều bạn cần làm là, hăy tóm lấy cơ hội. Điều quan trọng hơn cả là nhờ thân tái sinh hiện tại mà bạn có thể đạt tới địa vị Kim cuong tŕ (hợp nhất giữa thân như huyễn với đại lạc) trong ṿng đời ngắn ngủi, ngay trong thời đại suy đồi này; một kết quả thông thường phải mất tới ba a tăng kỳ kiếp mới thành tựu được. Như vậy, được tái sinh làm người c̣n giá trị hơn cả ngàn tỷ viên ngọc quư.

Nếu bạn lăng phí cuộc đời này mà bạn đă có được, th́ điều ấy c̣n đáng tiếc hơn là nếu bạn mất đi ngàn viên ngọc báu. Không có sự mất mát nào lớn hơn sự mất mát này; không có sự mù quáng nào hơn sự mù quáng này, không có sự lầm lạc nào hơn sự lầm lạc này. Shantideva có nói:

Không có sự mê lầm nào tệ hơn
Nếu không sử dụng thân này để tu tập
Sau khi đă được thân người như một cơ may hiếm có
Không có sự mù quáng nào lớn hơn thế nữa.

Bởi thế bạn phải nỗ lực rút tỉa một ít tinh túy từ cuộc đời này ngay bây giờ. Dù thế nào đi nữa, chắc chắn bạn sẽ phải chết, và bạn không biết được lúc nào th́ cái chết đến với ḿnh.

Hiện tại chúng ta đang theo học Pháp, nhưng trong ṿng một trăm năm nữa, không ai trong chúng ta c̣n sống sót. Trong quá khứ, bậc Đạo sư của chúng ta là Đức Phật, nhờ đă tích lũy công đức và trí tuệ trải vô số kiếp mà được thân Kim cương bất hoại. Tuy thế, đối với con mắt phàm th́ ngay cả Ngài cũng đă nhập niết bàn. Sau Ngài có nhiều học giả, luận sư, dịch giả và những bậc hiền trí ở Ấn cũng nhưng Tây Tạng, nhưng tất cả các vị ấy cũng đều đă từ giả cuộc đời này. Không c̣n ǵ về họ ngoài ra danh hiệu và những ǵ mà người ta c̣n nói về họ. Tóm lại là bạn không thể đưa ra một ví dụ nào chứng minh vẫn c̣n có người được cái chết buông tha. Thế th́ làm sao riêng bạn có thể sống hoài không chết? Bạn không hy vọng ǵ thoát khỏi chết.

Không những chắc chắn bạn phải chết, mà bạn c̣n không biết chắc lúc nào th́ cái chết đến với bạn. Bạn không biết chắc năm tới bạn c̣n sống trong thân xác này không, c̣n mang ba y tỷ kheo không nữa. Vào ngày này năm sau, có thể rằng các bạn đă tái sinh thành một con thú mang lông đội sừng cũng nên. Hoặc các bạn cũng có thể tái sinh làm một ngạ quỷ, phải sống mà không kiếm được một chút ǵ để ăn, cũng không t́m được một giọt nước uống. Hoặc các bạn cũng có thể tái sinh vào địa ngục, phải chịu đựng những nỗi khổ nóng, lạnh, bị luộc trong nước sôi hay thiêu trong lửa đỏ.

Tâm bạn vẫn tiếp tục sau khi chết, nên nó phải chấp nhận tái sinh. Chỉ có hai con đường luân chuyển cho tái sinh, đó là đường đi lên các cơi cao và đường đi xuống các đọa xứ. Nếu bạn tái sinh vào Địa ngục vô gián, th́ bạn phải ở đấy với một thân thể tràn khắp hỏa ngục, không khác ǵ với hỏa ngục ấy, trong những địa ngục nhẹ hơn, như Địa ngục Sống Lại liên tục, th́ bạn chết đi sống lại mỗi ngày hàng trăm lần, liên tục chịu những cực h́nh. Làm sao có thể chịu đựng điều ấy khi mà bàn tay bị bỏng một chút bạn đă không chịu nổi? Ấy vậy mà ta sẽ phải đau đớn như thế đấy, hệt như thân thể hiện tại của ta phải chịu đựng cơn nóng bức. Chúng ta có thể tự hỏi, “Phải chăng khi vào đấy sẽ dễ chịu đựng hơn, nỗi đau đớn không nhiều như ta tưởng?”nhưng không phải thế đâu.

Nếu tái sinh làm ngạ quỷ, bạn sẽ không kiếm được một giọt nước trải qua nhiều năm. Bây giờ bạn thấy khó chịu nổi một kỳ nhập thất nhịn đói, th́ làm sao bạn chịu nổi tái sinh làm ngạ quỷ? C̣n tái sinh làm súc sinh, chẳng hạn làm con chó. Bạn hăy xem kỷ những chỗ chó thường ở, cách chúng kiếm ăn, hoặc loại thực phẩm mà chó thường t́m được. Bạn có nghĩ rằng bạn chịu nổi kiểu sống như vậy không? Bạn có thể nghĩ rằng, các đọa xứ thật quá xa vời quá. Nhưng kỳ thực, sở dĩ bạn thấy ḿnh c̣n xa xôi với các đọa xứ, chỉ là v́ bạn đang c̣n thở được.

Nếu không suy xét kỹ, th́ chúng ta không bao giời ngờ rằng ḿnh có thể đang đi đến các đọa xứ. Chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta có phần nào tuân giữ giới luật, tụng kinh hàng ngày, không vi phạm tội lỗi nào trầm trọng như giết người cướp của. Phiền một nỗi là, ta đă không nh́n sự việc một cách thích đáng. Nghĩ kỹ lai mới thấy rằng ta không có tự do để chọn lựa ḿnh có đi xuống những cơi tái sinh thấp hay không. Điều này được định đoạt bởi nghiệp lực của chúng ta. Trong ḍng tâm thức của chúng ta, có những nghiệp xấu tốt lẫn lộn. Vào lúc ta chết, thứ nào mạnh hơn trong hai thứ này, sẽ được châm ng̣i bằng tham ái và chấp thủ. khi nh́n lại ḍng tâm thức của ta xem thói nào mạnh hơn, ta sẽ thấy rằng khuynh hướng bất thiện thắng lướt. Mức độ mạnh yếu được định đoạt bở năng lực của động lực hành động, bởi việc làm, và bởi bước cuối cùng. Như vậy, mặc dù ta có thể nghĩ là ḿnh chỉ làm những điều ác nhỏ nhặt không đáng kể, song kỳ thực sức mạnh của nó rất lớn lao.

Ta hăy lấy ví dụ. Giả sử bạn la rầy đệ tử. Bạn bị thúc đẩy bởi cơn hằn học (động lực), c̣n việc làm là, bạn sử dụng những từ ngữ gay gắt nhất làm sao cho họ phải đau đớn. Về giai đoạn cuối là, bạn cảm thấy kiêu hănh và bản ngă căng phồng lên, thấy ḿnh quan trọng. Ba phần này - động lực, việc làm, bước cuối - thật làtoàn vẹn, không thể nào toàn hảo hơn thế! Hoặc giảkhi bạn giết một con rận. Động lực của bạn là sự thù ghét mănh liệt. Bạn lăn tṛn nó giữa hai ngón tay, hành hạ nó một hồi lâu, rồi cuối cùng mới giết nó. Bước cuối cùng trở nên cao ngạo, cảm thấy ḿnh làm như vậy có lư lắm. Thói ác đă trở thành cường liệt qua ba giai đoạn ấy.

Chúng ta cứ tưởng đức độ của ḿnh lớn lắm, song kỳ thực nó yếu x́u. Nếu thiện tính nơi ta thực mănh liệt, th́ ba giai đoạn của việc lành - động lực - việc làm, bước cuối tức phần hồi hướng công đức - phải được thực hiện một cách thuần tịnh. Ngược lại sự thanh tịnh là những công đức “do ta làm.” Trước tiên, có động lực thúc đẩy ta hành thiện. Tôi nghĩ hiếm khi chúng ta làm việc lành v́ khao khát có được một tái sinh tốt hơn - chỉ một động lực tối thiểu như thế c̣n không có, nói ǵ đến động lực tốt nhất, tức bồ đề tâm hướng đến giác ngộ, hay tốt nh́ là sự từ bỏ. Ngay từ đầu, chúng ta thường ao ước thành tựu những nguyện vọng liên hệ đến chuyện ăn, mặc ở trong đời này mà thôi. Bất cứ lời nguyện nào ta làm để được mục đích ấy quả thực là tội lỗi. C̣n về phần chính hành động, th́ mọi việc làm của ta c̣n có tính cách chiếu lệ; chẳng hạn niệm một chuỗi OM MAI PADME HUM ta cũng không chuyên chú cho hết chuỗi. Hoặc ta ngũ gục hoặc ta suy nghĩ mông lung. Thật khó mà tập trung dù chỉ trong thời gian đọc một lần câu thần chú Một trăm vị chư thiên ở cơi Đâu suất. Và khi đến giai đoạn hồi hướng, th́ ta lại thụt lui, hướng những ước nguyện ta về cuộc đời này. Bởi thế, mặc dù chúng ta tưởng ḿnh làm công đức lớn, kỳ thực những công đức ấy rất yếu ớt.

Đôi khi chúng ta không làm công việc một cách thích đáng; khi khác ta lại bỏ qua những động lực và bước cuối; và có những lúc chúng ta không thực hiện một giai đoạn nào trong ba giai đoạn ấy một cách thích đáng cả. Bởi thế chỉ có nghiệp bất thiện trong ḍng tâm thức của chúng ta là rất cường liệt mà thôi; chính nó là yếu tố duy nhất có thể làm được khởi động khi ta chết. Và nếu đấy là điều thực sự xảy ra th́ chúng ta chỉ c̣n nước tái sinh vào các đọa xứ, đó là cái chắc. Chúng ta lại bảo, các thầy của chúng ta có khả năng bói toán, ta sẽ xin thầy tiên đoán xem ta sẽ tái sinh về cơi nào. Chúng ta cảm thấy nhẹ nhơm nếu được thầy tiên đoán sẽ có tái sinh tốt đẹp, và đâm ra lo sợ nếu thầy bảo là xấu lắm. Nhưng làm sao ta có thể đặt tin tưởng vào những chuyện bói khoa ấy? Chúng ta không cần bói bằng xúc xắc, coi thầy, hay xem thiên văn lư số để biết đời sau ta sẽ đi về đâu. Đấng Đạo Sư đầy từ mẫn của chúng ta đă tiên đoán cho ta trong Kinh tạng, và ta cũng được nhiều bậc hiền trí uyên bác ở Ấn cũng như Tây Tạng, chỉ bảo cho biết. Chẳng hạn bậc thánh Long Thụ (Nagarjuan) đă nói trong phẩm Chuỗi ngọc quư rằng:

Từ bất thiện, phát sinh mọi đau khổ và tất cả các đọa xứ.
Từ đức hạnh phát sinh mọi cơi cao và những tái sinh đầy phúc lạc.

Chúng ta không thể chắc chắn về những chuyện như kiếp sau ḿnh sẽ đi về đâu. Nhưng bậc Đạo Sư của chúng ta đă thấy rơ và đă giảng dạy một cách không lầm lẫn. Chúng ta chỉ có thể tin được nhờ suy luận, và ta nên tin tưởng sự công bố chân chính của đức Phật về vấn đề này.

Bởi thế, nếu điều chắc chắn là ta sẽ bị đọa, th́ ngay từ giờ phút này ta phải t́m phương thế ǵ ngăn chuyện ấy khỏi xảy đến. Nếu thực t́nh muốn thoát khỏi các đọa xứ, chúng ta phải t́m một chỗ nương tựa che chở cho ta. Như một kẻ tử tội sẽ t́m sự bảo bọc của một quan chức có ảnh hưởng lớn để thoát khỏi tử h́nh. Nếu ta bị nhiễm ô v́ nghiệp ác không thể dung thứ, những tội lỗi ta đă làm th́ ta có nguy cơ chịu sự trừng phạt của luật nhân quả nghiệp báo và đi đến các đọa xứ. Ta nên t́m chốn nương tựa là Ba ngôi Báu Phật, Pháp, Tăng, v́ chỉ có ba ngôi báu này mới có thể che chở chúng ta khỏi rơi vào đọa xứ. Nhưng t́m nơi nương tựa mà thôi th́ chưa đủ, ta phải thay đổi cách hành xử của ḿnh cho hợp với giáo lư về sự quy y. Nếu chư Phật có thể xóa hết tội lỗi nghiệp chướng của chúng ta chẳng hạn bằng cách lấy nước rưới đầu, hay đưa tay dắt dẫn, th́ các ngài đă làm vậy từ khuya rồi, chúng ta đâu có c̣n khổ tới bây giờ. Không, các ngài không thể làm chuyện ấy được. Đấng Đạo Sư giảng Pháp, nhưng chính chúng ta phải thay đổi cách hành xử đúng theo luật nhân quả mới được. Một bản kinh có nói:

Chư Phật không rửa sạch tội lỗi
Không đưa tay ban phép
Để cho hữu t́nh bớt khổ đau
Không trao sự chứng ngộ chân như của ngài cho kẻ khác.
Ngài giải thoát cho con người bằng giáo lư chân như.

Đến đây bạn có thể nghĩ, “Tôi sẽ t́m trú ẩn trong ba ngôi báu để khỏi sa vào đọa xứ, và sẽ áp dụng những phương pháp để khỏi đọa xứ. Tôi sẽ thay đổi cách hành xử để phù hợp với luật nhân quả.” Đấy là bạn đă khởi lên một động lực ở tŕnh độ Lam-rim thuộc Phạm vi Nhỏ.

Tuy nhiên, có phải chỉ cần giải thoát khỏi đọa xứ mà thôi chăng? Chưa đủ. Cùng lắm là bạn sẽ leo lên được các cơi trên chừng một hai kiếp, rồi lại rớt trở lại vào những đọa xứ, nơi mà nghiệp ác bắt kịp bạn. Vậy đấy không phải là giải pháp tối hậu, bạn không thể tin cậy vào nó. Quả thế, chúng ta đă bao nhiêu kiếp từng được sinh vào các cơi trời, rồi sau đó lại rơi vào các đọa xứ. Bây giờ chắc chắn ta cũng sẽ lâm vào t́nh trạng tương tự. Trong những kiếp quá khứ, ta đă từng là Phạm vương, Đế thích sống trong những cung trời. Điều này đă nhiều lần xảy ra, tuy thế chúng ta lại phải từ giả những cơi ấy mà quằn quại trên giường sắt nóng của địa ngục. Chuyện này cũng đă từng nhiều phen tái diễn. Ở các cung trời, chúng ta thưởng thức vị cam lồ của chư thiên; rồi khi rời khỏi cơi ấy, chúng ta phải uống nước đồng sôi trong địa ngục. Chúng ta đă từng hưởng lạc thú với những tiên ông tiên bà, rồi phải sống trong địa ngục vói ngưu đầu ngục tốt vây quanh. Chúng ta được sinh làm vua Chuyển luân cái quản hàng trăm thần dân, rồi lại tái sinh làm những tôi tớ nô t́ hạng bét như cỡi lừa và giữ trâu. Có lúc ta được sinh làm thần mặt trời, thần mặt trăng, thân thể chúng ta tỏa ra nhiều ánh sáng tới nổi ta chiếu sáng khắp bốn châu lục địa. Rồi chúng ta tái sinh dưới đáy đại dương, khoảng giữa các châu lục, nơi hoàn toàn tối tăm tới nỗi ngay đến chân tay của ta, ta cũng không nh́n thấy được. Đại loại như thế. Dù bạn có thành tựu được bao nhiêu phúc lạc thế gian, điều ấy thực không đáng tin cậy, không có một thực chất nào.

Chúng ta đă kinh qua không biết bao nhiêu là nỗi khổ, nhưng bao lâu chưa thoát khỏi ṿng luân hồi sinh tử, th́ chúng ta vẫn c̣n phải chịu đựng dài dài, nhiều khổ đau hơn nữa. Nếu đem chất đống lại một nơi tất cả những phân uế và những thứ dơ dáy mà chúng ta đă ăn trong bao đời kiếp làm thân súc sinh, th́ cái đống phân uế ấy có thể là cao hơn núi Tu di, vua các dăy núi. Ấy vậy mà ta c̣n phải ăn nhiều phân dơ hơn thế nữa, nếu ta chưa thoát khỏi luân hồi. Nếu đem tất cả những cái đầu của ta bị kẻ thù chặt trong kiếp quá khứ mà chất đống lại, th́ cái núi đầu ấy c̣n cao hơn cơi Phạm thiên. Tuy thế nếu ta không chấm dứt ṿng luân hồi sinh tử của ta, th́ ta c̣n phải mất nhiều đầu hơn nữa. Trong những tái sinh của ta ở địa ngục trong quá khứ, nước đồng sôi mà ta đă bị uống đem gom lại c̣n nhiều hơn nước bốn biển, nhưng ta c̣n phải uống nhiều hơn nếu ta chưa thoát khỏi luân hồi. Nghĩ đến việc cứ phải lang thang măi không mục đích v́ chưa thoát khỏi ṿng luân hồi sinh tử, ai mà không lo sầu thống thiết.

Ngay cả khi được tái sinh làm chư thiên hay loài người cũng chưa hẵn thoát khỏi bản chất của khổ đau. Loài người có cái khổ sinh, già, bệnh, chết, xa ĺa những ǵ ta thân yêu, gần gũi những ǵ ta khó chịu, mong cầu ǵ cũng không được toại ư. Loài trời tu la cũng có nỗi khổ bị thương tật què quặt trong khi đánh trận, và luôn luôn khổ v́ ḷng ganh ghét ray rứt tâm can. Tái sinh ở những cơi trời Dục giới th́ có nỗi khổ là, khi năm tướng suy xuất hiện là thấy cái chết gần kề. Chư thiên hai cơi trên (sắc và vô sắc) không có nỗi khổ nào hiện rơ. Tuy thế tự bản chất, họ vẫn ở trong tầm của cái khổ liên hệ đến mọi pháp hữu vi, bởi v́ họ chưa đạt đến tŕnh độ tự tại để duy tŕ trạng thái của ḿnh. Cuối cùng họ sẽ rớt xuống cơi dưới, vậy nên họ cũng không thoát khỏi khổ.

Nói tóm, bao lâu bạn chưa vĩnh viễn ra khỏi kiếp luân hồi, th́ bạn vẫn chưa thoát khỏi bản chất của khổ. Bởi thế cần phải dứt khoát tự giải thoát ḿnh ra khỏi luân hồi, và bạn phải làm chuyện ấy ngay trong đời sống này của bạn.

Thường chúng ta nói: “Tôi không thể tu kiếp này được.” Và cầu nguyện cho kiếp sau. Nhưng ta có thể làm việc ấy ngay trong đời này. Chúng ta đă được thân người thuận lợi, đây là h́nh thể vật lư thuận lợi nhất cho việc thực hành chánh pháp. Chúng ta đă gặp được nhiều duyên lành, gặp Giáo lư của Phật, vân vân. Vậy nếu chúng ta không thể đạt giải thoát ngay bây giờ, th́ đến khi nào mới đạt?

Như vậy, bạn có thể nghĩ, dù có sao đi nữa ta phải nhất quyết phải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Và giải thoát chỉ có thể thực hiện nhờ ba vô lậu học. V́ thế, ta sẽ tu học ba môn ấy để giải thoát ra khỏi biển trầm luân rộng lớn này. Đấy là bạn đă khởi một động lực tu tâm Lam-rim thuộc tŕnh độ phạm vi Trung b́nh.

Nhưng cả đến cách khởi tâm này cũng chưa đủ, nếu bạn đă đạt quả chứng Thanh văn, hay Độc giác cho riêng ḿnh, bạn cũng chưa hoàn tất những chu cầu của chính bạn, và hầu như chưa có một chút ǵ lợi ích cho người khác. Ấy bởi v́ bạn chưa từ bỏ một vài điều cần phải từ bỏ, như là những chướng ngại che lấp trí giác toàn vẹn và bốn nguyên nhân của vô minh. Chuyện này cũng giống như phải lội qua sông hai lần: mặc dù có thể bạn đă đạt tất cả quả vị tu hành lên A la hán quả trong đạo lộ thanh văn thừa, khi ấy bạn vẫn c̣n phải phát bồ đề tâm và tu tập các pháp tu căn bản của một Pháp vương tử, khởi đầu tự đạo lộ tích tập công đức của đại thừa. Giống như là khi gia nhập một tu viện, bạn phải tu tập từ địa vị một người phụ bếp trở lên cho đến khi thành tu viện trưởng. Rồi khi gia nhập một tu viện khác, bạn lại phải trở lui về phục vụ trong nhà bếp như cũ.

Chandragomin viết trong bức Thư Gửi Một Đệ Tử:

Họ như những bà con đang mắc kẹt trong biển luân hồi
Bị rơi vào luồng sóng dữ giữa đại dương;
V́ trải qua nhiều phen sống chết và tái sinh
Nên bạn không nhận ra họ, và bạn làm ngơ.
Bởi thế, bạn thật tệ, nếu chỉ lo thoát lấy ḿnh.

Nói cách khác, mặc dù chúng ta không thể nh́n nhận được nhau, kỳ thực không có một chúng sinh nào không từng là mẹ của bạn. V́ bạn đă trải qua vô số kiếp tái sinh, nên bạn cũng đă có vô số mẹ. Và ḷng thương yêu mà những bà mẹ trong quá khứ trút lên bạn cũng không khác ǵ ḷng thương mà bà mẹ hiện tại dành cho bạn. Không một mảy may khác biệt giữa sự tử tế của mẹ bạn và sự tử tế của mỗi hữu t́nh.

Tuy nhiên, có lẽ bạn nghĩ, “tất cả hữu t́nh không phải mẹ tôi. Nếu họ là mẹ dtôi, th́ tôi phải nh́n nhận ra ngay chứ. Thế mà tôi không nhận ra.” Nhưng điều có thể xảy ra là, ngay trong đời hiện tại, cũng có người không nhận ra mẹ ḿnh. Vậy, không thể chỉ v́ “không nhận ra” mà bạn có thể bảo là không phải mẹ. Có những người nghĩ rằng, “Mẹ trong các đời trước đă thuộc về quá khứ. Thật không nên nói rằng hiện tại họ vẫn c̣n là những bà mẹ nhân từ của ta.” Nhưng sự tử tế của những bà mẹ trong quá khứ với những bà mẹ hiện tại đối với bạn thực không có khác nhau chút nào cả. Ḷng tử tế vẫn là một, dù bạn nhận một viên ngọc từ người nào năm ngoái hay năm nay. Thời gian của hành vi không làm cho mức độ của ḷng tốt ấy có thay đổi. Vậy th́, mọi hữu t́nh đều có ḷng từ mẫn đối với bạn.

Bạn có thể nỡ nào làm ngơ những bà mẹ từ mẫn của ḿnh đang bị ch́m đắm trong biển sinh tử, mà chỉ cầu giải thoát cho riêng ḿnh? Điều ấy cũng chẳng khác nào những đứa trẻ đứng trên bờ mà nhảy múa ca hát trong khi mọi người rất thân của chúng, ví dụ mẹ chúng, đă rớt vào một ngọn thủy triều trên biển. Lượn sóng đang cuồn cuộn ra khơi, bà mẹ đang hăi hùng kêu cứu, vậy mà bọn trẻ hoàn toàn bỏ mặc bà. C̣n ǵ tàn nhẫn hơn, đánh khinh hơn thế? Những đợt sóng đại dương được gọi là xoáy nước; điều kinh khủng nhất là khi một con thuyền, chiếc bè hay vật ǵ khác bị lọt vào đấy, th́ chắc chắn nó sẽ bị cuốn hút và ch́m nghỉm. Bây giờ bạn dường như không có chút liên hệ nào với mọi hữu t́nh, những người đă rơi vào xoáy nước trên biển khổ luân hồi. Nhưng kỳ thực, họ đều là những bà mẹ từ bi của bạn, bạn phải báo đáp ḷng thương của họ. Đem thức ăn cho kẻ đói, thức uống cho người khát, tài sản cho người nghèo, thỏa măn nhu cầu của họ, là bạn trả được ân đức phần nào của họ, nhưng kỳ thực điều ấy không lợi lạc bao nhiêu. Cách hay nhất để trả ơn là làm sao cho họ được hưởng mọi hạnh phúc, thoát khỏi mọi đau khổ. Không cách đền đáp nào tốt hơn thế.

Với những tư duy trên, bạn có thể khởi lên ư nghĩ, “Mong sao cho những hữu t́nh này có đủ mọi thứ an lạc.” Đấy gọi là phát triển tâm từ. Bạn cũng nghĩ, “Mong sao họ thoát khỏi mọi đau khổ” đấy là phát triển tâm bi. Bạn có thể phát tâm vị tha khi bạn nghĩ: “Tôi và chỉ ḿnh tôi phải gánh lấy trách nhiệm thực hiện hai mục tiêu ấy. Tôi sẽ làm việc cho hai cứu cánh ấy.”

Nhưng, bạn có thể làm những việc ấy ngay từ bây giờ không? Bạn không thể cứu tất cả khổ ban tất cả vui dù cho chỉ một người, nói ǵ đến tất cả hữu t́nh. Vậy th́ ai có thể? Chư vị Bồ tát trú trong các địa vị thanh tịnh, và các bậc Thanh văn hay Duyên giác có thể lợi lạc hữu t́nh phần nào, nhưng họ chỉ làm được một ít những ǵ mà chư Phật có thể làm. Mỗi tia sáng phát từ thân Phật có năng lực đưa vô lượng hữu t́nh đến tŕnh độ thuần thục, ngay cả đến giải thoát. Chư Phật hóa ra nhiều thân xuất hiện trước mỗi hữu t́nh. Những thân h́nh ấy ứng hợp với tính t́nh, khả năng, ước nguyện và bản năng của các hữu t́nh ấy. Chư Phật giảng dạy Pháp cho hữu t́nh bằng chính ngữ ngôn của chúng. Đây là sơ lược vài khả năng của Phật. Bởi thế chư Phật là những đấng Vô tỉ trong cách các ngài làm việc lợi lạc cho hữu t́nh.

Chúng ta có thể thành tựu Phật quả không? Có thể, và muốn đạt quả Phật ta phải có một thân tái sanh thuận lợi. Chúng ta đă được một loại thân tái sanh rất đặc biệt được sinh ra từ bào thai người ở lục địa phương Nam (Nam thiệm bộ châu), ta lại có được sáu giác quan. Ta chỉ c̣n cần phải lợi dụng cơ hội này đẻ thành tưu Kim cuong tŕ trong một đời này. Ta dă có được tái sinh thân thuận lợi. Phương tiện để đạt Phật quả là Pháp tối thượng thừa, và giáo lư của Tsongkapa, đấng Chiến thắng thứ hai (sau Phật), về cỗ xe này thật là toàn hảo. Những lời giảng dạy vô cấu của ngài phối hợp vừa kinh giáo vừa mật giáo. Chúng ta đă được gặp giáo lư như thế.

Tóm lại, chúng ta đă gặp mọi điều kiện thuận lợi, lại không bị một chướng ngại nào. Chúng ta chỉ có thể đi lạc do không nỗ lực đạt thành Phật quả. Không phải là chúng ta sẽ luôn luôn có được thân tái sanh lành mạnh như thế này, luôn luôn gặp được giáo lư như thế này. Có người bảo, “Nay là thời mạt pháp, chúng ta thật đă gặp thời xấu ác.” Nhưng kể từ ḍng luân hồi vô thỉ đến nay, ta chưa từng bao giời trải qua một thời gian có nhiều tiềm năng lợi lạc cho ta hơn bây giờ. Không thể có thời nào tốt hơn. Ta chỉ gặp được hoàn cảnh như thế này một lần thôi. Bởi vậy, ta phải tu tập hướng đến một quả Phật, dù bất cứ ǵ xảy đến.

Như thế, điều này phải làm bạn phát nguyện: “Tôi sẽ làm mọi sự có thể làm để đạt mục tiêu là sự giác ngộ tối thượng, v́ tất cả hữu t́nh.” Ư nghĩ ấy khơi dậy tâm bồ đề, và như thế là bạn đă khởi động lực tu tập của bạn theo Phạm vi Rộng lớn của Lam-rim. Bạn đă phát tâm bồ đề nếu bạn thực t́nh cảm nghiệm ư tưởng ấy một cách tự nhiên không có một gượng ép nào trong tâm bạn

Bạn phải thực hành để đạt thành Phật quả ấy. Và bạn cần thiết phải thực hành như thế nào để thành công. Nhiều người muốn tu nhưng không biết tu cách nào nên đi đến một chơ vắng nào đó, tụng vài câu thần chú, lập ít lời cầu nguyện, ngay cả cố t́m cách chứng được một vài tầng trong chín tầng thiền chứng, nhưng ngoài ra họ không biết làm ǵ khác. Bạn phải nghiên cứu học hỏi những giáo lư không lỗi lầm, những giáo lư không bỏ sót một chuyện ǵ trong việc thực hành pháp, th́ bạn mới biết được phải làm những ǵ. Và vua của những giáo lư ấy chính là Lam-rim mô tả những bước đường đi đến giác ngộ. Bởi thế bạn phải khởi lên một động lực như sau: “Tôi sẽ chú ư lắng nghe Lam-rim, rồi thực hành theo đấy.”

Thông thường, cần yếu là phải khởi đầu mọi sự tu tập bằng một trong những đọng lực nói trên. Nhưng quan trọng hơn nữa, khi bạn nghe giảng về Lam-rim th́ những động lực trên chưa đủ. Ít nhất bạn phải bạn phải lắng nghe kèm với một tâm bồ đề gượng ép. Với người đă kinh nghiệm sự phát bồ đề tâm, họ có thể nhớ nghĩ một công thức ngắn gọn như “V́ tất cả chúng sinh” là đủ. Tuy nhiên, điều này không đủ chuyển hóa nội tâm một người sơ cơ. Nếu bạn nghĩ về Lam-rim, khởi từ sự khó khăn muôn vàn để có được thân người thuận lợi, khi ấy tâm bạn sẽ quay về bồ đề tâm. Điều này không phải chỉ áp dụng cho việc nghe Lam-rim mà thôi. Những tu sĩ phái Gelugpa chúng tôi mỗi khi tham dự một pháp hội nào, như lễ quán đảnh, lễ khẩu truyền, giảng kinh, hay bất cứ ǵ khác, chúng tôi thường ôn lại tất cả giai đoạn Lam-rim kể như chuẩn bị để có một động lực đúng. Ngay cả những thời cầu nguyện ngắn cũng phải bao gồm cả ba phạm vi của Lam-rim. Đây là nét đặc sắc nhất của giáo lư thuộc phái Kadampas ngày xưa và của chúng tôi ngày nay những người thuộc phái Kadampas mới. Bậc tôn sư của tôi đă nói điều này nhiều lần. Các bạn nào muốn nhận trách nhiệm bảo tŕ nền giáo lư này th́ cần phải học tập theo cách ấy. (Tuy nhiên, khi làm lễ quán dảnh cầu sống lâu th́ người ta có lệ không nói về vô thường -chết-, vân vân, v́ đấy là điềm gở: chỉ nói đến sự được sinh làm thân người thuận lợi này rất khó.)

Có những người tham dự một thời Pháp mà nghĩ rằng: “Tôi thật may phước được học giáo lư này, nhưng tôi không thể thực hành được. “Có người đi nghe v́ bắt chước: “Nếu bạn đi th́ tôi cũng đi với cho vui.” Không ai đi nghe pháp để kiếm sống bằng cách đi làm lễ cho các gia chủ. Nhưng việc này có xảy ra với những giáo lư khác, chẳng hạn những phép quán đảnh chính yếu. Khi bạn theo học những giáo lư này, có thể bạn nghĩ ḿnh sẽ có được khả năng tụng thần chú để trừ tà đuổi quỷ, hoặc chữa bệnh, hàng phục ma, có tài sản, có quyền lực, vân vân. Có những người, dù đă học bao nhiều giáo lư Phật, cũng vẫn xem Pháp của ngài như là cái vốn để làm ăn; họ trông giống như những người sắp đi Mông Cổ để đi kinh doanh buôn bán. Những người như thế đă tích lũy vô số tội nghiệp bằng phương tiện Pháp của Phật. Đức Phật, đấng Đạo sư của chúng ta, bàn đến những phương tiện để đạt giải thoát và toàn trí. Khai thác lợi dụng những giáo lư ấy v́ những mục tiêu thế tục th́ chẳng khác nào ép một ông vua đang ngồi trên ngai xuống chùi nhà.

Bởi thế, nếu bạn t́nh cờ dường như cũng có những động lực xấu xa tương tự, th́ hăy xua đuổi chúng đi; hô triệu một cái tâm bồ đề bất đắc dĩ nỗi lên đi cũng được, rồi nghe pháp. Thôi, chừng ấy cũng đủ để kết thúc phần khởi động lực cho đúng.

Sau đây sẽ là phần chính của giáo lư.

Trước hết, Pháp mà bạn sắp tu tập phải là do Phật nói ra, và do những bậc thánh Ấn Độ giảng giải. Sự tu tập của bạn phải là pháp tu mà từ đó những bậc hiền trí vĩ đại đă rút tỉa được những tuệ giác và thực chứng; nếu không, một sự giảng dạy có thể được gọi là “sâu xa” mặc dù nó không do Phật thuyết và các bậc học giả hiền trí chưa từng biết tới. Nếu bạn quán tưởng về những thứ giảng dạy kiểu đó th́ bạn có nguy cơ sẽ đạt một vài kết quả mà từ trước chưa có ai từng đạt, kể cả chư Phật cũng chưa từng đạt tới! Bởi thế bạn phải xét kỹ cái Pháp mà bạn sẽ dùng làm pháp tu của bạn. Sakya Pandit nói:

Khi bạn kinh doanh buôn bán
Như lái ngựa, buôn châu báu, vân vân
Bạn nghi vấn đủ điều
Và khám xét mọi mặt
Tôi đă thấy bạn cần mẫn làm sao
Với những việc vặt vănh của đời này
Những đời tương lai bạn tốt hay xấu
Đều tùy thuộc Pháp vi diệu
Ấy vậy mà bạn xử sự với Pháp ấy
Như con chó ngồn ngấu đồ ăn:
Bạn thành kính đón lấy bất cứ ǵ gặp được
Mà không xem trước cho kỹ để biết nó chánh hay tà.

Khi ta mua một con ngựa chảng hạn, ta khám xét nhiều thứ, trước hết là coi bói, và đi hỏi một lô người ngoài. Lấy ví dụ một tu sĩ thông thường khi đi mua một ấm nấu trà. Ông xem xét lại màu sắc, trọng lượng, h́nh dáng nó thật nhiều lần; sao cho bảo đảm là nó không bị nước, v.v... làm hỏng, và hỏi ư kiến nhiều người. Tuy vậy, nếu không may gặp cái b́nh xấu th́ bất quá cũng chỉ ảnh hưởng đến vài tách trà mà thôi.

Bạn tra tầm rất kỹ về những chuyện như thế, mặc dù nó chỉ có giá trị nhất thời. Thế mà bạn dường như không tra tầm chú thời gian nào cái Pháp mà bạn phải tu tập, mặc dù điều này là căn bản cho những hy vọng tái sinh của bạn trong tương lai. Đấy là cách một con chó nuốt trọng thực phẩm vào bụng. Thật sai lầm biết bao! Nếu bạn sai lầm ở bước này, tức là bạn đă tàn hại những hy vọng về đời tương lai của bạn. Bởi thế, bạn cần phải xét kỹ Pháp mà bạn định tu tập, trước khi khởi công tu hành.

Nếu bạn xét Pháp hiện tại của chúng ta là Lam-rim, bạn sẽ thấy Pháp ấy là tuyệt hảo trong tất cả các pháp. Tính sâu sắc kỳ diệu của mật tông đều xuất xứ từ Lam-rim. Nếu bạn không khai triển ba nồng cốt của đạo lộ (sự từ bỏ, bồ đề tâm và chánh kiến về Tánh không) trong ḍng tâm thức bạn, th́ bạn không thể giác ngộ ngay trong một đời. Tôi đă nghe nhiều giáo lư được cho là sâu sắc, phát xuất từ tri kiến hay từ những mật điển, những giáo lư được nói là đem lại các năng lực thần thông biến hóa - so với những giáo lư ấy th́ quả thực ba điều ṇng cốt của đạo lộ không có vẻ ǵ là một giáo lư hấp dẫn đặc biệt cho lắm.

Pháp Lam-rim không phải do Rinpoche (Tsongkapa) sáng chế, hay Atisha đặt ra. Hệ truyền thừa của nó bắt nguồn từ chính đức Phật đáng Toàn giác, và chỉ từ nơi Ngài mà thôi nhưng khi bạn hiểu ra rằng có một pháp được gọi là Lam-rim trong khi các pháp khác không có tên gọi ấy, bạn sẽ thấy rằng tất cả mọi kinh điển đều là Lam-rim. Bộ kinh tôn quư Bát nhă Ba la mật là bộ kinh tối thượng trong tất cả kinh điển của đấng Đạo sư chúng ta. Trong kinh ấy Ngài dạy rơ phần thâm thúy nói về những giai đoạn trên đạo lộ đưa đến trí bát nhă (thực chứng tánh không) mà là cốt lơi của tám muôn bốn gnà pháp; Ngài cũng ám chỉ cái phần rộng răi của Lam-rim trong những phương pháp của chư Phật. Vậy, đây là nguồn gốc của hệ truyền thừa. Phần rộng răi này được truyền cho đệ tử trước tiên của Phật là Di Lặc (Maitreya), Di Lặc truyền cho Vô Trước (Asanga). Phần sâu xa của Lam-rim truyền cho Văn Thù (Manjusri) đến Long Thụ (Nàgàrjuna). Đấy là cách mà truyền thống Lam-rim được tách làm hai - pháp Sâu và pháp Rộng.

Để làm sáng tỏ Lam-rim, Di Lặc đă soạn Năm bộ luận, Vô Trước viết “Năm luận về các tŕnh tự”, Long Thụ viết Sáu luận, vân vân. Như vậy các hệ phái Lam-rim Sâu và Rộng đă truyền xuống cho bậc thánh vô tỉ là Atisha. Ngài nhận hệ phái Rộng từ Suvarnadv́i, và hệ phái Sâu từ Vikyakokila; ngài phối hợp hai hệ phái thành một ḍng. Ngài c̣n kế thừa hệ phái Những Hành Động Uy Mănh Nhất mà Shantideva hấp thụ của Văn Thù, cùng những hệ phái về mật chú, vân vân. Như thế, những hệ phái mà ngài thừa kế bao gồm cả kinh giáo lẫn mật giáo.

Atisha soạn tác phẩm “Ngọn đèn soi đường Giác ngộ” tại Tây Tạng. Tác phẩm này phối hợp những điểm then chốt trong toàn bộ giáo lư. Những lời giảng dạy về sau được mang tên “Lam-rim”. Từ thời Atisha, những hệ phái liên hệ tri kiến sâu xa và hành động rộng răi đă phối hợp thành một ḍng duy nhất. Những ḍng này lại tách làm ba hệ phái vào thời đại của phái Kadampa: hệ phái Cổ điển, hệ phái Những Giai đoạn của Đạo lộ, và hệ phái Chỉ giáo (Instruction.) Mỗi hệ phái tập trung vào một khía cạnh khác nhau. Về sau, Je Tsongkapa hấp thụ cả ba hệ phái này từ Namkha Gyaeltsaen ở Lhodrag, vị này là một học giả uyên bác, và từ Chekyab Zangpo, tu viện trưởng của tu viện Dragor. Từ thời ấy trở đi, truyền thống trở lại thành một phái duy nhất.

Đức Je Tsongkapa vĩ đại đă làm lễ cầu nguyện với những bậc tiền bối trong hệ truyền thừa của ngài bên tảng đá h́nh sư tử tại Retreng về phía bắc Lhasa. Pho tượng tŕnh bày bậc thánh với chiếc đầu nghiêng về một phía. Mỗi khi ngài cầu xin trước pho tượng này, ngài liền thấy được những linh ảnh của tất cả những bậc thầy của hệ phái Lam-rim cùng ngài đàm luận về Pháp. Lại nữa, ngài c̣n thấy những linh ảnh của Atisha, Dromtoenpa, Potowa và Sharawa trong suốt một tháng trời. Ba linh ảnh sau cuối cùng tan thành một với linh ảnh Atishaz, vị này đặt tay trên đầu ngài Tsongkapa mà nói: “Hăy giảng dạy giáo lư này đi, ta sẽ giúp ngươi.” Điều này có nghĩa rằng chính Atisha đă xui khiến Tsongkapa viết tác phẩm Những Giai Đoạn Chính Của Con Đường Tu Tập. Tsongkapa hoàn tất tác phẩm này đến cuối phần nói về tịnh chỉ. Đại sĩ Văn Thù (Manjusri) yêu cầu ngài hoàn tất tác phẩm, kết quả là ngài viết thêm chương nói về Tuệ quán đặc biệt. Vậy, ta phải ư thức rằng sách này là một kho tàng của nhiều phép mầu hộ niệm, cho dù ta không biết được những người nào khác dă yêu cầu ngài soạn sách. Điều này được ám chỉ trong đoạn bắt đầu: “Nhờ những phép mầu kỳ lạ của các Đấng Chiến thắng và những Pháp tử của các ngài...”

Về sau, ngài soạn tác phẩm Những Giai Đoạn Giữa Của Đạo Lộ để tóm tắt cốt tủy của vấn đề là không được nói đến trong Những Giai Đoạn Chính Của Đường Tu. Tác phẩm này phần lớn bàn về hệ phái khẩu truyền trực tiếp và những hệ phái giảng kinh cổ xưa hơn; cả hai Lam-rim này được cho là bổ túc lẫn nhau với những điểm then chốt khác nhau rút từ những lời dạy truyền khẩu.

Có lẽ bạn không biết làm sao để thể nhập những bản văn này vào việc tu tập của bạn. Je Rinoche (tức Tsongkapa) nói về sau:

“Những người thấy không thể nào hiểu nổi làm sao thực hành tất cả giáo lư này, th́ nên tham khảo những bản văn ngắn gọn hơn nhiều, chỉ dạy cách tu tập.”

Bởi thế bạn phải tham khảo những văn bản sau đây. Đức Dalai Lama thứ Ba - Lama Soenam Gyatso - viết tác phẩm T́nh Chất Của Vàng Ṛng. Đức Dalai Lama thứ Năm vĩ đại viết Lam-rim do chính đức Văn Thù nói, kể như một luận giải cho tác phẩm này. Đức Panchen Lama (Ban thiền lạt ma) - Lozang Chekyi Gyaeltsaen - viết Con Đường Dễ và Lozang Yeshe (một tái sinh khác của Panchen) soạn luận giải cho sách này với tác phẩm Con Đường Nhanh. Chính đức Tsongkapa cũng viết ba tác phẩm về Lam-rim: Đường Lớn, Đường Trung B́nh, Đường Nhỏ (c̣n gọi là Những bài Ca từ Kinh nghiệm hay Chứng đạo ca). Ngoài bốn sách giáo lư khúc chiếc của các vị Dalai Lama và Panchen Lama nói trên, Ngagwang Dragpa ở Dagpo c̣n viết Con Đường Của Kinh Giáo Vi Diệu. Đấy là tám giáo lư nổi tiếng nhất về Lam-rim.

Bạn phải thụ giáo những bài giảng truyền thừa về những kinh văn căn bản này cùng với những luận giải. Chỉ thụ giáo một bài giảng mà thôi th́ không đủ. Lại nữa, có đến hai bài giảng về tác phẩm Những Lời Dạy Của Đức Văn Thuø, một bài chi tiết hơn bài kia. Một trong hai bản văn này được truyền ở tỉnh Trung ương, bản kia truyền ở miền Nam: do vậy có sự phân thành hai phái. Bạn cũng phải thụ giáo riêng rẽ cả hai hệ phái này. Vị quan tể tướng Tagpugpa và các đồ đệ ngài về sau đă đánh giá cao hệ truyền thừa bản văn này. Ngài tuyên bố rằng nếu ngài gặp bản này sớm hơn, th́ ngài không phải trải qua nhiều vấn đề nan giải liên hệ những đề mục tu thiền trong Lam-rim. Điều này đúng như ngài nói: giáo lư cô đọng của Con Đường Nhanh, và hai ḍng trong tác phẩm Những Lời Dạy Của Đức Văn Thuø phối hợp lại, làm thành một cái ǵ sâu sắc vô cùng.

Khi Đức Phật đấng Đạo sư chúng ta giảng dạy, th́ không có chuyện phân thành hai hệ phái giảng kinh. Chỉ có về sau, khi giáo lư Ngài không c̣n hoàn toàn dễ hiểu, th́ mới có chuyện giảng kinh tách biệt với thuyết pháp. Những bài giảng nào bàn chi tiết về những từ ngữ trong kinh được gọi là “giảng có bài bản.” Ngược lại sự “giảng gọn” ám chỉ những lời giảng dạy không căn cứ nhiều trên danh từ của kinh văn, mà lại tŕnh bày cốt tủy của giáo lư, thiện xảo như những y sĩ giải phẫu một tử thi trước mặt học tṛ. Cái cách họ chỉ rơ lục phủ ngũ tạng vân vân, đem lại cho người học một sự dẫn nhập sống động. Trong bài giảng theo kiểu “nói chuyện thân mật”, vị thầy nói kinh nghiệm của riêng ḿnh, cách dạy này cốt gây một ảnh hưởng lớn nhất trên ḍng tâm thức của những môn sinh. C̣n lối “giảng thực tiễn” là như sau. Môn sinh ở chung trong một nhà nhập thất. Họ được dạy một đề mục để thiền quán. Họ không dạy thêm một đề mục nào nếu chưa đạt một tuệ giác về đề mục trước. Lối giảng dạy này truyền xuống đến chúng ta qua những hệ phái thiền về tuệ quán. Đấy là những phương pháp tốt nhất để hàng phục ḍng tâm thức.

Giáo lư mà tôi sắp giảng dạy thuộc về loại “nói chuyện thân mật.” Một vài vị hiện diện trong đây cũng khá không may v́ chỉ có thời gian theo học giáo lư này một vài làn. Họ cũng ham thích giáo lư này thực, nhưng sau đó họ phải đi con đường của họ. V́ những người này mà tôi sẽ phối hợp Con Đường Nhanh và hai hệ phái giảng về tác phẩm Những Lời Dạy Của Đức Văn Thù. Về sau, khi chúng ta đến phần ấy, tôi sẽ đưa ra Bảy điểm tu tâm để đổi địa vị ḿnh với người.

Tôi không có sự dè dặt nào trong khi giảng giáo lư này. Nó sẽ tạo công đức cho hai nhà quư tộc quá cố mà khóa giảng này được làm lễ tưởng niệm. Và khi tôi giảng dạy Lam-rim, tôi không phải cân nhắc lợi hại đối với bậc thầy hay môn đệ, nhưng tôi phải cân nhắc khi dạy những giáo lư khác, chẳng hạn các pháp quán đảnh. Sự giảng dạy về Lam-rim chỉ có thể đem lại lợi lạc mà thôi.

Tất cả các bạn, hăy tu kiểu nào bạn có thể tu, và nhớ cầu nguyện cho hai nhà quư tộc quá cố.

(Kyabje Pabongka Rinpoche khẩu truyền những ḍng mở đầu của những văn bản Lam-rim này. Sau đó chúng tôi được giải tán.)

 
 
PHẦN MỘT
NHỮNG CHUẨN BỊ SƠ KHỞI
NGÀY THỨ HAI

Lama Pabongka Rinpoche mở đầu:

Đức Tsongkapa vĩ đại (trong lời Dẫn nhập tác phẩm Ba Ṇng Cốt Của Đạo Lộ) đă viết:

Tôi sẽ cố giải thích ư nghĩa
Tinh túy của tất cả kinh điển
Của Đấng Chiến Thắng
Đạo lộ được tán dương
Bởi tất cả chư Phật và những pháp tử của ngài
Đó là cửa vào cho những người may mắn muốn đạt giải thoát.

Giáo lư này là tinh túy của tất cả kinh điển Phật thuyết. Trong phần Phạm Vi Nhỏ bạn được thúc dục phải từ bỏ những cơi xấu ác, trong phần Phạm Vi Trung B́nh, bạn được thúc dục phải từ bỏ toàn bộ ṿng sinh tử luân hồi, vân vân. Nhưng bạn sẽ không làm nổi những việc ấy nếu không dựa vào Lam-rim. Tâm bồ đề tôn quư là con đường mà tất cả chư Phật và các đấng Pháp vương tử (Bồ tát) đều ca ngợi. Cửa vào cho những người mong đạt giải thoát chính là chánh kiến về Tánh không, xa ĺa hai cực đoan thường kiến và đoạn kiến. Bạn cũng không thành tựu được điều này nếu không dựa vào hệ thống giáo lư Lam-rim. Bởi thế để đạt thành Phật quả, bạn cần phải phát triển ba ṇng cốt ấy của đạo lộ ở trong ḷng tâm thức bạn.

Muốn phát sinh ba ṇng cốt này trong tâm thức, bạn phải dựa vào Lam-rim. Bởi thế mà ngay từ đầu, bạn hăy khởi động lực như sau: “Tôi sẽ đạt Phật quả v́ lợi lạc cho tất cả hữu t́nh - và lư do ấy tôi sẽ tham dự buổi nói chuyện thân mật này về Ba phạm vi khác nhau của Lam-rim.” Hăy tập trung tất cả những động lực và hành động của bạn theo chiều hướng những ư tưởng ấy, rồi hăy lắng nghe.

Và pháp mà các bạn sắp nghe là pháp ǵ? Đó là pháp Tối thượng thừa, giáo lư đưa người may mắn đến Phật quả. Đó là con đường truyền thống của hai vị tiên phong vĩ đại là Long Thụ và Vô Trước. Đó là tinh hoa tư tưởng của đức Atisha vô song và đức Tsongkapa, Pháp vương của ba cơi. Giáo lư này sâu xa là như vậy đó. Nó có mọi điểm then chốt được t́m thấy trong tinh hoa của tám vạn bốn ngàn kinh điển, nó tổ chức những thực tập tuần tự đưa ta đến giác ngộ.

Những “câu chuyện thân mật” về những giai đoạn của con đường đến giác ngộ có thể nằm dưới một tiêu đề căn bản: “Giáo lư thực thụ.” Nhưng có những tiêu đề được đưa thêm vào để ấn định bản chất của Lam-rim, những bản kê khác nhau về nó, và thứ tự giảng dạy giáo lư này. Bạn phải quen thuộc với những tiêu đề này để biết chắc cái nào đi với đề mục thiền đặc biệt nào, chúng được giải thích như thế nào, những trích dẫn đưa ra trong những tiêu đề ấy, hệ giáo lư khẩu truyền về chúng, và những chỉ dẫn mà chúng hàm chứa. Nếu không, nghĩa là nếu bạn nghe một giáo lư khơi khơi không có tiêu đề nào cả, th́ sẽ khó làm cho những thiền quán trở thành lợi lạc cho ḍng tâm thức bạn. Nó sẽ giống như là bạn cố lấy riêng ra xài hoặc trà, hoặc bơ, muối, soda... sau khi chúng đă được bỏ chung một b́nh. Có nhiều loạt tiêu đề khác nhau - một số dùng cho những Lam-rim ngắn gọn, một số dành cho những bản dài hơn. Bạn nên theo những tiêu đề của giáo lư mà bạn đă hấp thụ.

Bây giờ tôi sẽ theo phần lớn sự thực hành của tôn sư tôi áp dụng tiêu đề Con Đường Nhanh. Loạt tiêu đề đặc biệt này được trang điểm bằng nhiều chỉ giáo khẩu truyền. Trước đây nó chưa từng được bút kư, nhưng ngài hết sức cẩn thận khi giảng dạy chúng một cách công khai; và tôi cũng đă được thụ giáo những tiêu đề ấy một ḿnh với thầy. Tôi đă hết sức cẩn thận thu thập chúng lại và viết lên giấy. Những tiêu đề ấy không quá ngắn cũng không quá dài, và có nhiều dáng vẻ độc đáo đă được cho là rất công hiệu.

Những học giả tu viện Nalanda ưa nói đến ba sự thanh tịnh trước khi giảng pháp:sự thanh tịnh giáo lư khẩu truyền của vị thầy, sự thanh tịnh của ḍng tâm thức nơi môn sinh, và sự thanh tịnh của Pháp đang được tŕnh bày. Những học giả của Vikramash́la trong những phần dẫn nhập thường nói đến tính vĩ đại của tác giả, tính vĩ đại của Pháp, và cách lắng nghe giáo lư ấy. Tôi sẽ theo truyền thống sau cùng này.

Bài giảng về những giai đoạn của con đường đến Giác ngộ có bốn phần chính:

1. Sự vĩ đại của các tác giả, được nói lên để chứng minh rằng giáo lư này có một nguồn gốc trong sạch.

2. Sự vĩ đại của Pháp, được nói để tăng niềm tin tưởng đối với giáo lư.

3. Cách chân chính để giảng và nghe nền giáo lư có hai sự vĩ đại này.

4. Tŕnh tự theo đó các môn đệ phải được dạy những chỉ dẫn thực thụ.

Bốn tiêu đề này được t́m thấy trong tác phẩm (của Tsongkapa) Những Giai Đoạn Lớn Của Con Đường. Bất kỳ loại Lam-rim nào được tŕnh bày - Con Đường Dễ, Con Đường Nhanh, vân vân - bất kể nó được giảng chi tiết đến đâu, truyền thống khẩu truyền nói bạn phải khởi bằng những tiêu đề ấy, nếu không người ta sẽ không phất sinh đầy đủ niềm tin.

I. TÍNH CÁCH VĨ ĐẠI CỦA NHỮNG TÁC GIẢ NÓI LÊN ĐỂ CHỨNG TỎ NỀN GIÁO LƯ NÀY CÓ MỘT NGUỒN GỐC TRONG SẠCH.

Như lần trước tôi đă nói, theo truyền thống những học giả Ấn, th́ Pháp mà bạn sẽ thực hành phải là do Phật dạy, được giảng giải bởi những bậc học giả hiền trí, và được xử dụng để thiền quán bởi những hành giả uyên bác có thể phát sinh những thực chứng về thần thông và tuệ giác trong ḍng tâm thức họ.

Về phần chúng ta, chúng ta cần nhiều hơn là đức tin, trí tuệ, và kiên tŕ tinh tấn; nếu ta thực hành một Pháp mà chỉ có vẻ hữu lư, th́ ta sẽ không đạt được kết quả nào. Ta đă thấy tận mắt nhiều người vừa trí tuệ vừa kiên nhẫn đă lăng phí th́ giờ vô ích kiểu ấy. Hơn nữa, dù một giáo lư có được cho là phát xuất từ những linh kiến sâu xa đến đâu, th́ Ba Ṇng Cốt Của Đạo Lộ như tôi đă nói với bạn, vẫn quan trọng hơn các Sàdhanas (những phương pháp đắc quả) và những giáo lư dạy cách chứng các thần thông, bởi v́ những thứ này c̣n không hơn được cả đến một dẫn nhập vào ba quy y.

Muốn t́m về nguồn của một con sông, bạn cần hải đi trở ngược về lằn ranh tuyết. Cũng thế bạn phải truy tầm một pháp trở lui về Đức Phật, bậc Thầy của chúng ta. Nếu có th́ giờ để bàn chi tiết điều này, tôi sẽ khởi sự bằng đời Đức Phật và những tiểu sử của những bậc thầy thuộc tất cả các hệ phái, làm thế nào các ngài đă sử dụng con đường này để đạt đến những quả vị cao siêu. Nhưng tôi không đủ th́ giờ để bàn dài ḍng như thế. Tôi chỉ kể cho các bạn nghe một ít chuyện mà thôi.

( Khi ấy Pabongka Dorje Chang (Kim cương tŕ) kể sơ cho chúng tôi nghe làm thế nào mà có hai hệ truyền thừa từ đức Phật xuống At́sha; và làm thế nào At́sha đă phối hợp hai hệ phái thành một ḍng. Ngai tiếp:)

At́sha viết Ngọn Đèn Soi Đường tại Tây Tạng; từ ngữ “Lam-rim” về sau mới xuất hiện. Trong tất cả những tác phẩm về giáo lư Lam-rim như Con Đường Tối Thượng, Giáo lư Tuần Tự, vân vân, tác phẩm chính về đề tài này - Ngọn Đèn Soi Đường - là kiệt tác của ngài. Bởi thế At́sha gần như là tác giả của những pháp môn ấy. Ngay cả Tsongkapa vĩ đại cũng viết: “Tác giả sách này kỳ thực chính là At́sha.” Bởi thế đáng tôi phải kể cho các bạn nghe lịch sử chi tiết cuộc đời ngài, song v́ ít th́ giờ tôi chỉ nói sơ lược.

Tiểu sử này có ba tiêu đề:

1. Ngài sinh vào một trong những gia đ́nh quư tộc.

2. Ngài đă có được những kỳ đức từ thuở ấu thơ.

3. Sau khi có được những đức ấy, ngài đă làm những việc ǵ.

A. AT̀SHA SINH VÀO MỘT GIA Đ̀NH QUƯ TỘC

At́sha sinh tại miền đất nổi tiếng đông Ấn bây giờ là Bengal, tại một đô thị lớn có một trăm ngàn hộ dân cư, tổng số dân là ba triệu năm trăm ngàn. Lâu đài của thân phụ ngài được gọi là “Lâu đài của những lá cờ vàng chiến thắng.” Có mười ba ngôi chùa vàng, và hai mươi lăm tràng phan chiến thắng bằng vàng. Gia đ́nh ngài rất giàu có và có thế lực. Thân phụ ngài là vua Kalyànashŕ; thân mẫu là Prabhàvat́. Lúc ngài ra đời có nhiều điềm lạ.

B. NGÀI ĐĂ ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG KỲ ĐỨC NGAY TRONG ĐỜI NÀY NHƯ THẾ NÀO

Khi vị thái tử hài nhi mới mười tám tháng tuỏi, song thân ngài viếng thăm một ngôi đền ở Vikramapuri. Dân chúng sắp hàng hai bên đường để xen thái tử. Ngài trông thấy đám đông và hỏi cha mẹ: “Những người này là ai thế?” Họ trả lời: “Đấy là thần dân của con.” Hài nhi nh́n mọi người với vẻ thương xót và thốt ra lời kệ:

Ước ǵ họ đều như tôi:

Giàu có, nhiều công đức sáng chói,

Thừa kế ngai vàng, một thái tử đầy quyền lực.

Ước sao tất cả họ đều tin theo Diệu Pháp!

Mọi người rất đỗi kinh ngạc. Khi vào đền, mọi người kể cả cha mẹ ngài đều cầu nguyện không bệnh, sống lâu, giàu có, khỏi sa vào đọa xứ, được sanh lên thượng giới, vân vân. Riêng thái tử lại cầu nguyện như sau:

Tôi đă được tái sanh làm người
Một người được ưu đăi
Giác quan tôi không t́ vết
Tôi gặp được Ba ngôi báu
Mong sao con luôn luôn kính cẩn
Đội trên đầu con Ba ngôi báu
Kể từ hôm nay, xin Ba ngôi báu làm chỗ nương của con
Mong sao con đừng bao giờ bị công việc gia đ́nh trói buộc
Mong sao con có năng khiếu về Pháp
Ở giữa đại chúng Tăng già.
Mong sao con cúng dường Tam bảo
Mà ḷng không một chút kiêu căng
Mong sao con nh́n mọi hữu t́nh với ḷng thương xót.

Mới mười tám tháng tuổi, vị thái tử hài nhi đă nói đến chuyện quy y và phát tâm bồ đề. Ngài đă làm cho chúng ta tin tưởng ngay từ điểm này trong tiểu sử đời ngài.

Tác phẩm “Quyển sách của hệ phái Kadampas” cho chúng ta biết về sự phát triển sớm của ngài:

Khi thái tử lên ba
Ngài đă giỏi về toán,
Văn chương và thi phú.
Khi lên sáu tuổi
Ngài có thể phân biệt
Phật pháp, phi Phật pháp.

Phân biệt Phật pháp với không phải Phật pháp thật là chuyện vô cùng khó khăn. Có lẽ chuyện sau đây sẽ cho bạn vài khái niệm. Có lần At́sha đă nói: “Ở Ấn Độ chỉ có ba người biết phân biệt Phật pháp và phi Phật pháp là Nàropa, Shàntipa và tôi. Naropa đă chết, c̣n tôi đă đi Tây Tạng. Có thời nào mà xứ Ấn lâm vào một t́nh thế tệ hơn không?”

Chính sự kiện At́sha có thể phân biệt như vậy vào lúc lên sáu, đối với tôi dường như là dấu hiệu chứng tỏ ngài đă uyên bác ngay từ lúc nhỏ.

Khi ngài mười một tuổi, nhiều công nương công chúa xứng đôi vừa lứa đă t́m đủ nghệ thuật múa hát để quyến rũ ngài; nhưng những cảnh tượng ấy chỉ gợi cho ngài sự gớm ghiếc và xuất ly. Có một cô gái làn da ngăm đen vốn là hóa thân của Tara, đă nói với ngài.

Thái tử, chớ bị vướng mắc
Hỡi người diễm phúc, đừng bị vướng
Nếu một anh hùng như ngươi
Mà bị tóm trong vũng lầy dục vọng
Th́ cũng như con voi sa lầy.
Nhưng người mặc áo giáp giới đức th́ không ch́m đắm.

Ta hăy suy xét rộng răi lời nói của nàng. Nàng bảo thái tử đừng vướng mắc trước hết là vào đời này, và thứ đến là vào sinh tử luân hồi nói chung. Ví dụ nàng dùng về con voi sa lầy có nghĩa rằng, v́ con voi có thân xác khổng lồ, nên c̣n khó gỡ ḿnh ra khỏi śnh lầy hơn những con vật khác. Nếu những người thông thường mà phạm vài điều quấy, th́ chỉ có hại cho bản thân họ chứ không thể phương hại đến sự lan truyền giáo lư. Nhưng nếu tu sĩ vĩ đại hoặc những tái sanh của Lamas mà hành xử sai trái, th́ sẽ làm cho sự giảng dạy giáo lư trong vùng ấy mất ảnh hưởng. Nếu những vị này hành xử thích đáng, th́ giáo lư ở vùng ấy sẽ thịnh. Lại nữa, với tôi dường như điều ấy muốn nói rằng điều quan trọng nhất là những người lớn như quư vị cần phải đa văn, có đạo dức, từ bi, và quư vị nên giữ ǵn những truyền thống Gelugpa thuần tịnh.

Vị thái tử trả lời rằng những lời yêu cầu của nàng làm cho thái tử rất hài ḷng.

Không lâu sau đó, vua cho một trăm ba mươi kỵ sĩ vây quanh thái tử. Thái tử giả vờ đi thám hiểm núi rừng ở vùng lân cận. Mục đích thực thụ của ngài là t́m một bậc đạo sư. Ngài gặp bà la môn Jitaŕ đang sống trong một ngọn núi, ông cho thái tử quy y và thọ giới Bồ tát, và cho thái tử biết về Bodhibhàdra ở Nalanda, người có duyên nghiệp với thái tử đời quá khứ. Thái tử liền đi gặp bậc thầy ấy và dâng cúng ngài nhiều ngọc ngà châu báu. Bodhibhàdra rất hoan hỉ. Bậc thầy nhập định và làm phép tịnh hóa ba cửa (thân khẩu ư) cho thái tử. Ngài cũng cho thái tử nhiều lời chỉ giáo liên hệ đến sự phát tâm bồ đề, đoạn giới thiệu thái tử đến bậc thầy Vidyakokila, vị này cũng dạy thái tử về sự phát bồ đề tâm rồi gởi thái tử đến một bậc thầy từ đời trước của thái tử là Avadhutipà.

Avadhutipà bảo thái tử: “Hăy trở về kinh đô của phụ vương ngày hôm nay. Hăy quán xét những khuyết điểm nơi lối sống của một cư sĩ thế tục.”

Và thế là thái tử về nhà, khiến cha mẹ ngài rất vui mừng. Họ hỏi: “Con đi đâu thế, hởi Chadragarbha (Nguyệt Tạng). Con có mệt chăng? Có sầu muộn chăng? Ôi thật tốt thay con đă trở về.” Thái tử trả lời:

Con đă đi t́m thầy học đạo
V́ thầy là nơi nương tựa quư báu như Phật
Con đă t́m trong hang núi
Và những nơi tịch mịch hoang vu
Nhưng dù đi đến đâu
Con cũng có thể thấy lỗi lầm của sinh tử.
Bất cứ người bạn nào con gặp
Đều nói cho con nghe những lỗi lầm của sinh tử.
Mặc dù thế, con vẫn chưa được vừa ḷng.
Xin cho con tự do để quay về với Pháp.

Cha mẹ thái tử bảo ngài rằng việc sinh tử làm cho ngài đau khổ như thế, th́ thái tử nên làm vua rồi tha hồ mà cúng dường Tam Bảo, bố thí cho người nghèo, xây chùa, trai tăng, vân vân. Như vậy ngài sẽ hoàn toàn hạnh phuc. Thái tử trả lời:

“Con đă thấy nhiều cảnh khổ sinh tử. Con không chút nào bị lôi cuốn vào những cạm bẫy của cuộc đời vua chúa. Cung vàng điện ngọc đối với con không khác nào lao ngục. Những mỹ nữ không khác ǵ con gái của ma vương. Ba chất ngọt ngào (?) chẳng khác nào thịt chó, mủ và máu. Mặc lụa là trang sức châu báu với đắp một cái mền rách không có ǵ khác nhau. Con sẽ vào rừng để thiền định. Hôm nay hăy cho con một ít thịt, sữa, mật, đường mía để con đi đến bậc thầy Avadhut́pà.” Đấy là đại ư những bài ca được hát cho cha mẹ ngài. Những vị này cho phép ngài làm theo ư muốn, và thái tử khởi hành vào rừng cùng với một ngàn kỵ sĩ đi theo.

Ngài trở thành đồ đệ của Avadhut́pà, người khai thị cho ngài sự phát tâm bồ đề. Ông bảo: “Hăy đi đến chùa Krshnagiri (Hắc sơn) nơi tiên Ràhulagupta đang ở. Ông ấy cũng từng là thầy con trong quá khứ.”

Bậc thầy Ràhula lúc ấy đang giảng giáo lư mật tông. Khi thấy thái tử đi vào, mặc dù đă biết thái tử đến để cầu Pháp, để thử thách ông tung một luồng sét đánh vào thái tử, rồi đi lên đỉnh núi chỗ có một ngôi tháp T́rthika màu đen. Các ẩn sĩ tùy tùng hỏi ông người ấy là ai. Ràhula trả lời: “Trong năm trăm năm mươi hai đời tái sinh, ông ấy luôn luôn làm học giả. Bây giờ ông ấy là thái tử sắp nối ngôi vua Pháp ở xứ Bengal là Kalyànashŕ. Ông ta không màng tới đời sống vương giả, mà mong muốn thực tập khổ hạnh.”

Mọi người đều ngạc nhiên. Họ đứng lên mời thái tử gia nhập vào đoàn họ.

Khi gặp bậc thầy này, At́sha nói:

Hỡi đạo sư thánh thiện xin nghe con đây:
Con đă từ bỏ gia đ́nh
Con mong đạt giải thoát
Nhưng con đă sinh vào nhà danh tiếng
Và có thể trói buộc vào xứ Bengal.
Con đă tôn thờ những bậc thầy
Jitàri, Bodhibhadra, Vidyakokila và Avadhut́pà,
Những bậc đạo sư có thần thông
Nhưng ngay đến bây giờ, con vẫn chưa thoát khỏi
Những bổn phận làm vua.
Nay con được gởi đến Thầy, hỡi bậc Đạo sư:
Xin hăy khai thị cho con giáo lư Đại thừa
Và sự phát bồ đề tâm,
Mong sao con thoát khỏi những trói buộc.

Thái tử tiếp tục năn nỉ vị thầy suốt mười ba ngày. Cuối cùng ông đáp ứng, làm pháp quán đảnh Hevajra cho thái tử và truyền riêng cho ngài tất cả những chỉ giáo. Thái tử được pháp danh trong mật giáo là Jnànaguhyavajra.

Rồi Ràhula bảo tám vị nam nữ khổ hạnh lỏa thể có nhiều thần thông khủng khiếp rằng: “Hăy đi theo ông ấy về Bengal, làm cho nhà vua đổi ư. Khi thái tử đă được giải thoát khỏi phận sự làm vua, th́ hăy đưa ông đến bậc thầy của ông là Avadhut́pà.”

Bấy giờ thái tử trang phục như thần Heruka, đi vào hoàng cung. Mọi người trông thấy đều nhận ra ngài và rất hoảng sợ. Ngài lang thang suốt ba tháng, hành xử như một người điên. Những tu sĩ khổ hạnh đi theo ngài th́ chạy nhảy cùng khắp. Mọi người đều quyết định rằng ngài không c̣n đủ tư cách để trị v́ nữa, và không ai cầm được nước mắt.

Phụ thân ngài là người buồn sầu nhất. Ông nói:

Ôi con tôi! Từ khi sinh con ra
Cha đă thấy con có giá trị phi thường
Cha những tưởng con sẽ làm phận sự quốc vương của con
C̣n ai hạnh phúc hơn con nữa?
Sự ẩn cư trong rừng dă tác hại ǵ đến tâm con như thế?

Thái tử đáp:

Thưa cha, nếu con làm vua
Con chỉ được sống với cha trong đời này
Nhưng rồi cha con không nhận ra nhau trong những đời sắp tới.
Thật sai lầm biết bao khi làm một việc
Không đem lại lợi ích ǵ mà chỉ có hại.
Nếu con từ bỏ đời sống vương giả
Mà thực hành Con đường bảo đảm
Đưa đến giải thoát giác ngộ,
Th́ cha con ḿnh sẽ được hạnh phúc
Trong những đời tương lai
Bởi thế, cha hăy buông con ra!

Bà mẹ nói:

Có ích ǵ đây? Ta không thuyết phục con nổi
Nghiệp là cái tiên quyết
Đă ném tất cả chúng ta vào tái sanh trong đời.
Ôi hỡi người con thánh thiện, cứ việc tu pháp ǵ con cho là tốt nhất,
C̣n mẹ sẽ cầu nguyện được gặp con trong tất cả các đời sau.
Rồi cha mẹ đều cho phép thái tử xuất gia.

Thái tử cùng với những tu sĩ khổ hạnh rời cung điện sáng sớm để đi đến nơi ẩn cư trong rừng của bậc thầy Avadhut́phà, ở đấy ngài học Phật của trường phái Trung quán. At́sha được thụ giáo về những điều vi tế sâu xa của luật nhân quả, từ năm 21 tuổi cho đến năm 29, ngài gần ngang với bậc thầy Avadhutiphà. Vắn tắt là ngài đă thiền quán, chiêm nghiệm về mọi sự mà ngài đă học được. Tác phẩm Quyển Sách Xanh về những Bùa Chú nói: “Ngài đă theo học Avadhut́phà trong bảy năm.”

At́sha đáng lẽ đă lên ngôi làm vua, sự nghiệp rực rỡ không thua ǵ hoàng đế Trung Quốc Li Shi-min, mà hoàng cung có đến mười vạn ngôi nhà với những tràng phan chiến thắng, hai mươi lăm ngàn ao tắm, bảy trăm hai mươi lạc viên, và năm mươi sáu ngàn cây cổ thụ. Ngài cóthể sở hữu ba triệu rưỡi thần dân. Cung điện của ngài được vây quanh với bảy lớp trường thành nối liền bằng ba trăm sáu mươi ba ngôi chùa. Nhưng ngài At́sha vĩ đại đă hiến ḿnh cho Chánh pháp và đă từ bỏ tất cả những cạm bẫy vô song ấy của vương quyền như thể là người ta nhổ nước bọt vào đống rác. Đức Phật đấng Đạo sư của chúng ta cũng đă từng làm như vậy: mặc dù nắm chắc uy quyền của một vị chuyển luân vương trong tay. Ngài đă từ bỏ để xuất gia. Bởi vậy, bạn phải đọc lại một cách say sưa lịch sử của các ngài. Nếu bây giờ có ai bảo chúng ta: “Hăy xả giới hoàn tục, rồi ông sẽ cho làm quận trưởng.” Ta sẽ làm theo ngay không chút do dự. Thế cũng đủ chứng minh tầm mức sự phát tâm của chúng ta.

Thật khó cho chúng ta từ bỏ những vặt vănh trong căn pḥng nhỏ hẹp của ḿnh, nói ǵ đến chuyện từ bỏ uy quyền của vương vị. Hăy xem điều này trái ngược với At́sha, người đă vứt bỏ vương vị xem như đờm dăi, người theo thầy học đạo trải qua bảy năm ṛng. Ngài cũng thọ giáo Kim cang thừa với nhiều bậc đạo sư có thần thông khác, trở thành một học giả về tất cả cổ thư và mọi ngành giáo lư. Một hôm ư nghĩ này khởi lên nơi ngài, “Ta rất uyên thâm về mật giáo.” Nhưng ngài liền mất tất cả kiêu mạn khi ngài mộng thấy một số nữ thần (dàkińs) đưa cho ngài xem nhiều pho sách mật giáo mà ngài chưa từng thấy. Và khi ngài khởi lên tư tưởng, “Ta sẽ đạt những thần thông tối thượng về Đại thủ ấn (mahàmudrà) ngay trong đời này bằng cách áp dụng một cách hành xử có nhiều tính chất mật giáo hơn nữa” (nghĩa là có vợ), th́ đạo sư Ràhulagupta hiện đến với ngài bằng thần thông đi xuyên qua tường vách mà bảo: “Cái ǵ? Con đă quên chúng sinh rồi sao? Hăy thụ giới ngay. Điều này sẽ làm lợi lạc cho nền giáo lư và cho nhiều hữu t́nh chúng sinh.”

Khi thần Heruka xuất hiện trước ngài, và cũng yêu cầu như thế. Ngài cũng mộng thấy Đức Thích Ca Mâu Ni bậc Đạo sư của chúng ta, và Đức Di Lặc, bảo ngài phải thụ giới. Ngài thụ giới cụ túc với ngài Sh́laraksha (Giới hộ), một tu viện trưởng thuộc bộ phái Mahàsamgika (Ma ha tăng kỳ vực), người đă đạt giai đoạn Nhẫn trên đạo lộ chuẩn bị. At́sha được thọ cụ túc giới vào năm 29 tuổi.

At́sha đă theo học một trăm năm mươi bảy bậc thầy, học tất cả các học thuật, kinh giáo và mật giáo cùng những bài dạy truyền khẩu liên hệ. Ngài làm một khảo cứu đặc biệt về những điểm then chốt trong Tứ Phần Luật dưới sự hướng dẫn của Dharmarakshita (Pháp hộ), và làm một bộ luận khổng lồ bao gồm một trăm lẽ tám bài tụng tŕnh bày phần của Thắng pháp (Abhidharma) gọi là “Luận Về Những Điểm Đặc Biệt.” Ngài nghe giảng những giáo lư này trong mười hai năm, và nghiên cứu tường tận. Ngài c̣n am tường tất cả những pháp tu khác nhau của mười tám bộ phái (thuộc bộ phái Vaibhashika - Đại tỳ bà sa), về những vấn đề như thành phần nào trong tăng chúng phải tịnh thí một phần thực phẩm ḿnh xin được, hoặc thứ nước nào được phép uống, vân vân. Bởi thế ngài trở thành viên ngọc tối thượng của cả mười tám bộ phái Ấn Độ.

Nhưng mặc dù ngài đă học và hành tất cả kinh giáo và mật giáo có thể t́m thấy được vào thời ấy tại Ấn, ngài vẫn không ngừng tự hỏi con đường nào là đường nhanh nhất đến giác ngộ, và Ràhulagupta bậc thầy của ngài, đang ở trong hang động núi Krishnagiri, biết được tâm niệm ngài nhờ tha tâm thông, liền đi đến bảo: “Có ǵ hay ho trong việc thấy những linh kiến về các thần bảo hộ, làm xuất hiện được nhiều bộ loại chư thần trong những đồ h́nh, phô diễn được vài thần thông vặt vănh, hoặc đạt được định vững như núi đá? Hăy luyện tâm người về ḷng từ mẫn và tâm bồ đề. Đức Thiên Thủ Quán Thế Âm là vị bồ tát của ḷng từ mẫn, hăy cầu ngài làm thần bảo hộ cho ngươi và phát nguyện làm lợi lạc loài hữu t́nh cho đến khi cơi sanh tử trống rỗng.”

Một ngày kia, trong khi At́sha đang kinh hành quanh Kim cang ṭa của Phật tại Bồ đề tràng, ngài nghe cuộc đàm thoại giữa hai pho tượng. Một lần khác, có hai thiếu nữ đă vượt được những giới hạn của thân xác con người, đang nói chuyện trên bầu trời phía nam của Bồ đề tràng. Một cô hỏi: “Muốn giác ngộ cho toàn vẹn và nhanh th́ người ta nên tu theo pháp nào?” Cô kia bảo: “Hăy tu luyện tâm bồ đề.” - “Phải đấy, tu bồ đề tâm là phương tiện cao cả nhất.”

At́sha đă dừng kinh hành để nghe cuộc đàm thoại, và ghi hết vào ḷng như một b́nh chứa nhận hết nước trút từ b́nh khác.

Có lần ngài đang đứng cạnh hàng rào bằng đá do bậc thầy Long Thụ dựng lên, th́ nghe ở đấy có một bà già bảo cô gái: “Bất cứ người nào muốn đạt giác ngộ sớm phải tu luyện tâm bồ đề.”

Một pho tượng Phật ở dưới hành lang của ngôi đại điện tại Bồ đề tràng có lần bảo At́sha, trong khi ngài đang kinh hành tại đấy: “Hỡi khất sĩ, nếu ngươi muốn giác ngộ sớm, th́ hăy tu luyện tâm từ, tâm bi và tâm bồ đề.”

Một lần khác, khi ngài đi quanh vách đá một am cốc nhỏ, pho tượng Đức Thích Ca bằng ngà voi nói với ngài: “Hỡi thiền giả, hăy tu luyện tâm bồ đề nếu ngươi muốn sớm đạt toàn giác.”

Thế là At́sha tu tập phát triển tâm bồ đề hơn bất cứ lúc nào trước đấy, và v́ muốn tu đạt đến trạng thái cao nhất của tâm bồ đề, ngài tự hỏi: “Ai là người nắm giữ toàn bộ giáo lư về điều này nhỉ?” Ngài tra tầm và nhận ra chính Suvarnadv́pi là người nổi tiếng bậc thầy về tâm bồ đề. Ngài dự định đi đến vị ấy (ở Nam Dương) để thụ giáo một cách toàn triêt về bồ đề tâm. Ngài vượt đại dương suốt mười ba tháng trên một con thuyền với vài thương gia đi buôn bán. Khi ấy Kàmadeva, thần dục lạc, v́ không chịu nổi sự lan truyền của Phật pháp, muốn ngăn cản tâm bồ đề của At́sha, nên đă thổi một luồng gió mạnh để làm cho chiếc thuyền xoay quanh, lại hóa một con cá voi lớn án ngữ trước mũi không cho thuyền đi tới, hóa sấm chớp, vân vân, gây khá nhiều rối loạn. Hiền trí Kshitagarbhà xin At́sha xử dụng thần thông giận dữ. Ngài bèn nhập định quán tưởng thần Yamàtaka màu đỏ hiện ra hàng phục được đám quỷ quấy phá, và cuối cùng đoàn người đến Nam Dương.

At́sha đă trở thành một học giả và hành giả vĩ đại. Như ta đă nói, lúc mới mười tám tháng tuổi, ngài đă tự thốt ra những lời chứng tỏ ngài đă am tường về tâm bồ đề. Thế mà ngài vẫn t́nh nguyện trải qua bao nhiêu gian khổ để đi đến Nam Dương, điều ấy chứng tỏ cho chúng ta thấy trong phái Đại thừa, không có ǵ quan trọng cốt cán hơn là bồ đề tâm.

At́sha trải qua cuộc hành tŕnh đến mười ba tháng nhưng không bao giờ ngài cởi chiếc áo tu sĩ, dấu hiệu của giới pháp. Ngài không du hành như chúng ta ngày nay. Các tu sĩ bây giờ mỗi khi đi xa, vừa ra khỏi tu viện là đă khoác y phục thế gian, một số người lại c̣n đeo bao gươm dài vào nữa. Tôi nghĩ có lẽ người ta phải sợ hăi khi trong thấy họ và tự hỏi, “Có phải là bọn cắt cổ người ta chăng?” vậy ta phải nêu gương bằng cách đừng cởi pháp phục, dấu hiệu chứng tỏ ta đă thụ giới cụ túc. Kaedrub Rinpoche nói:

Thân thể của vị tỷ kheo đẹp là nhờ pháp phục
Khi nào tu sĩ đă thụ giới
Mà mặc y phục thế gian
Lối cư xử ấy làm giáo lư suy tàn.

Một vài người tuyên bố: “Người ta nên thuần thục từ bên trong” mà không giữ bề ngoài chút nào. Điều này không tốt cho giáo lư chung. Mọi hoạt động của tăng chúng cần được thực hiện có giới luật và an tịnh. Xá Lợi Phất đạt đến địa vị kiến đạo là nhờ thấy cung cách của Ashvaji.

Trở lại chuyện At́sha đến đảo Nam Dương. Ngài trong thấy một vài thiền giả đệ tử của Suvarnadviṕ. At́sha cùng những đồ đệ của ngài nghỉ ngơi nửa tháng và yêu cầu các thiền giả kể cho nghe câu chuyện về cuộc đời đạo sư Suvarnadviṕ. Nếu là chúng ta th́ khi đến đấy, chúng ta sẽ đến diện kiến bậc thầy tức khắc; như At́sha không làm như vậy. Thay v́ thế, ngài xem xét cuộc đời của bậc thầy. Ngài nêu một tấm gương cho ta: trước hết ta phải tra tầm về bậc thầy cho đúng cách.

Một vài người vội vă đi đến bậc thầy Suvarnadviṕ và bạch: “Bạch thầy, nhà đại học giả D́pamkàra Shrijnana, người nổi tiếng nhất khắp vùng Đông và Tây Ấn, đă vượt biển với bao gian nan suốt mười ba tháng cùng với một trăm hai mươi lăm đồ đệ đă đến để thụ giáo với ngài về Bát nhă, bà Mẹ của tất cả những đấng Chiến thắng. Họ cũng đến để học pháp Đại thừa về huấn luyện tâm để phát nguyện và khai triển những h́nh thức tu tập tâm bồ đề.”

Suvarnadviṕ nói: “Kỳ diệu thay một học giả vĩ đại như thế đă đến xứ ta. Chúng ta phải đi chào đón.”

Khi At́sha đến gần ṭa lâu đài của Suvarnadviṕ, ngài và tùy tùng trông thấy từ xa một đám rước đang đến đón mừng, dẫn đầu chính là bạc thầy Suvarnadviṕ, theo sau là năm trăm ba mươi tu sĩ. Họ trông như những vị A la hán, mặc ba y có màu sắc thích đáng với tu sĩ, mang theo đồ đựng nước và gậy sắt thực đẹp, có sáu mươi hai sa di theo hầu. Tất cả đoàn gồm năm trăm chín mươi bảy vị đă thụ đại giới. Vừa trông thấy đám rước trang nghiêm ấy, giống y những vi la hán thời Phật, đoàn của At́sha vô cùng hoan hỉ.

Rồi những bậc hiền trí tinh thông ngũ minh như At́sha và Kshitagarbha, và những tỷ kheo thông ba tạng, khởi sự đi đến tư thất của thầy Suvarnadviṕ. Họ đều mang dép đúng luật và đắp ba y nhuộm vàng của xứ Kashmir, được phái Mahasamghika ưa chuộng. Để mọi người bản xứ có thể tu phước cúng dường, họ mang bát khất thực bằng sắt đă được tu bổ chỉnh tề, và đem theo tất cả dụng cụ đúng luật của tỷ kheo, như b́nh chứa nước bằng đồng có thể chứa một drona đơn vị đo ở Magadha (Ma kiệt đà), và chiếc gậy bịt sắt mà đức Thế Tôn thường ca ngợi. Tất cả đều đội măo học giả với những chóp măo cùn không nhọn để chứng tỏ sự vắng bóng kiêu mạn. Và tất cả đều thịnh trọng cầm những chiếc phất trần. Cả đoàn gồm một trăm hai mươi lăm vị đi hàng một tháp tùng At́sha, cách khoảng nhau đúng phép - một ḍng người đi toàn hảo như môt cáik ráng cầu vồng ngũ sắc. Mọi sự thật huy hoàng; làm cho chư thiên hoan hỉ mưa hoa xuống cúng dường. Mọi người dân trên quần đảo đều ngạc nhiên tán thán những cung cách của hai bậc đạo sư này, và phát sinh tịnh tín. At́sha dâng vị thầy một cái b́nh trong suốt đựng đầy vàng, bạc, xa cừ, san hô, hổ phách. Cử chỉ tốt lành này báo trước ngài sẽ thụ giáo tất cả những chỉ giáo về đào luyện tâm bồ đề, hệt như một cái b́nh chứa tất cả những ǵ mà một b́nh khác trút sang.

Họ lui về pḥng của bậc thầy trong ṭa lâu đài với lọng che bằng bạc. Tại đây, bậc thầy Suvarnadviṕ đầu tiên dạy họ mười lăm (trong số bảy mươi) đề tài từ tác phẩm của đức Di Lặc “Sự Trang Hoàng Cho Thực Chứng”, kèm theo những chỉ giáo khẩu truyền liên hệ. Bậc thầy ngay tức khắc rất hài ḷng với At́sha, họ cùng nghỉ đêm tại một nơi. Và thế là bắt đầu mười hai năm ṛng trong thời gian ấy At́sha và những môn đệ của ngài thụ giáo toàn bộ những lời giảng dạy về ư nghĩa thâm áo của tôn kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa - “Bà Mẹ Thánh” theo hệ truyền thừa mà Di Lặc truyền cho Vô Trước. Họ cũng nhận những chỉ giáo đặc biệt về sự đào luyện tâm bồ đề nhờ phương pháp đổi địa vị ḿnh với người khác; hệ phái này là từ Đức Văn Thù truyền xuống Shantideva. Họ học hỏi, quán tưởng, và thiền định về những lời chỉ giáo ấy một cách toàn triệt. Nhờ trao đổi địa vị ḿnh với người, họ đă phát triển tâm bồ đề chân thực trong tâm thức, ở dưới chân bậc thầy.

Một ngày kia, bậc thầy gọi At́sha - bây giờ đă làm chủ nền giáo lư - tiên đoán ngài đi Tây Tạng sẽ có nhiều môn đệ.

Thưa ngài, ngài không nên ở lại đây
Mà hăy đi về hướng Bắc
Hướng về phương Bắc, đến Xứ Tuyết

C. NHỮNG VIỆC NGÀI ĐĂ LÀM SAU KHI CÓ ĐƯỢC NHỮNG SỞ ĐẮC.

Có hai phần: (1) Ngài làm ǵ ở Ấn; (2) Ngài làm ǵ ở Tây Tạng.

1) TẠI ẤN ĐỘ

Khi At́sha trở về Ma kiệt đà (Magadha), ngài sống tại Bồ đề tràng, và đă ba lần ngài đánh bại tranh luận những người theo các tà giáo, đưa họ về chánh pháp. Ngài c̣n làm sáng nền giáo lư bằng những cách khác nữa. Vua Mahàbala (Đại lực) đề cử ngài đến cai quản thư viện của tu viện Vikramash́la. Mặc dù At́sha chính yếu là theo truyền thống đại chúng bộ (Mahasamghika), ngài c̣n tinh thông những truyền thống của tất cả bộ phái khác; và chỉ v́ ngài không có đầu óc bè phái nên đă trở thành viên bảo châu tột đỉnh của tất cả hội chúng ở Ma kiệt đà cũng như khắp xứ Ấn. Ngài được toàn thể công nhận là bậc thầy của toàn bộ giáo lư của ba tạng kinh và bốn loại mật giáo. C̣n về sự giảng dạy th́ người ta có cảm nghĩ gần như là chính Đức Phật đă tái thế.

2) TẠI TÂY TẠNG

Những giáo lư phổ cập đầu tiên đến Tây Tạng vào lúc bấy giờ đă mai một. Sự truyền bá giáo lư hậu kỳ đă được thịnh hành. Nhưng một số người tập trung vào tạng luật và bỏ qua mật giáo; một số khác th́ ngược lại. Kinh giáo và mật giáo trở thành đối chọi nhau như nước với lửa. Nhiều bậc học giả nổi danh từ Ấn đến Tây Tạng, bị viễn ảnh vàng ở đấy dụ dỗ. Họ lừa bịp người bản xứ với nhiều mật điển xấu ác và đầy dục tính. T́nh trạng đă hóa thành hết sức khó khăn để gieo rắc nền giáo lư thuần tịnh của đấng Chiến thắng. Quốc vương Tây Tạng bấy giờ là Lhalama Yeshe Oe rất đau ḷng trước t́nh trạng ấy. V́ muốn hoàng truyền nền giáo lư thuần tịnh, ông đă gửi hai mươi mốt sinh viên thông minh của Tây Tạng sang Ấn hầu mong khi họ trở về sẽ thành những bậc hiền trí có thể ích lợi hơn cho dân Tây Tạng. Tất cả họ đều chết chỉ c̣n lại hai vị Rinchen Zangpo và Legdaen Sherab; cả hai đều trở nên tinh thông giáo lư nhưng vẫn chưa có thể rước At́sha theo họ về Tây Tạng. Khi về nước, họ yết kiến vua để bàn cách làm thế nào để ḥa hợp kinh giáo và mật giáo với cách hành tŕ và tin tưởng của mọi học giả Ấn. Họ nói: “Những học giả kia không ích lợi ǵ cho Tây Tạng. Ở Vikramash́la, có một vị tăng ḍng dơi vua chúa đă đạt giải thoát. Ngài có danh hiệu là Dipankara Shrijnàna. Nếu bệ hạ mời được vị ấy th́ chắc chắn sẽ lợi lạc cho Tây Tạng. “Họ cũng nói rằng tất cả những học giả khác đều đồng ư về điểm này.”

Lời nói của họ làm cho vua an tâm, nhưng quan trọng hơn nữa là, vua đă phát sinh một ḷng tin mănh liệt không lay chuyển ngay khi vừa nghe đến danh hiệu của ngài. Vua phái Gyatsoen Senge cùng với tám vị khác đi rước At́sha về. Họ đem nhiều vàng, nhưng họ đă thất bại. Chính vị vua cầu Pháp cũng đi t́m thêm vàng để có thể rước bậc hiền trí ấy về xứ ḿnh.

Trưởng bộ lạc Garlog biết vị vua đang t́m cách để truyền bá Phật pháp nên bắt cóc nhà vua cầm tù và hăm dọa sẽ giết nếu không bỏ ư định, Jangchub Oe cháu gọi vua bằng chú, đến t́m cách giải thoát cho ngài, nhưng viên tù trưởng nói: “Một là người bỏ ư định rước học giả ấy về nước, và ngươi phải làm nô lệ cho ta, hai là đem một số vàng bằng sức nặng của vua, th́ ta mới thả vua về.” Jangchub Oe hứa giao vàng. Ông đưa ra hai trăm lượng vàng mang theo, nhưng người tù trưởng nhất định không chịu. Cuối cùng ông đem tất cả số vàng nặng bằng sức nặng của con người vua trrừ cái đầu. Tù trưởng cũng không bằng ḷng, bảo: “Tôi cần cả đầu, tất cả.”

Jangchub không có cách nào kiếm thêm vàng, nên đến cửa ngục khóc và thưa với nhà vua: “Chú ơi, chú đă sống rất nhân từ, nhưng chú phải là nạn nhân của nghiệp của quá khứ. Nếu cháu cử binh để đánh bại tên tù trưởng này th́ sẽ có rất nhiều người chết và cháu sợ chúng sẽ đọa vào cơi thấp xấu. Tên tù trưởng này bảo cháu không được đi mời vị học giả này về, và phải làm nô lệ cho y. Nhưng nếu chúng ta từ bỏ Pháp Phật th́ tức đă đầu hàng tên tù trưởng tội lỗi này. Cháu nghĩ là tốt hơn chú hăy kiên tŕ với chánh pháp. Y bảo cháu phải đem một trọng lượng vàng bằng cả người chú, nhưng cháu chỉ kiếm được số vàng nặng bằng thân thể chú ngoại trừ cái đầu. Y không chịu, nên bây giờ cháu lại ra đi t́m thêm vàng cho đủ số để chuộc chú về. Trong thời gian đó, xin chú hăy nghĩ đến nghiệp quá khứ của chú, cầu xin Ba ngôi báu, và nhất là chú nên dũng cảm mà tạo phước nghiệp.”

Đức vua cười lớn mà bảo: “Ta cứ tưởng là cháu đă sống một đời dễ chịu sung túc nên không chịu nỗi gian nan, không có chút can đảm nào. Bây giờ ta mới thấy cháu có thể chấn hưng truyền thống của tổ tiên sau khi ta chết. Cháu đă hành động rất tốt, ta rất hài ḷng. Ta nghĩ thật sai lầm nếu ta chết mà chưa thiết lập được một nền chánh pháp không lỗi lầm cho xứ Tây Tạng. Ta đă già, và nếu chưa chết bây giờ th́ ta cũng chỉ sống thêm mười năm nữa là cùng. Nếu ta bỏ ra quá nhiều vàng như thế chỉ để sống thêm chừng ấy tuổi, th́ thật làm cho Ba ngôi báu cũng thất điên bát đảo. Trong những đời quá khứ của ta trong ṿng vô thỉ sinh tử, ta chưa có một lần nào được chết cho chánh pháp. Vậy th́, cháu đừng đưa cho tên tù trưởng một vụn vàng nào cả, thật tốt biết bao nếu ta được chết cho chánh pháp. Mà chúng ta có thể đào đâu ra được số vàng để chuộc cái đầu ta? Hăy đem hết vàng đi Ấn Độ, và làm mọi cách cháu có thể làm để thỉnh bậc hiền trí At́sha về.

Nếu ngài cho con tiếp kiến, th́ hăy trao lại thông điệp này của ta: “Con hy sinh mạng sống v́ giáo lư của Phật và của chính ngài. Xin hăy che chở cho con trong những đời c̣n lại, bằng ḷng bi mẫn của ngài. Ư định duy nhất của con là rước ngài về Tây Tạng; và con làm thế chỉ v́ mong cho giáo lư Phật được lan truyền khắp xứ. Bởi vậy xin ngài hăy chấp nhận lời yêu cầu của con. Xin hăy gia hộ cho con để chắc chắn chúng ta sẽ gặp gỡ trong những đời vị lai.” Này cháu, cháu hăy quên chú đi, và nghĩ đến những lời dạy của đức Phật.”

Nhà vua đă yếu, giọng ngài rất đổi thương tâm, nhưng Jangchub có thể tin chắc ngài chỉ nghĩ đến thần dân Tây Tạng, đến giáo lư Phật, và đến At́sha. Ông bất đắc dĩ phải từ giả người chú thân yêu. Ḷng ông thêm can đảm, và ông đă hành động đúng theo ước nguyện của người chú.

Ở Tây Tạng có nhiều người tin theo rất nhiều tín ngưỡng sống sượng mà họ cho là mật tông. Một vài phái như vậy là Đạo sư Váy Đỏ, Hiền trí Váy Xanh vô sỉ, và Mười Tám Khất Sĩ của Artso. Muốn dẹp những người này một cách êm thắm (“dứt đẹp”), vua Jangchub Oe cầu xin Tam Bảo chỉ dẫn cho biết trong đ́nh thần ai là người sẽ thỉnh At́sha về được. Tất cả những lần xin xăm bói tinh tú đều ám chỉ vị dịch giả tên Nagtso. Vị này khi ấy đang ở Ngôi Chùa Vàng tại Gungtang. Vua triệu vời ông tới Ngari, nhưng sợ ông không chịu sang Ấn, vua bèn mời ông lên trên ngai và tặng ông nhiều quà và bảo: “Ông phải năn nỉ At́sha, hăy thay ta mà nói với ngài như sau, “Ngài đă được nhiều người ca tụng sự uyên bác, đạo đức, và ḷng từ bi của ngài. Tổ tiên tôi, những vị vua trong quá khứ và đ́nh thần, đă thiết lập nền giáo lư của Phật tại vương quốc này. Giáo lư ấy đă trở thành tục lệ, được phát triển, lan rộng. Nhưng hiện tại nền giáo lư của Phật đang lâm vào t́nh trạng đáng buồn. Một giống ṇi quỷ sứ đă đă thắng lướt. Những bậc học giả quá cố chắc sẽ phải rầu rĩ về chuyện này. Cả tôi lẫn chú tôi đă gửi rất nhiều vàng sang xứ Ấn, hao tốn rất nhiều người và của mà vẫn không đưa được ngài về. Vua chúng tôi đă không chịu nổi việc này và đă đích thân đi t́m vàng. Một tộc trưởng ác độc đă cầm tù vua. Nhà vua đă bỏ mạng. Nếu thấy chúng tôi đă tỏ nhiều can đảm như vậy mà ngài vẫn làm cho chúng tôi thất vọng, chúng tôi những chúng sinh ngu muội ở vùng đất Tây Tạng xa xôi này, th́ làm sao ngài c̣n được xem là từ bi và là nơi nương tựa của mọi hữu t́nh?”

“Ta c̣n đây một ngàn bốn trăm lượng vàng. Hăy đem theo mà dâng cho bậc đạo sư và nói: Xứ Tây Tạng chúng tôi giống như đô thị của quỷ đói. T́m vàng ở xứ tôi chẳng khác nào t́m rận trên con cừu, thật rất khó khăn. Số vàng này là tài sản của toàn thể dân Tây Tạng. Nhưng nếu ngài không chịu đến Tây Tạng, hỡi bậc đạo sư, th́ điều đó chứng tỏ người ít từ bi làm sao. Khi ấy chúng tôi không bao giờ biết làm ǵ để tự cải thiện ḿnh nữa.” Này Ngatso, ông đang nắm giữ tạng Luật. Hăy đích thân kể cho At́sha câu chuyện của chúng ta. Nếu ngài từ chối, th́ hăy tŕnh bày hoàn cảnh thế nào cho ngài hoàn toàn thông cảm.

Vua khóc nhiều tới nỗi nước mắt vua rơi xuống mặt bàn, xuống bắp vế. Nhà phiên dịch Ngatso, mà tên thực là Tsultrim Gyaelwa, từ trước chưa từng đi đây đi đó, và hoàn toàn không thích phiêu lưu đến vùng đất xa xôi. Nhưng ông ta không nỡ nào nói lên tất cả những điều ấy. Chúng ta có câu ngạn ngữ: “Người nào thấy người khác khóc sẽ khởi sự khóc theo.” Ông chưa từng gặp Yeshe Oe, nhưng biết những ǵ vua nói là hoàn toàn đúng sự thật. Ông biết vị vua chú đă tiêu phí nhiều vàng, và cả hai chú cháu đă từ bỏ hạnh phúc riêng tư chỉ v́ mong muốn hạnh phúc cho thần dân. Vua đă làm cho Ngatso rất xúc động. Ông không thốt được lời nào, toàn thân run lên và mặt ông tràn đầy nước mắt tới nỗi ông không thể nh́n lên vua. Vua yêu cầu ông hăy liều mạng sống và tay chân, nhưng ông không có ǵ ràng buộc với hạnh phúc cơi đời này, và nói ông sẽ tuân lệnh ra đi.

Ông nhận một ngàn bốn trăm lượng vàng từ tay nhà vua và bảy vị bộ trưởng, rồi khởi hành đi Ấn Độ. Nhà vua tiễn ông một quăng đường dài và bảo: “Này tỷ kheo, ông đang làm việc nhân danh tôi. Ông đang liều cả mạng sống và chân tay, với một sự kiên nhẫn lớn lao ông đang đi đến chốn gây nhiều khó khăn gian khổ cho ông. Khi ông trở về, tôi sẽ đền ơn ông.” Nhà vua đi trở lui một đỗi đường mà bảo: “Hăy cầu nguyện đức Đại Bi Quán Thế Âm trong khi ông du hành.”

Khi nhà phiên dịch Nagtso và đoàn tùy tùng đến kinh đô Nepal, họ gặp một người đàn ông cao ráo nói với họ rằng: “Tôi thấy các ngài đi xa v́ một sứ mệnh trọng đại. Các ngài sẽ thành công nếu giữa đường cứ niệm: Nam mô Tam Bảo! Cầu xin Chánh pháp vi diệu, suối nguồn của chư Phật trong ba đời, sẽ lan truyền trên Xứ Tuyết. Hành tŕnh các ngài sẽ an ổn nếu các ngài vừa đi vừa niệm như thế.” Đoàn người lữ hành hỏi ông ta là ai, ông nói: “Rồi đây các ngài sẽ biết.”

C̣n nhiều hóa thân khác nhau của Dromtoenpa (sẽ là cao đồ của At́sha về sau). Những hóa thân này đă dẹp nhiều nguy hiểm đe dọa Nagtso và đoàn tùy tùng trên đường đi.

Cuối cùng họ tới cổng Vikramashila. Trên cổng có một điếm canh, và Ngatso hiểu được Tạng ngữ nên gọi xuống qua một khe hở trên điếm canh. Tiếng nói từ bên kia vọng xuống: “Thưa các ông Tây Tạng, các ông từ đâu đến.” Họ trả lời: “Chúng tôi từ vùng thượng Ngari.”

“Có một người gác cổng. Các ngài cứ giao cho người ấy giữ đồ đạc. Hăy ngũ ngon tại một chỗ trú đêm nào đó. Ngày mai cổng sẽ mở ngay khi trời vừa sáng.”

Họ đưa số vàng cho con trai người gác cổng cất vào buồng trong, nó nói: “Hăy tin tôi như bản thân. Đừng lo lắng. Chúc ngủ ngon.”

Họ nghĩ rằng một bé trai mà biết nói những lời như thế thực không phải người tầm thường, và điều đó làm cho họ an tâm.

Sáng hôm sau, vừa khi cổng mở, một đứa bé xuất hiện. Nó đội một chiếc măo nhọn và phục sức như một dân du mục Tây Tạng - áo đủ hai lớp len, mang một cái bát bằng gỗ. Em bé hỏi: “Các vị người Tây Tạng này từ đâu đến? Coi các vị đi đường cũng không đến nỗi nào.”

Đoàn lữ hành của Nagtso cảm thấy thật ấm ḷng khi gặp được một người nói thổ ngữ của dân du mục. Họ trả lời: “Chúng tôi đến từ miền thượng Ngari. Chúng tôi đă có một chuyến hành tŕnh êm xuôi. Cái ǵ đă đưa bạn đến đây? Bây giờ bạn đi đâu?”

Đứa bé trả lời:

“Cháu cũng người Tây Tạng. Cháu đang đi về Tây Tạng. Những người Tây Tạng chúng ta có thói vào tai ra miệng. Chúng ta quá ngây ngô, không thể giữ một bí mật nào cả. Cho nên chuyện ǵ quan trọng phải làm thật kín đáo. Gyatsoen Senge đang ở trong khu vực người Tây Tạng. Cứ hỏi lần đường, rồi các ngài sẽ gặp.” Nói xong cậu bé bỏ đi.

Đoàn người đi vào một con đường dài, theo con đường ấy và gặp môt ông già trông rất thánh thiện tay cầm chiếc gậy trúc. Ông hỏi: “Các ông từ đâu đến? Có chuyện ǵ quan trọng khiến các ông đến nơi này?”

Họ trả lời: “Chúng tôi từ miền thượng Mgari đến đây. Chúng tôi đến để thỉnh ngài At́sha uyên bác về. Nhà của Gyatsoen Senge ở đâu, thưa cụ?”

Ông già thánh thiện chống gậy đứng và lăn tṛn đôi mắt. “Thằng bé gặp các ông sáng nay nói không sai. Người Tây Tạng không giữ mồm miệng ǵ cả. Cứ nói toạc mọi sự ra cho mọi người ngoài đường biết hết. Các bạn c̣n mong làm được việc ǵ với kiểu thẳng như ruột ngựa ấy! Cũng may mà bạn nói với tôi. Nhưng bây giờ, đừng nói cho ai biết ngoài trừ At́sha. Tôi sẽ chỉ đường đi đến Gyatsoen Senge.”

Ông già đi chậm răi, thế mà Nagtso không tài nào theo kịp. Nagtso trông thấy ông đứng đợi trên ngưỡng cửa lối vao khu vực người Tây Tạng.

Ông giàbảo: “Những việc trọng đại cần phải làm từ từ. Gấp rút một cách từ từ. Điều bạn muốn đang ở một khoảng cách rất xa, bạn phải trèo ngọn núi theo từng bước một. Đây nhà ông ta đây.”

Nagtso đi vào và dâng vàng cho Gyatsoen Senge, vị dịch giả. Gyatsoen trông thấy ông liền hỏi: “Ông từ đâu tới?”

Nagtso kể tỉ mĩ câu chuyện ḿnh.

Gyatsoen nói: “th́ ra bạn đă có lần là đệ tử tôi. Thế mà tôi không nhận ra. Đừng cho ai biết bạn tới đây để thỉnh At́sha, mà hăy nói các bạn đến để học. Ở đây co một trưởng lăo tên Ratnàkarashànti là người có rất nhiều uy lực, và là thầy của At́sha. Chớ để ông ta nghi ngờ việc các bạn dự định làm. Bây giờ chúng ta sẽ dâng cúng ông một lượng vàng. Hăy nói với ông: “Chúng tôi đă không mời được học giả nào cả.” Rồi đừng hấp tấp vội vàng ǵ hết; đừng lo lắng ǵ hết. Khi thời cơ thuận tiện đến, ta sẽ khéo léo mời At́sha đến đây.”

Nagtso và Gyatsoen Senge cùng đi thăm trưởng lăo Ratnà và hiến tặng lượng vàng. Nagtso nói chuyện một lát với ông ta, như những ǵ đă định nói.

Vị trưởng lăo nói: “Thật kỳ diệu, những bậc hiền trí khác không thể nào hàng phục hữu t́nh được. Điều ấy không phải nói quá đáng. Giáo lư Phật đă xuất phát từ xứ Ấn thật đấy, nhưng nếu không có At́sha th́ chúng hữu t́nh ở đây cũng ṃn mơi công đức.” Ông ta c̣n nói nhiều điều khác.

Trong một thời gian, họ rất khó mà gặp được At́sha. Nhưng những hóa thân của Quán Tự Tại đă cung cấp nhiều cơ hội tốt lành cho At́sha du hành đến Tây Tạng. Vào một ngày, khi không c̣n vị vua chúa hay học giả nào của Ấn ở quanh quẩn để có thể nghi ngờ chuyện xảy đến, Gyatsoen Senge gọi Nagtso đến và đưa ông vào pḥng At́sha. Họ dâng cúng cho ngài một đồ h́nh (mandala) về thế giới cao một trượng, vây quanh bằng vàng ṛng.

Dịch giả Gyatsen Senge thay mặt nói về quốc vương xứ Tây Tạng là một vị Bồ tát, và Pháp đă được lan truyền dưới ba triều đại của ba vị pháp vương Songtsean Gampo, Trisong Detsaen, và Raela Saen. Ông kể nào là vua Langdharma đă tàn hại nền giáo lư như thế nào, thế nào vị lama vĩ đại là Gompa Rabseal đă cố bảo tồn Tăng già, làm cho số lượng tăng chúng nhiều thêm. Ông nói về sự hi sinh của vị vua thúc phụ đă làm để rước cho được At́sha đến Tây Tạng. Ông nói lại thông điệp của Jangchub Oe, và mô tả loại Pháp quái gở đang thắng thế tại Tây Tạng.

Gyatsoen nói:

“Bạch đại sĩ, vị Bồ tát vua của xứ Tây Tạng đă phái người này đến gặp ngài. Xin ngài chớ từ chối, bảo để đến sang năm tới sẽ đi. Hăy thương xót xứ Tây Tạng chúng tôi.

At́sha nói:

“Vua xứ Tây Tạng là một vị bồ tát. Ba vị pháp vương là những hóa thân của Bồ tát. Gompa Rabsel cũng là Bồ tát hóa thân, nếu không thế th́ ông đă không thể khơi dậy những tàn lửa của nền giáo lư. Những vị vua Tây Tạng đều là Bồ tát. Thật không phải lẽ nếu tôi bất tuân mệnh lệnh của một vị Bồ tát. Tôi cảm thấy hổ thẹn trước vị vua này. Ngài đă tốn nhiều vàng bạc. Những người Tây Tạng các ngài đang lâm vào t́nh trạng thực đáng thương. Nhưng tôi đang giữ ch́a khóa của nhiều ngôi điện thờ trong tu viện này, tôi lại già cả. Tôi có nhiều phận sự phải chu toàn. Đi Tây Tạng th́ tôi không c̣n hi vọng ǵ về nước lại. Tuy thế tôi sẽ xem xét lại vấn đề này. Bây giờ, các vị cứ giữ lấy số vàng cái đă.” Rồi ngài cho họ lui ra.

At́sha xét xem nếu v́ ḷng thương tưởng những môn đồ Tây Tạng tương lai mà ngài đi đến đấy, th́ việc ấy có lợi ích ǵ cho nền giáo lư của Phật hay không. Ngài cũng xét xem việc này có làm ngài giảm bớt thọ mạng không. Các vị thần linh như Quán Tự Tại, Tara vân vân, đều cho ngài biết nếu ngài ra đi th́ điều ấy rất lợi ích cho tất cả hữu t́nh và cho nền giáo lư. Nhưng ngài cũng sẽ giảm thọ nếu ngài ra đi. At́sha hỏi giảm thọ bao nhiêu. Thần cho biết, nếu không đi ngài sẽ sống tới chín mươi mốt tuổi, mà đi ngài chỉ sống tới bảy mươi ba, vậy có nghĩa ngài giảm thọ đến gần hai mươi năm. Khi ấy At́sha nghĩ đến tất cả những lợi lạc của việc đi Tây Tạng, nếu v́ thế mà giảm thọ th́ cũng không sao. Ư Thức về mục đích nơi ngài thật mănh liệt tới nỗi ngài không kể ǵ tới thọ mạng.

Tuy nhiên, At́sha lại không muốn đi ngay, v́ Tăng chúng ở Ấn và cư sĩ ngoại hộ sẽ bảo rằng nguồn cội giáo lư Phật tại Ấn sẽ đi đến suy tàn. Muốn tránh những lời như vậy, At́sha đă dùng phương tiện thiện xảo là, thay v́ nói với mọi người rằng ngài sắp đi Tây Tạng, ngài lại nói ngài sẽ làm một cuộc du hành rộng răi chiêm bái Phật tích tại Bồ đề tràng và những nơi thánh địa, đi chỗ này chỗ kia. Dromtoenpa vốn dĩ là một ông vua Pháp chính hiệu, khôn khéo hóa ḿnh làm những thương gia. Không để ai ngờ vực ǵ cả, họ đă đem theo về Tây Tạng nhiều thánh tượng của đức Manjuvaja (một hóa thân của Guhyasamàja) vân vân, biểu tượng cho những thân Phật, và nhiều kinh điển, biểu tượng cho Lời của đấng giác ngộ. At́sha đến vị Trưởng lăo thầy ngài để hỏi ngài có được phép đi Nepal và Tây Tạng chăng, v́ ở những nơi ấy có nhiều bảo tháp và thánh địa đặc biệt ngài muốn viếng thăm cho biết. Vị trưởng lăo quan sát thấy At́sha dường như rất muốn ra đi, và những người Tây Tạng coi bộ cũng nhất quyết rước At́sha về bằng được, bởi thế ngài cho phép At́sha ra đi một thời gian. Nagtso vị dịch giả phải hứa đưa At́sha trở về Ấn trong ṿng ba năm tới.

Thế là At́sha và đồ đệ rời xứ Ấn để đi đến vương quốc Nepal. Quốc vương Tây Tạng đi đón với ba trăm kỵ sĩ và lễ chào mừng trọng hậu. Người ta kể lại rằng dân chúng địa phương vừa trông thấy ngài đă phát sinh tín tâm thanh tịnh đối với Tam bảo, ḍng tâm thức của họ được nhiếp phục.

(Pabongka Dorje Chang c̣n nói chi tiết cuộc gặp gỡ của At́sha và nhà dịch thuật vĩ đại là Richen Zangpo)

Khi ấy vua Jangchub Oe tŕnh bày với At́sha như sau. Trong quá khứ ba vị vua Pháp đă chịu đựng bao nhiêu gian khó để thiết lập nền Giáo lư Phật tại phương Bắc xứ Tuyết. Nhưng Langdharma đă phá hoại Phật pháp. Tổ tiên của Jangchub Oe những vị vua pháp ở Ngari, đă tái lập chánh pháp ở Tây Tạng không kể đến mạng sống của họ. Nhưng hiện tại, có nhiều người chỉ chuyên thực hành mật giáo mà bỏ luật. Những người khác th́ lại thề chỉ theo luật mà bài xích mật tạng. Kinh giáo và mật giáo được xem là đối nghịch nhau như nước với lửa. Mọi người mạnh ai nấy tu theo kiểu ḿnh ưa thích, và nhất là hai đạo sư Váy đỏ và Váy xanh giảng dạy một thứ lư thuyết chơi bời phóng đăng cho những hành giả tóc dài theo những mật điển xưa cũ. Nền giáo lư đă suy đồi tới nỗi chỉ c̣n giống như những tiếng bập bẹ vô ư nghĩa. Vua tiếp tục kể lể chi tiết dông dài cho At́sha nghe, mắt vua đầm đ́a những giọt lệ. Ngài nói:

“Hỡi ngài At́sha từ bi, bây giờ ngài đừng giảng dạy những giáo lư sâu sắc cao siêu của chánh pháp cho những đồ đệ thiếu văn hóa của ngài tại Tây Tạng. Tôi chỉ xin ngài giảng dạy về luật nhân quả. Lại nữa, xin ngài từ bi giảng dạy một pháp ǵ không lỗi lầm, dễ thực hành, một pháp mà chính ngài đă tu tập, bao gồm toàn thể chánh đạo, một pháp ǵ sẽ lợi lạc cho tất cả mọi người Tây Tạng và được nói trong mọi Kinh điển của Đấng Chiến Thắng - trong kinh giáo, mật giáo và trong các luận giải.

Lại nữa, thưa ngài, người ta có cần phải thọ giới Biệt giải thoát mới có thể đủ tư cách để thọ giới liên hệ đến bồ đề tâm hay không? Người ta có thể đạt giác ngộ mà không cần phối hợp phương pháp (tức là giới luật-DC chú) và tuệ giác không? Có được phép tham dự một buổi giảng về mật tông mà chưa được làm lễ quán đảnh (khai đạo) hay không? Có được phép trao truyền một lễ khai đạo về tuệ giác thực thụ (nghĩa là, một lễ khai đạo trong đó bậc thầy chỉ định cho đệ tử phải lấy một người nào làm vợ) cho những người đă phát nguyện giữ tịnh giới không? Có được phép làm những pháp thực hành của con đường mật giáo khi chưa từng thọ pháp quán đảnh Kim cang thượng sư không?

Đấy chỉ là một số ít trong những câu hỏi vua đặt ra. At́sha rất hoan hỉ khi nghe những lời ấy, và đă soạn tác phẩm Ngọn Đèn Soi Đường Đến Giác Ngộ. Chỉ trong ba tập ngắn gọn, ngài đă làm sáng tỏ tất cả những tư tưởng trong kinh giáo và mật giáo. Tác phẩm khởi đầu như sau:

Kính lễ tất cả các đấng Chiến thắng trong ba đời
Kính lễ Pháp và Tăng
Theo yêu cầu của Janchub Oe,
Vị đệ tử thánh thiện của con
Con sẽ thắp lên Ngọn Đèn
Soi Đường đến Giác ngộ.

At́sha không khen đệ tử Janchub Oe là thánh thiện chỉ v́ đă cúng dường ngài hậu hỉ, mà đúng hơn v́ những lời lẽ ông hỏi về pháp. Bổn sư tôi dạy rằng, chắc chắn At́sha sẽ không hài ḷng chút nào nếu ngài được yêu cầu như sau: ‘Cho tôi một pháp gia tŕ cao cấp hoặc một phép quán đảnh thứ yếu.’

Tác phẩm NGỌN ĐÈN SOI ĐƯỜNG bao gồm giải đáp cho những câu hỏi trên. Ngay sau khi nó xuất hiện, những giáo lư quái đản sống sượng tan biến vào nơi từ đó chúng đă đến.

At́sha hoằng pháp ở vùng Ngari. Khi ba năm sắp hết, do lời hứa với vị trưởng lăo, Dịch giả Nagtso nói, “Bây giờ ta phải trở về Ấn Độ”

At́sha giả vờ đồng ư, và họ đến Puhreng. Nhưng trước kia Tara đă nhiều lần nói với At́sha rằng, “Sẽ có lợi ích cho nền giáo lư nhiều nhất nếu ông nhận một đệ tử cư sĩ vĩ đại ở Tây Tạng.” Bây giờ nữ thần Tara nhắc lại nhiều lần, “cư sĩ ấy sẽ đến” bởi thế At́sha trông đợi. Ngài nói, “Cư sĩ nào đâu, thật bà ấy đă nói dối ta.”

Một hôm Dromtoenpa xuất hiện trong khi At́sha đang viếng nhà một thí chủ. Drom đi đến pḥng At́sha và được cho biết ngài đang đến nhà người ngoại hộ và đang trên đường về. Ông nói: “Tôi không thể dính lại đây mà đợi thêm giây lát nào nữa trong khi chưa gặp được bậc hướng đạo sư tâm linh của tôi trong đạo Đại thừa. Tôi sẽ đi đến nơi ông.” Drom bỏ ra đi, và gặp At́sha trên một con đường nhỏ. Drom Rinpoche lạy dài rồi gần At́sha. Ngài đặt tay lên đầu ông và nói những điều chúc lành bằng Phạn ngữ.

Trong khi At́sha đang ở nhà người ngoại hộ, ngài bảo: “Tôi cần thêm một phần ăn cho người đệ tử may mắn của tôi.” Và bởi thế ngài đang mang theo thức ăn. At́sha là một người ăn chay nghiêm ngặt, và bữa ăn ngài khất thực được hôm ấy là những bánh tṛn làm bằng bột lúa mạch chiên bơ. Drom ăn bánh lúa mạch, để dành lại chất bơ trong và đổ vào một b́nh đèn đủ để thắp suốt đêm. Ông đặt đèn ấy bên cạnh chiếc gối của At́sha, và tương truyền suốt chuỗi ngày c̣n lại trong đời At́sha ông đều cúng đèn như vậy. Đêm ấy At́sha đă làm phép quán đảnh chính yếu cho Drom và nhận ông làm pháp tử.

Họ khởi hành từ Puhreng và đi đến Kyirong ở vùng Mangyul, dự tính sẽ đi qua Nepal trên đường về Ấn. Nhưng đường bị phong tỏa v́ có cuộc chiến bùng nổ; họ không thể đi thêm nửa. Khi ấy Drom giục At́sha quay về Tây Tạng, trong khi Nagtso năn nỉ ngài phải về Ấn. Vị dịch giả này cảm thấy buồn rầu v́ không thể về lại Ấn Độ.

At́sha bảo ông: “Ông không cần phải lo lắng quá như vậy. Không phải lỗi tại ông, v́ ông không thể nào giữ được lời hứa của ḿnh.”

Lời ngài nói làm cho Nagtso rất sung sướng; ông bảo: “Vậy th́ tốt, chúng ta hăy quay về Tây Tạng.”

Thế là At́sha quyết định về Tây Tạng. Ngài không thể tiếp tục hành tŕnh đi Ấn Độ, v́ đường sá đă bị phong tỏa vào lúc ấy, do hậu quả cọng nghiệp của Tây Tạng.

Họ gửi một bức thư sang Ấn nói, “At́sha không thể đi Nepal theo lệnh của Trưởng lăo, v́ giữa đường gặp đánh nhau. Việc này làm cho chúng tôi phải trở lại Tây Tạng một thời gian nữa. Ngài có thể đợi đến khi chiến cuộc kết thúc rồi sẽ mời At́sha về chăng? Bởi v́ việc này sẽ rất lợi lạc cho tất cả hữu t́nh, ngài có bằng ḷng cho phép At́sha ở lại Tây Tạng chăng? Trong lúc At́sha ở Tây Tạng, ông ấy sẽ viết nhiều bộ luận giống như bộ luận gửi kèm theo đây.” Họ gửi bản chép của At́sha tác phẩm Ngọn Đèn Soi đường, cùng với nhiều vàng.

Vào thời ấy, Ấn Độ không phải như xứ Tây Tạng chúng ta ngày nay đâu. Những tác phẩm đều phải đệ tŕnh cho một hội đồng học giả, từng tờ một được chuyền cho những vị trong hội đồng này phán đoán giá trị. Tác phẩm nào không lỗi về văn phạm và nội dung th́ được gửi lên cho vua xem, và tác giả được thưởng. Chỉ có những tác phẩm này mới được phép xuất bản. C̣n những luận án nào có nội dung lầm lạc - mặc dù có thể viết bằng thơ văn bay bướm - th́ bị cột vào cái đuôi chó. Con chó được dẫn đi qua các đường phố, khiến cho tác giả và tác phẩm đều bị chọc quê. Nhà vua được yêu cầu đừng cho ấn hành tác phẩm đó. Những trước tác của At́sha thực không cần phải trải qua một thử thách như vậy; song cũng được đưa đến cho hội đồng học giả. Họ rất đỗi hài ḷng, v́ tác phẩm ngắn gọn của At́sha đề cập được một cách súc tích toàn bộ đề tài của tất cả kinh giáo và mật giáo, và căn cứ vào tác phẩm này, người ta có thể tự ḿnh đọc hiểu tất cả kinh điển.

Những học giả đồng thanh khoái chí tuyên bố: “Không những việc At́sha đi Tây Tạng có lợi cho Tây Tạng, mà c̣n rất có lợi cho Ấn Độ chúng ta nữa. Nếu ông ấy ở Ấn, ông sẽ không bao giờ viết được một tác phẩm như thế. V́ người Ấn chúng ta minh triết hơn, kiên nhẫn hơn. Ông ấy biết dân Tây Tạng ít minh triết, và thiếu kiên tŕ, nên đă viết bộ luận ngắn gọn rất ích lợi này.” Họ không tiếc lời ca ngợi việc At́sha đi Tây Tạng.

Trưởng lăo Ratnàkarashànti viết thư cho đoàn tùy tùng của At́sha như sau: “Những học giả hiền trí ca ngợi At́sha như thế đấy, nên tôi phải cho phép ông ta ở lại Tây Tạng, v́ điều ấy sẽ lợi lạc cho hữu t́nh. Tôi chỉ yêu cầu ông ấy viết thêm luận giải về tác phẩm kia, để bù lại sự kiện ông ấy đă không trở về Ấn.” (Tuy nhiên, tác phẩm tŕnh bày trong sách này, bản dịch các lời luận giải tác phẩm Ngọn Đèn Soi Đường được cho là chính ngài At́sha giải, th́ tương truyền không phải vậy.)

Nagtso vô cùng sung sướng khi được bức thư ấy, ông bảo: “Tôi đă gánh một trách nhiệm nặng như núi do Trưởng lăo phó thác. Bây giờ tôi đă được nhẹ gánh.”

Không lâu trước khi At́sha đi đến tỉnh Trung ương Tây Tạng, Drom Rinpoche viết thư cho những nhân vật quan trọng ở đấy rằng, “Tôi đă khổ công hết sức để rước At́sha đến tỉnh Trung ương, vậy khi nào quư vị nhận được thư lần tới, th́ hăy khởi hành ra đón tiếp ngài tức khắc.” Trong bức thư sau ngài viết: “Yêu cầu những bậc thầy trong tỉnh Trung ương, như là Kawa Khàkya Wangchung, vân vân, hăy khởi hành ngay để đón ngài.” Drom đă trưng ra tên của Kawa như là bậc thầy quan trọng nhất của Tây Tạng.

Khi khởi hành cuộc đón rước, một người tên Kutoenpa la lớn: “Thế th́ tên tôi ở đâu?” Người ta bảo ông: “Ông ở trong số vân vân ấy.” - “Tôi không phải là người để xếp vào hạng vân vân!” Ông nói thế và cố chen lấn đi dẫn đầu đoàn rước. Thế là cả bọn chen giành đi hàng đầu.

Những thầy Tây Tạng hồi đó thường đội mũ rộng vành, mặc áo choàng thêu, vân vân, xem như dấu hiệu chứng tỏ ta đây là những tu sĩ cao cấp. Vừa khi At́sha trông thấy họ từ xa tiến lại, ngài nói: “Thôi rồi một lũ ác ma Tây Tạng đă xuất đầu lộ diện rồi đây!” rồi ngài lấy khăn trùm đầu lại. Khi ấy những lạt ma cao cấp bèn xuống ngựa, mặc vào ba y đến gần. At́sha lấy làm hoan hỉ đón nhận họ.

Cuối cùng ngài đến tỉnh Trung ương, và làm nhiều việc ở đây để chuyển Bánh xe Chánh pháp. Ngài chứng tỏ là một năng lực lớn đằng sau những lời giảng dạy. At́sha ở ba năm ở Tsang và các tỉnh trung tâm, tổng cộng mười bảy năm ngài ở Tây Tạng. Những tác phẩm Lịch Sử Phái Kadampas nói ngài ở đây chỉ có mười ba năm, nhưng truyền thống chúng ta kể từ Tsonkapa vĩ đại, th́ nói mười bảy năm. V́ ngài đă nói:

“Nagtso tận tụy với ngài (At́sha) suốt thời gian hai năm ở Ấn và mười bảy năm ở Tây Tạng. Như thế ông ta đă hầu hạ ngài tận tâm suốt mười chín năm.”

Lư do chính yếu khiến Janchub Oe cố hết sức để thỉnh At́sha đến Tây Tạng là để ngài giảng giáo lư, và quan trọng nhất là nền giáo lư của ngài là tác phẩm Ngọn Đèn Soi Đường.

Hành tŕnh đến Tây Tạng của ngài đă được nữ thần Tara tiên đoán. Bậc thầy của ngài là Halakrshna nói:

“Nếu ông đi Tây Tạng, th́ con sẽ giàu hơn cha. Cháu sẽ giàu hơn con. Chắt sẽ giàu hơn cháu. Chít sẽ giàu hơn chắt. Rồi sau đó, t́nh trạng sẽ lụn bại dần.”

Ở đây, “Cha” là At́sha. “Con” là Dromtoenpa, Legdaen Sherab, vân vân. “Chít” là Sangyae Boentoen, Sangyae Gompa, và những người khác cùng thời đại với ông. Câu “sẽ giàu có hơn” có nghĩa là nền giáo lư sẽ được lan truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. At́sha đă làm sống lại những truyền thống giáo lư gần như mai một, và hoằng dương những truyền thống hiếm hoi khác. Ngài đă thanh lọc những giáo lư này khỏi những tư tưởng tà vạy ḥa lẫn vào và làm cho do bẩn; bởi thế ngài đă làm cho nền giáo lư tôn quư trở thành vô cấu.

Nhưng sau đó, trên những đoạn đường, những từng bực của đạo lộ, nền giáo lư lại bị che mờ v́ những mật điển vô dụng và những phép điểm đạo nhỏ nhen, làm cho gần như lụn bại.

Giáo lư về Những Giai Đoạn Trên Đường Đến Giác Ngộ này đă được truyền cho Drom. Drom hỏi, “Tại sao thầy cho những người khác những chỉ giáo về mật tông, c̣n Lam-rim th́ thầy chỉ truyền cho con mà thôi?”

At́sha đáp, “Ta không t́m được người nào khác ngoài con ra để phó thác giáo lư ấy.”

Ngài đă truyền pháp này riêng cho Drom. Drom truyền lại giữa công chúng, nên từ đấy phát sinh ra ba hệ phái. Truyền thống Kadampa cổ điển truyền từ Potawa đến Sharawa. Phái này đề cập những bước đường tiến đến giác ngộ nhờ trung gian những tác phẩm cổ điển vĩ đại. Truyền thống Kadampa Lam-rim được truyền từ Gampopa đến Neuzurpa. Phái này đề cập Lam-rim ngắn gọn, đưa ra những giai đoạn của con đường giác ngộ theo thứ tự của chúng. Truyền thống Kadampa khẩu truyền giáo truyền từ Geshe Chaen Ngawa đến Zhoenue Oe. Phái này đề cập đến những chỉ giáo của các bậc thầy về những giáo lư như tinh túy của mười hai móc xích duyên sinh.

Những giáo lư nói trên hiện vẫn c̣n tồn tại nhưng không mang tên cũ. Lối giải thích cổ truyền phát xuất từ Ngagwang Norbu, một người giữ chiếc ngai tu viện trưởng Ganden, nói rằng những người thiên về kiểu học hàn lâm viện nhất th́ nên thực hành Lam-rim theo năm đề tài tranh luận chính yếu. Đây chính là truyền thống Cổ điển. Những người không thực hành cách đó được, nhưng lại có nhận thức sắc bén, có sự kiên tŕ, th́ nên nghiên cứu và quán niệm những Lam-rim lớn và trung b́nh (của Tsongkapa). Lối thực hành này là truyền thống Kadampa Lam-rim. Những người nào không thể thực hành điều này được th́ nên theo một vài chỉ giáo ngắn gọn, như Con Đường Dễ hay Con Đường Nhanh. Họ sẽ theo tất cả những phần trong các giai đoạn của Con Đường. Đây là truyền thống Kadampa Khẩu giáo. Bậc tôn sư tôi, nơi nương tựa tối thượng của tôi, đă cho tôi các giải thích truyền thống ấy.

Như tôi đă nói với các bạn, Tsongkapa đă phối hợp cả ba truyền thống ấy thành một ḍng. Tôi cũng đă nói Tsongkapa viết những Lam-rim Con Đường Lớn, Con Đường Trung B́nh, Con Đường Nhỏ. Đức Văn Thù xuất hiện nhiều lần trước mặt Tsongkapa, hai vị ấy thiết lập một liên hệ thầy tṛ. Đức Văn Thù đă truyền cho Stongkapa vô lượng diệu pháp sâu xa về kinh giáo và mật giáo. Điều này có thể t́m thấy trong tiểu sử của Tsongkapa. Bởi thế ta có thể cho rằng Tsongkapa hấp thụ pháp Lam-rim từ Đức Văn Thù, nhưng chính Tsongkapa th́ lại tập trung nỗ lực để phăng manh mối của truyền thống này trở lui về Phật Thích Ca Mâu Ni đức Đạo Sư của chúng ta. Ngài không bao giờ bảo truyền thống này đến từ một linh kiến nào cả, hay đến từ một hệ truyền thừa nào mới mẽ hơn, vân vân. Đấy là một trong những điều kỳ diệu về lịch sử đời ngài.

Khi Tsongkapa viết Những Giai Đoạn Lớn Của Đạo Lộ đến đoạn nói về tuệ quán đặc biệt, Đức Văn Thù đă nói đùa với ngài: “Không phải tất cả điều này đều thuộc về giáo lư ta nói về Ba Điều Ṇng Cốt của Đạo lộ hay sao?”

Tsongkapa thưa với Đức Văn Thù ngài sẽ viết sách này theo cách như sau: Ngài sẽ lấy Ba Ṇng Cốt xem như huyết mạch của con đường, và sử dụng những điều ngài đă bàn trong Ngọn Đèn Soi Đường làm khởi điểm. Ngài sẽ lóc hết khỏi nó những chỉ giáo của những phái Kadampa khác. Nhưng Tsongkapa nghĩ rằng cho dù ngài có viết phần nói về tuệ quán đặc biệt trong Lam-rim vĩ đại của ngài, th́ điều này cũng không lợi lạc hữu t́nh bao nhiêu. Đức Văn Thù lại bảo ngài: “Cứ viết về tuệ quán đặc biệt đi, v́ nó sẽ có lợi lạc trung b́nh cho các hữu t́nh.”

Có nhiều chi tiết huyền bí bất khả tư ngh́ trong tiểu sử của ngài như vậy. Ngang đây đáng lẽ tôi phải nói chi tiết về tiểu sử đức Je Tsongkapa, nhưng chúng ta không có nhiều th́ giờ để làm việc ấy. Các bạn nên khảo cứu kỹ về những cuốn tiểu sử đă được viết về ngài.

Giáo lư của Tsongkapa bao gồm tất cả những lời giảng dạy của At́sha. Nó cũng chứa đựng những chỉ giáo sâu sắc vô song đặc biệt, nhờ đó chúng ta có thể đạt đến chỗ hợp nhất với bậc Vô-học ngay trong một đời, ở vào thời đại suy đồi này. Những trước tác về Lam-rim của Tsongkapa chứa đựng nhiều điều cực kỳ thâm thúy mà ta không thể t́m thấy ngay cả trong những Lam-rim của những phái Kadampa trong quá khứ. Ta sẽ thấy rơ điều này sau khi đọc những tấc phẩm ấy một cách chi tiết.

Về Lam-rim, có nhiều hệ phái truyền từ Tsongkapa xuống. Những hệ phái chính nổi tiếng nhất trong số này là tám truyền thống khẩu thuyết liên hệ đến tám giáo lư lớn. Hôm qua chúng ta đă nói điều này. Hai tác phẩm Tính Chất Của Vàng Ṛng và Lời Đức Văn Thù được nói là căn cứ theo kinh mà viết ra. Con Đường Dễ và Con Đường Nhanh được nói là liên hệ đến các mật điển.

Ở đây sẽ nói sơ qua làm thế nào Hệ phái Lời Đức Văn Thù ở phương nam được truyền thừa. Bản luận giải về quyển này ở phương Nam là bản ngắn hơn trong hai bản luận giải. Đức Dalai Lama đệ ngũ đề nghị một kiểu giảng ngắn hơn bằng cách đánh dấu vài đoạn trong kinh. Ngài cũng cho một số chỉ giáo khác về các pháp quán tưởng “quy y”, “ruộng phước”, và những pháp quán liên hệ đến nhà tắm, vân vân. Những chỉ giáo này khác hẳn những chỉ giáo của các hệ phái ở tỉnh Trung ương. Đức Dalai Lama truyền hệ phái Phương Nam cho Lama Purchog Ngagwang Jampa Rinpoche ở Epa, vị này c̣n truyền cho Lozang Kaetsuen, chức vị tu sĩ chuyên trông coi chỗ ở của Đức Dalai Lama. Tiểu sử vị này có một chi tiết lạ lùng đặc biệt. Ông có trí thông minh phi thường, và đă sáng chế ra nhiều kiểu giảng dạy giáo lư - khi th́ nhiều chi tiết hơn, khi th́ ít chi tiết hơn. Để giải quyết những rối ren, ông biết cần phải thỉnh vấn ngay Đức Dalai Lama, vị chúa tể của Pháp. Ông xin một buổi tiếp kiến, và thụ giáo tất cả giáo lư trong chừng một hai tiếng đồng hồ. Đức Dalai Lama đă cho ông làm tu viện trưởng trong cung Potala. Ông trải qua phần cuối cuộc đời để tu tập ở một nơi cô tịch gọi là Lamrim Choeding, tại đây ông đă đạt đến một tŕnh độ tu hành rất cao.

Lozang Kaetsuen truyền giáo lư cho Puentsog Gyatso, một học giả uyên bác ở Yerpa, người đă hoàn tất mọi bài giảng thực hành trong ṿng ba tháng (xem Ngày thứ nhất) Puentsog Gyatso đă tu tập đến một tŕnh độ phi thường là thực chứng tâm tịnh chỉ và tuệ quán đặc biệt, và đă giảng lại cho nhiều đệ tử ở Yerpa. Ông tu các năng lực thần thông nhờ các phép quán mandala về thân của thần Heruka, và tương truyền phần lớn những tu sĩ thuộc Hệ phái Phương Nam đă theo mẫu mực này.

Puetsog Gyatso, truyền xuống Lama Kachoe Taendar ở Epa, vị này truyền cho Tu viện trưởng Gedun Jamyang. Gedun Jamyang viết một tác phẩm riêng về hệ phái Phương Nam, v́ sợ rằng có một số điểm sai lầm liên hệ đến vấn đề những đoạn nào trong kinh Lời Đức Văn Thù đă thực sự được đức Đức Dalai Lama đệ ngũ đánh dấu dành cho Hệ phái Phương Nam. Tác phẩm của ông chỉ lưu hành dưới dạng những bản chép tay cho đến khi Kyabje Drubkang Geleg Gyatso cho làm thành bản gỗ.

Gelun Jamyang truyền cho Je Ngagwang Tutob; Tutob truyền đến Taem Gyatso đang hoàn tất sự học, ông được cắt phiên làm việc vặc vănh, và theo truyền thuyết, ông đă đạt chánh kiến về Trung đạo (chánh kiến về Tánh không) trong khi bổ củi. Ông truyền pháp Hệ phái Phương Nam cho Seto Lama Kaeldaen. Seto Lama có chuyện kỳ lạ này trong tiểu sử: Ông hoàn toàn không vướng bận bất cứ thứ ǵ người ta cúng dường cho ông như tiền, khăn quàng cổ (theo tục lệ Tây Tạng), áo len và những thứ tương tự. Mà ông cũng không cho ai lại những thứ ấy. Ông chỉ liệng chúng vào trong một hang động cạnh chỗ ông ở. Nhiều thế hệ sau đó, người ta lục lọi mới t́m thấy những đồng tiền và len đă bị mối ăn. Sở dĩ ông không cho ai những thứ này v́ nghĩ rằng điều ấy về sau có thể làm tăng thói kiêu mạn nơi ông.ư

Seta Lama truyền giáo lư này cho Lozang Choepel, vị này lại truyền cho Geshe Tubtaen Rabgyae. Mỗi khi Tabtaen tu quán, ông thường tụng những lời cầu nguyện pháp Lam-rim, xong ông giữ im lặng. Những người đến viếng ông tưởng rằng ông ngủ, nhưng kỳ thực ho đang chứng kiến sự tịnh chỉ nhất tâm của ông. Ông truyền hệ phái này cho một tu sĩ tên Jangchub Togme.

Người này chỉ là một tu sĩ b́nh thường, không phải một vị geshe - tiến sĩ Phật học, cũng không phải là một lama - thượng tọa. Ông sống trong am ẩn cư Dragri. Hàng ngày sau khi dâng cúng những chiếc bánh theo thường lệ, ông thiền quán theo Lam-rim một cách nhất tâm trên thảm cỏ ngoài am. Ông phát triển tâm từ và tâm bi đến mức độ luôn luôn cảm thấy buồn bă. Hàng ngày những trẻ mục đồng thường giải trí bằng cách lén nh́n ông. Đối với chúng th́ ông có vẻ chỉ là một ông già đang cám cảnh tủi thân khóc một ḿnh.

Vào thời gian này, Hệ phái Phương Nam của Lời Đức Văn Thù có nguy cơ suy tàn v́ hệ phái giảng kinh chỉ trao cho ông thầy này. Một tu viện trưởng của đại học Dagpo đă hồi hưu tên là Lozang Jinpa - vị này lại là người truyền giới xuất gia cho chính tôn sư tôi - cố truy tầm cho ra những người khác thuộc truyền thống giảng Hệ phái Phương Nam, nhưng khám phá ra rằng chỉ có ông thầy này đă thực thụ thọ pháp ấy mà thôi. Lozang Jinpa hoài nghi ông thầy này, không nghĩ ông có thể giảng kiểu “Nói chuyện thân mật”, nhưng nếu không yêu cầu ông giảng, th́ truyền thống sẽ bị gián đoạn.

Một ngày kia ông đến thăm vị tỷ kheo mà nói: “Bây giờ không có ai nắm giữ truyền thống giảng lời Đức Văn Thù thuộc Hệ phái Phương Nam. Thực đáng tiếc vô cùng nếu truyền thống này bị gián đoạn. Ông có thể truyền cho tôi chỉ v́ để khỏi gián đoạn ḍng truyền thừa không? Khi ấy tôi có thể đưa cho ông bài giảng đă được làm cho văn hoa với những trích dẫn trong kinh, và những luận chứng hợp lư.”

Ông thầy nói: “Làm sao một người như tôi có thể trao truyền được?”

Ông cứ tiếp tục nói ḿnh không đủ khả năng làm chuyện đó, nhưng cuối cùng ông chịu giảng, th́ ông đă chêm vào những chỉ giáo sâu sắc kết quả của kinh nghiệm thân chứng. Je Lozang Jinpa rất đổi kinh ngạc về việc này. Ông nói: “Tôi hổ thẹn bảo ông ta: ‘ th́ ra tôi thực sự đến để thụ giáo.’ Và ông ca tụng: “Ông ấy mới chính là một geshe vĩ đại của phái Kadampa thuộc truyền thống Khẩu giáo.”

Chính Lozang Jimpa cũng đă đạt được tịnh chỉ và tuệ quán đặc biệt, và cũng nhờ thực hành phép quán mandala thân của thần Heruka. Ông sống ở tu viện Bangrim Choede thuộc miền Hạ Dagpo. Je Kalzang Taenzin là em trai ông, về sau ở am thất ẩn cư Lhading thuộc miền Thượng Dagpo. Ông thường mời Lozang viếng thăm Lhading, Lozang không thể đi đến đấy; nhưng một hôm nhập định ông ta thấy mọi chi tiết trong ngoài của am thất. Ông bảo người em trai về sau khi ông này đến thăm: “Tôi đă thấy nơi ẩn cư của chú từ trong ra ngoài.” Ông c̣n kể những chi tiết như có những cây ǵ bên phải và bên trái của ngôi nhà. “Và c̣n một vật trắng thật lớn luôn luôn lay động trên một lan can của ngôi nhà nữa. Cái ǵ vậy?” Đó là một cái màn lung lay theo gió; Lozang đă thấy trong khi nhập định.

Lozang truyền hệ phái này cho em trai Kaelzang Taenzin. Vị này trở thành học giả uyên bác về cả kinh điển lẫn mật điển. Mỗi khi ngài giảng dạy, thường có những luồng ánh sáng luôn đi từ đôi mắt ngài, bao quanh thính chúng đồ đệ. Cuối thời giảng, những luồng ánh sáng ấy lan trở lại vào đôi mắt ngài. Mọi người đều trông thấy nhiều lần như thế. Nhiều người kinh ngạc khi vừa thấy ngài giảng dạy lại vừa thấy ngài tản bộ trên đường kinh hành, vân vân. Ngài có những linh kiến về toàn thể phước điển trong pháp thực hành Cúng dường Đạo sư. Khi ngài viên tịch trên đỉnh sọ đầu ngài có một h́nh vẻ kỳ diệu về ruộng phước Cúng dường Đạo sư. Chiếc sọ này hiện vẫn c̣n ở am thất Lhading.

Ngài truyền giáo lư cho Kaelzang Kaedrub, vị này cũng đạt những thần thông nhờ pháp quán Heruka. Và ngài đă trao truyền cho chính tôn sư tôi, người bảo hộ và nơi nương tựa của tôi.

Đấy là vắn tắt về sự truyền thừa của Hệ phái Phương Nam đối với Lời Đức Văn Thù. Các bạn cần xem kỹ chi tiết hơn. Hăy tham khảo những bản tiểu sử đáng tin cậy.

Bây giờ, về Hệ phái truyền thừa Lời Đức Văn Thù ở Tỉnh Trung ương, th́ Đức Dalai Lama đệ ngũ truyền cho Jimpa Gyatso, một người giữ ngai tu viện Genden. Cuối cùng hệ phái này truyền đến Lozang Lhuendrub, một người kế vị khác chiếc ngai Ganden. Je Lozang Jimpa đă tiếp nhận truyền thống này nơi ông ta.

Những bài kiểu “Nói chuyện thân mật” về Con Đường Nhanh có lịch sử như sau. Vị Panchen lama là Lozang Yeshe, người thấy tất cả, đă đọc bản kinh, nhưng chưa ai từng hỏi ngài bài giảng truyền thừa của hệ phái. Khi về già, mắt ngài bị ḷa, và khi có người muốn được truyền khẩu một vài đoạn quan trọng trong kinh, họ phải viết lại bằng chữ thật lớn những đoạn ấy. Bấy giờ học giả uyên bác Lozang Namgyael đang ở am thât Jadrael. Ông đọc tác phẩm Con Đường Nhanh và nghĩ rằng hậu thế càng sẽ nghèo nàn hơn nếu ông không được truyền thừa hệ phái bài giảng này. Ông bèn quảy hành lư đi đến Tashi Lhuenpo, và bảo người hầu của vị Panchen Lama rằng ông muốn được truyền tất cả tác phẩm của Panchen Lama nói chung; nhưng đặc biệt là bài giảng về Con Đường Nhanh.

Lozang Namgyael lúc ấy chỉ là một tu sĩ thường, vậy mà ông đ̣i hỏi quá đáng, và thị lực của Panchen Lama th́ quá yếu. Người hầu hết sức ngạc nhiên và mắng cho Lozang Namgyael mọt trận. Lozang trở về nhưng không thể chịu nổi t́nh trạng ấy. Ông đến yêu cầu thêm ba lần nữa, nhưng người hầu nhất định không giúp ông. Lozang nói trong cơn tuyệt vọng: “Nghe này, tôi không xin ông giảng dạy! Ông hăy chuyển lời yêu cầu của tôi đến đức Panchen Lama.” Trong khi y vẫn đang tức giận. Đức Panchen Lama rất sung sướng truyền cho Lozang Namgyael, và suốt buổi giảng dạy, mắt của ông tuyệt đối không sao cả.

Bậc tôn sư đă kể lại cho tôi nghe câu chuyện này nhiều lần. Tuy nhiên, Lozang Namgyael không được chính thức kể trên danh sách như là một trong những bậc thầy trong hệ phái chúng ta. Hệ phái được xem là truyền cho Purchog Ngawang Jampa, như được nói rơ trong phần tụng đọc chuẩn bị, nhan đề “ Một Sự Trang Hoàng Cho Yết Hầu Những Người May Mắn” (xem ngày thứ sáu)

Như vậy là tôi đă nói sơ lược về sự vĩ đại của những tác giả, mặc dù chưa nói đến tất cả các Lamas và những môn đệ họ. Nếu đi vào chi tiết, th́ có lẽ tôi phải theo hai pho tiểu sử của những bậc thầy các hệ phái do Yeshe Gyaeltsean, một vị giáo đạo của Đức Dalai Lama viết ra. Ít nhất, trên đây là những ǵ mà tôn sư tôi đă dạy. Tôi không có th́ giờ làm chuyện ấy, nhưng nếu các bạn có bản tiểu sử này, th́ nên đọc thường xuyên.

Khi kết thúc một giảng dạy về cuộc đời các bậc Thánh Tăng, chúng ta cần phải làm sự cầu nguyện như sau:

Hỡi bậc thầy, mong sao cho con được như thân của thầy
Mong sao cho quyến thuộc, cuộc đời và hoàn cảnh của con
Cũng được như của thầy;
Mong sao cả đến tên con
Cũng là danh hiệu tối thượng của thầy.

Chúng ta cũng nên quán tưởng về niềm hỉ lạc mà ta phải cảm thấy (sau khi nghe những cuộc đời ấy.)


 
 

PHẦN MỘT
NHỮNG CHUẨN BỊ SƠ KHỞI
NGÀY THỨ BA

Shàntideva đă nói:

Tôi đă được tái sanh làm thân người thuận lợi
Cái thân người khó được,
Có thể giúp ta hoàn thành những mục tiêu
Nếu tôi không rút lợi lạc từ thân này
Th́ làm sao tôi có hy vọng được thừa hưởng
Một sự tái sinh thuần tịnh như thế này trở lại?

Nói cách khác, bây giờ khi ta đă được thân người thuận lợi, th́ không nên chỉ ham muốn những hạnh phúc thế gian. Cũng không nên chỉ chuyên lo hàng phục kẻ thù, che chở người thân, vân vân; cả đến những thú vật cũng có thể làm những chuyện này. Nếu ta không dùng thời gian c̣n lại của ḿnh trên đời để thực hành một pháp - một điều chắc chắn lợi lạc cho những đời sau của ta, và khiến ta khác với súc vật - th́ thật khó cho chúng ta có những tái sinh như thế này trong tương lai. Bây giờ, một khi ta đă được thân người, th́ chúng ta phải thận trọng.

Muốn làm lợi lạc cho những đời sau chúng ta phải thực hành pháp này, nghĩa là những giai đoạn trên đường đến giác ngộ. Bởi thế bạn phải lấy bồ đề tâm làm động lực tu hành, và khởi tâm: “Tôi sẽ đạt thành Phật quả v́ lợi lạc tất cả hữu t́nh. Bởi thế tôi sẽ lắng nghe giáo lư sâu xa này về những giai đoạn của con đường đến giác ngộ, và thực hành đúng theo đó.” Chỉ sau khi khởi tâm như vậy rồi các bạn mới nên lắng nghe.

Pháp mà bạn sắp nghe là ǵ? Đó là pháp Đại thừa, Pháp đưa những người may mắn đến quả vị Phật.

(Rồi Kyabje Pabongka Rinpoche tiếp tục nói một mạch như hôm qua. Ngài tóm tắt bốn tiêu đề mà ngài đă nói, rút về một tiêu đề duy nhất là: “Bài giảng về những Chặng Đường Đến Giác Ngộ.” Mặc dù hôm qua chúng tôi đă nghe qua tiêu đề thứ nhất trong bốn tiêu đề, hôm nay ngài cũng nhắc nhở lại rằng giáo lư này được truyền xuống từ đức Thích Ca bậc đạo sư của chúng ta. Ngài cũng nhắc lại rằng rất lâu về sau, nền giáo lư này mới có nhiều h́nh thức khác nhau, như Lam-rim, những giai đoạn của giáo lư, vân vân. Nhưng tất cả những h́nh thức giáo lư này đều lấy Ngọn Đèn Soi Đường làm bản kinh gốc. Điều này được đề cập chi tiết trong những tiểu sử trong các bậc thầy trong những hệ phái Lam-rim.

Sau khi tóm tắt như thế, ngài nói tiếp:

Hôm nay tôi sẽ giảng tiêu đề thứ hai:


II. TÍNH CÁCH VĨ ĐẠI CỦA PHÁP, ĐƯỢC NÓI ĐỂ TĂNG NIỀM KÍNH PHÁP.

Pháp Lam-rim có bốn sự vĩ đại và ba nét đặc thù để phân biệt với những giáo lư cổ điển khác. Bốn sự vĩ đại là:

1. Sự vĩ đại giúp bạn nhận ra rằng tất cả những lời dạy đều ăn khớp.

2. Sự vĩ đại giúp tất cả kinh điển đối với bạn đều trở thành lời chỉ giáo.

3. Sự vĩ đại giúp bạn dễ dàng khám phá ư thật của Đấng Chiến thắng.

4. Sự vĩ đại giúp bạn tự cứu thoát khỏi những tà hạnh tệ nhất.


A. TÍNH CÁCH VĨ ĐẠI CHO BẠN NHẬN RA RẰNG MỌI GIÁO LƯ ĐỀU ĂN KHỚP

Giáo lư ở đây chỉ cho kinh điển của Phật thuyết. Luận về Ngọn Đèn Tuệ của Bhàvaviveka nói:

“Giáo lư có nghĩa như sau: những kinh điển của đức Thế Tôn dạy không cong quẹo về những điều mà chư thiên và nhân loại nào mong muốn vị cam lồ cần biết, những điều chúng cần từ bỏ, những điều chúng cần làm hiển lộ, và những điều chúng cần quán tưởng.”

“Nhận ra tất cả giáo lư đều ăn khớp” có nghĩa rằng mỗi người đều phải thực hành những lời dạy ấy để được giác ngộ.

“Ăn khớp” có nghĩa là ḥa điệu. Đại thừa, Tiểu thừa, Luật và Mật điển, vân vân, có vẻ như đối chọi lẫn nhau trên phượng diện ngôn ngữ văn tự, nhưng tất cả đều là pháp tu chính yếu đưa đến giác ngộ hoặc là một con đường tắt đưa đến giác ngộ. Bởi thế những giáo lư ấy đều ăn khớp với nhau. Giả sử bạn bị sốt nặng. Lúc đầu y sĩ cấm bạn dùng thịt, rượu, vân vân, và bảo: “Những thứ ấy sẽ nguy hiểm cho ông nếu ông không từ bỏ chúng.” Nhưng về sau, khi cơn sốt đă hạ, và yếu tố “phong” quá thạnh nơi con bệnh, th́ bác sĩ lại khuyên ăn thịt vân vân. Chỉ có một con bệnh ấy, một y sĩ ấy, mà có hai lời khuyên - lúc đầu cấm thịt, lúc sau khuyên ăn - dường như không ăn khớp nhau. Song kỳ thực không phải như vậy, v́ cả hai lời khuyên ấy đều cốt ư chữa lành cùng một con bệnh.

Tương tự, bạn có thể nghĩ “Tiểu thừa, Đại thừa, Kinh giáo, Mật giáo, vân vân mỗi thứ cốt dành cho những hạng đệ tử đặc biệt, không phải tất cả giáo lư ấy đều dành cho một người thực hành để đạt giác ngộ.” Nhưng cũng không phải vậy. Một người đang nói cho một người nghe về những pháp tu để giác ngộ. Khi người nghe đang ở tŕnh độ Nhỏ hay Trung b́nh, th́ đầu tiên đức Phật giảng giáo lư tiểu thừa. Vị ấy phải quán vô thường, khổ. Sau khi đă tiến bộ, vị ấy bây giờ ở vào tŕnh độ Phạm Vi Lớn, nên giáo lư Đại thừa được giảng cho vị ấy. Bây giờ vị ấy thụ giáo về tâm bồ đề, về sáu hạnh ba la mật, vân vân. Và khi vị ấy trở thành một pháp khí thích hợp với mật điển, đức Phật giải thích về Kim cang thừa: hai giai đoạn của Du già tối thượng và những thực hành mật có đôi. Tuy nhiên tất cả những pháp ấy đều thích hợp cho một người như bạn tu để giải thoát. Bởi thế bất cứ một kinh điển nào của Đấng Chiến thắng cũng thuộc về hoặc là một ḍng chính của đạo lộ hoặc là một trong những con đường tẻ của đạo lộ; không một kinh nào của thừa đối với một người tu để đạt tuệ giác.

Mối bận tâm chính của một bồ tát là làm việc cho lợi ích của tất cả hữu t́nh. Như vậy bồ tát phải dạy cả ba con đường để hướng dẫn ba hạng đệ tử (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) đi đến giải thoát theo cách riêng của họ. Nhưng nếu bồ tát tự ḿnh không biết ba con đường ấy th́ không thể dạy lại cho người khác. Dharmaḱti (Pháp xứng) nói trong tác phẩm Luận về những Pháp Có Giá Trị rằng: “Những phương tiện để đạt đến những cứu cánh này thật tối nghĩa; thật khó bàn luận về chúng.” Con đường đưa đến sự liễu tri cả ba đạo lộ thuộc ba thừa là cái mà bồ tát cần phải khai triển trong ḍng tâm thức của ḿnh để bảo đảm về những con đường khác nhau mới có thể đem đến lợi lạc cho hữu t́nh. Kinh dạy:

“Này Tu bồ đề, Bồ tát tu tập tất cả các đạo lộ, dù là đạo lộ Thanh văn, đạo lộ Duyên giác hay đạo lộ bồ tát, Bồ tát liễu tri tất cả đạo lộ.”

Trong tác phẩm của Maitreya (Di Lặc) nhan đề Trang Hoàng Cho Sự Thực Chứng, chúng ta thấy câu này: “Những người muốn làm việc cho hữu t́nh th́ nên lợi lạc thế gian bằng cách liễu tri các đạo lộ.”

Một điểm khác: cứu cánh là Phật quả, đấy là một quả vị có được mọi đức tính tốt đẹp, tất cả lỗi lầm đều đă tận trừ. Muốn đạt đến của vị này, con đường đại thừa là phải khiến cho tất cả lỗi lầm của một người đều chấm dứt, làm cho họ thể hiện tất cả đức tính. Bởi v́ không có quyển kinh nào mà không trừ diệt một hạng lỗi lầm nào đó, hay khiến tu tập một loại đức tính nào đó, cho nên tất cả kinh điển đều bao hàm Đại thừa.

Ta hăy xét vấn đề “tính chất nhất quán của kinh điển” một cách chi tiết. Có hai cách: Thế nào bạn nên hiểu rằng tất cả những giáo lư được truyền lại - nghĩa là những sự tŕnh bày về đề tài chính - đều ăn khớp nhau; và thế nào bạn nên hiểu rằng các pháp được chứng ngộ - nghĩa là bản thân đề tài - đều ăn khớp nhau.

Ba tạng kinh điển, bốn loại mật điển, vân vân, làm nên kinh và luận giải về kinh. Và như tôi đă giải thích, tất cả đều hợp thành một pháp thực tập nhịp nhàng để đưa một con người tiến đến giác ngộ. Đây là cách hiểu về “tính nhất quán của tất cả giáo lư được truyền lại.”

Đề tài của những giáo lư này là những con đường khác nhau thuộc cả ba phạm vi. Phạm vi nhỏ bao hàm những nhân tố để được tái sinh vào các thượng giới như trời, người. Những nhân tố này chính là đạo đức từ bỏ mười bất thiện hành, vân vân. Phạm vi Trung b́nh bao hàm những pháp tu đưa đến sự vi diệu của giải thoát - những pháp tu như là từ bỏ hai sự thật đầu (là Khổ và Tập - DC) trong bốn sự thật, và thực hiện hai sự thật cuối cùng (là Diệt và Đạo - DC) và pháp tu ba vô lậu học. Phạm vi Lớn gồm những pháp tu đưa đến sự vi diệu của toàn trí - những pháp như phát bồ đề tâm, sáu ba la mật, vân vân. Do vậy, tất cả đề tài này lập thành một pháp tu hài ḥa đưa hành giả đến giác ngộ, và cần hiểu là hoàn toàn ăn khớp nhau.

Dromtoenpa, một trong những ông vua về Pháp, nói: “Thầy tôi biết cách xem tất cả những giáo lư như bốn góc của một con đường có bốn mặt.” Đây là lời chính xác của ngài, nhưng được giải thích nhiều cách. Bốn góc là ba phạm vi với các mật điển là góc thứ bốn. Hoặc, bất kể bạn tung một trong hai con xúc xắc như thế nào, luôn luôn có một mặt tứ (?) xuất hiện; cũng thế, mỗi đề tài thiền quán đều bao hàm toàn thể đạo lộ.

Ta có thể theo những cách giải thích ấy, nhưng tôn sư tôi, người che chở và nơi nương tựa của tôi, đă dạy:

“ Khi bạn kéo một góc của chiếc chiếu bốn góc, là bạn đă chuyển được toàn thể chiếc chiếu. Cũng tương tự như thế, đề tài của một quyển kinh nào cùng với những luận giải về kinh ấy, đều đưa đến một pháp thực hành để đạt giác ngộ. Có thể nói là bạn đang kéo một trong bốn góc của pháp thực hành này.”

Đây là một lối giải thích rất quan trọng.



B. TÍNH VĨ ĐẠI KHIẾN MỌI KINH ĐIỂN TRỞ THÀNH NHỮNG LỜI CHỈ GIÁO CHO BẠN

Nếu bạn chưa gặp hệ thống “Những Giai Đoạn Trên Đường Đến Giác Ngộ” này, th́ tất cả kinh điển đối với bạn không thành ra những lời chỉ giáo. Nhưng những chỉ giáo tối thượng là kinh điển của Đấng Chiến thắng và những luận thư cổ điển vĩ đại bàn về kinh ấy. Trên thế gian chưa từng có một bậc Thầy nào hơn đức Thích Ca Mâu Ni, đấng Thế tôn, đấng Thiện thệ, Người phá hủy toàn triệt tất cả nhiễm ô. Tác phẩm Maitreya (Di Lặc) nhan đề Ḍng Tương Tục Vi Diệu Của Đại Thừa nói:

Trong thế gian này không học giả nào

Vượt qua Đấng Chiến thắng.

Với toàn trí ngài liễu tri chân như tối thượng

Và liễu tri vạn pháp; người khác không thể hiểu.

Bởi thế, đừng thêm bớt bất cứ ǵ

Mà bậc Đại thánh đă để vào kinh điển

V́ như vậy sẽ phá hoại

Hệ thống của Thích Ca Mâu Ni

Và làm hại cho Thánh Pháp

Ngày nay không ai c̣n xem kinh điển của Đấng Chiến thắng - chẳng hạn Lời Đức Phật được Phiên Dịch- như là một cái ǵ để thực hành, mà chỉ để tụng vào những buổi lễ. Người ta cũng có nghiên cứu những tác phẩm cổ điển của hai nhà tiên phong (Long Thụ và Vô Trước) giảng giải về những kinh điển này, nhưng chỉ để mà có thể trích dẫn vào những dịp tranh luận. Ngay cả những học giả uyên bác nhất, mỗi khi khởi sự hành thiền cũng không biết làm sao để hội nhập những bản kinh ấy vào sự tu tập của họ, mặc dù đă bỏ cả đời để nghiên cứu và chiêm nghiệm những kinh ấy. Họ đi đến những người nổi tiếng là thiền giả vĩ đại, nhưng thực sự không biết ǵ cả, hoặc họ học vài pháp tu quán (sadhanas) về cách làm sao để theo dơi những vận hành có ư thức của tâm ư; rồi họ quán về những chuyện ấy một cách nô lệ. Đức Tsongkapa vĩ đại đă nói:

Họ nghiên cứu thực nhiều, nhưng vẫn nghèo nàn về Pháp:

Giai do v́ họ không xem kinh điển như những chỉ giáo (để thực hành. DC).

Nghĩa là, thật tai hại vô cùng nếu không xem kinh điển là những lời chỉ giáo.

Ví dụ có một tiến sĩ ở tu viện chúng ta đi về thăm quê nhà ở tỉnh Kham. Ông ta xin một vị lama phái Nyingma một lời chỉ giáo để tu tập, rồi thiền quán theo sự chỉ dạy vắn tắt của vị ấy. V́ việc này mà những người địa phương tuyên truyền rằng Pháp của phái Gelugpa chắc chắn chỉ dành để thảo luận, không có cái ǵ để thực hành. Bởi thế mọi người đều làm ngơ giáo lư của phái Gelugpa. Tôi thấy vị tiến sĩ này đă làm gương xấu, và cho chuyện này thật là đáng buồn.

Các bạn phải thực hành bất cứ pháp ǵ mà ḿnh đă hiểu rơ ư nghĩa nhờ học hỏi và quán tưởng; và ư nghĩa của pháp nào bạn đang tu cũng phải được kiểm chứng cho chắc chắn bằng vào sự học quán. Nếu bạn đă chắc chắn về một pháp nhờ học và quán, rồi lại đi thực hành một pháp ǵ khác, th́ cũng giống như chỉ cho một người nào con đường đua, rồi lại sử dụng một mảnh đất khác cho một cuộc đua ngựa của bạn. Những Giai Đoạn Lớn của Con Đường là dùng ví dụ ấy. Có lẽ cần giải thích một chút. Bạn sắp tổ chức một cuộc đua ngựa. Bạn chỉ một nơi nào đó, và mọi bảo mọi người: “Ngày mai chỗ này sẽ là con đường ngựa chạy đua.” Thế nhưng vào đúng ngày đua ngựa, bạn lại tổ chức cuộc đua tại một địa điểm khác.

Vậy, nếu bạn không thể xem kinh điển như những chỉ giáo thực hành, lư do v́ bạn đă không nắm vững những giai đoạn của Con đường Đến giác ngộ. Nhưng khi đă nắm vững, th́ cũng sẽ hiểu được rằng tất cả văn hệ cổ điển - như kinh Phật Thuyết chẳng hạn - đều có thể xếp vào khuôn khổ Lam-rim, rằng đấy là những pháp hoàn toàn dành để tu tập.

Một thời, Ngawang Chogdaen giữ ngai tu viện trưởng Ganden. Sau khi hoàn tất sự huấn luyện ở tu viện, ngài nhận nhiều chỉ giáo từ Jamyang Shaypa - chẳng hạn Ba Ṇng Cốt Của Đạo Lộ của Tsongkapa. Ngài được khai thị vào phương pháp thiền quán về những tư tưởng chứa đựng trong toàn bộ kinh điển và mật điển. Về sau ngài tuyên bố rằng cuối cùng ngài mới hiểu được thời gian ngài nghiên cứu phạm vi rộng lớn của văn học Phật giáo cổ điển hóa và cũng là thời gian ngài học Những Giai Đoạn Chính Của Con Đường. Điều này chứng tỏ đối với ngài, kinh điển là những chỉ dẫn tu tập.

Khi nhà đại học giả Lozang Namgyael đang khẩu truyền tác phẩm Bát Nhă Bát Thiên Tụng, thỉnh thoảng ngài lại nói: “Ôi, ước ǵ ta chưa già quá thế này. Đấy là điều ta cần nên thiền quán tư duy!”

Khi bạn hiểu Lam-rim, tất cả mọi thực tập thảo luận trong sân tu viện cũng phải thuộc về Lam-rim: bạn phải xem sự thực tập thảo luận này như một h́nh thức của sự chỉ giáo về thiền. Giả sử bạn đang thảo luận về đề tài phát bồ đề tâm: bạn sẽ lập tức rút ra những so sánh với chương Phạm Vi Lớn đề cập sự đào luyện tâm bồ đề. Hoặc, bạn sẽ so sánh một thảo luận về Mười Hai Nhân Duyên với Phạm Vi Trung B́nh. Hoặc, bạn cũng làm tương tự vói cuộc thỏa luận về những cảnh giới thiền định thuộc về Sắc Giới và những tầng thiền chứng Vô Sắc, và so sánh những thiền này với phần nói về Tâm Tịnh chỉ trong Lam-rim. Ngay cả khi tụng đọc một nghi thức tụng niệm, bạn cũng phải hội nhập được nghi thức ấy vào Lam-rim, bất kể bài tụng ấy rút từ kinh nào.

Bạn cũng phải làm được việc ấy một cáh sẵn sàng khi t́nh cờ gặp một trang kinh sách tả tơi trong một điện thờ nằm bên đường. Một lần khi tôi hăy c̣n bé, tôi trông thấy một trang sách bỏ rơi trong một điện thờ trên con đường xung quanh một tu viện. Trang ấy là một trong những bài ca của đức Dailai Lama thứ bảy, Kaelzang Gyatso.

Con ong nhỏ trong hoa Đỗ quyên

Bay từ đóa hoa rực rỡ này đến đóa hoa khác

Nó di chuyển nhanh làm sao.

Bài ca của tôi sẽ giải thích h́nh ảnh này:

Nhiều người trong thời mạt pháp

Có tâm cấu nhiễm và ngụp lặn trong những chuyện tầm thường.

Hăy nh́n cách chúng phút trước là bạn

Mà phút sau đă thành kẻ thù.

Tôi không t́m đâu ra một người bạn kiên cố.

Nói cách khác, tôi nối kết ngay những kinh nghiệm tôi có khi ở ngôi chánh điện ấy với phần Phạm Vi Trung B́nh đề cập nỗi khổ v́ tính bất trắc trong cơi luân hồi sinh tử.

Je Rinpoche (Tsongkapa) hỏi Rinchen Pel, một đại học giả, ư nghĩa của danh từ “Kadam” (nghĩa đen là “chỉ giáo của kinh điển”). Ông trả lời: “Dù chỉ có một chữ N từ trong kinh điển đối với ḿnh cũng như là một lời chỉ giáo không được bỏ qua.”

Câu trả lời ấy là Je Rinpoche hài ḷng tới nỗi ngài ca ngợi trong một buổi giảng dạy công cộng: “Hôm nay một học giả đă khai triển được ư tôi. Đúng như ông ấy nói.”

Bởi thế, tất cả kinh điển - cả đến một từ kinh bị bỏ rơi trong chánh điện - đều là những chỉ giáo để hướng dẫn một người đến giác ngộ. Điều này áp dụng cho bạn và sự giác ngộ của bạn. Nó có thể là đức Phật và các tác giả khác đă giảng những kinh ấy đặc biệt cho riêng bạn. Một thái độ như thế sẽ đem lại cho bạn niềm tin tuyệt đối vào tất cả kinh điển.

Jangchub Rinchen một hành giả mật tông nói: “Không ai bảo chúng ta phải t́m những chỉ giáo để đạt giác ngộ trong một tuyển tập những bùa chú - chúng ta phải t́m sự chỉ giáo trong tất cả kinh điển.” Chúng ta phải suy nghĩ cách ấy mới được; những lời này đánh ngay vào gốc rễ. Vậy xem tất cả kinh điển như những chỉ giáo là chuyện nên làm.

Bạn có thể tự hỏi: “Có thật đầy đủ không nếu ta chỉ học Lam-rim?” Ư nghĩa của kinh và luận đều chứa đựng trong Lam-rim - kể từ đoạn nói về nương tựa một bậc thầy cho đến chương nói về tâm tịnh chỉ. Một pháp Lam-rim thực thụ có thể có một số tiêu đề chi tiết hoặc ngắn gọn. Một ít tiêu đề trong số này đ̣i hỏi một pháp thiền quán phân tích (như tưởng niệm về Phật, Pháp, Tăng-DC) trong khi một số khác đ̣i hỏi một pháp thiền định dán chặt (như quán biến xứ hay kasina-DC). Khi bạn đă nắm vững bộ sườn của những tiêu đề này, bạn sẽ biết được loại thiền định nào áp dụng cho mỗi tiêu đề. Với sự hiểu biết này, bạn sẽ sẵn sàng liên kết bất cứ kinh nào bạn gặp với pháp thực hành một đề tài Lam-rim đặc biệt nào đó - điều này chứng tỏ bạn đang xem kinh điển như là những lời chỉ giáo thực hành.

Sau đây là một ví von dễ hiểu mà bậc thầy tôn qúy của tôi thường đưa ra. Giả sử một người không có chỗ để chứa gạo, lúa mạch, đậu vân vân, và t́nh cờ y gặp một nắm gạo chẳng hạn. Y không biết phải làm ǵ với nó và có lẽ sẽ vứt bỏ nó. Cũng thế, nếu bạn chưa nắm được toàn vẹn cơ cấu của đạo lộ, và t́nh cờ gặp một cuốn kinh, bạn sẽ không nhận thức được rằng ḿnh phải liên hệ kinh ấy với một đề tài Lam-rim. Bạn sẽ không biết làm thế nào để thực hành theo kinh ấy. Nếu bạn đang có gạo, lúa mạch, đậu, mỗi thứ chỉ một cân, mà có thêm được nắm gạo, th́ bạn sẽ sung sướng bỏ thêm gạo ấy vào kho lương thực của bạn. Khi bạn đă nắm vững cái sườn của những đề tài thiền quán Lam-rim, bạn sẽ dễ dàng liên kết bất cứ quyển kinh nào với một tiêu đề Lam-rim đặc biệt.

(Khi ấy Rinpoche giảng chi tiết về cái sự làm thế nào, một bản văn về Lam-rim có toàn bộ sườn của Lam-rim th́ có thể dẫn hành giả đi qua Con đường, bất kể độ dài của bản văn ấy. Ngài so sánh điều này với hai căn pḥng, một pḥng của một viên chức chiùnh phủ, pḥng kia của một tu sĩ b́nh dị: cả hai pḥng đều chứa đủ những bàn ghế cần dùng cho mục đích của họ.)

Lại nữa cần chú ư: có khác nhau giữa nhận thức rằng tất cả kinh điển đều nhất quán, và nhận thức rằng tất cả kinh điển đều là lời chỉ giáo thực hành. Có được nhận thức đầu không nhất thiết có nghĩa là có được nhận thức sau. Nhưng nếu bạn có được nhận thức sau, th́ đường nhiên có được nhận thức đầu.



C. TÍNH VĨ ĐẠI CHO PHÉP BẠN DỄ DÀNG T̀M RA Ư THẬT CỦA PHẬT.

Những kinh và luận như tôi đă nói, chính là những chỉ giáo thực hành tốt nhất. Tuy nhiên bạn không thể khám phá ra những ư tối hậu của Đấng Chiến thắng chỉ nhờ đọc những tác phẩm cổ điển vĩ đại ấy, nếu không có một chỉ giáo nào của bậc thầy về những giai đoạn của con đường đưa đến giác ngộ, kể như một cái sườn để tham khảo, mặc dù đề tài của những kinh điển ấy biểu trưng ư tối hậu của Phật. Muốn tự ḿnh khám phá được những ư ấy từ nơi kinh luận, bạn phải nắm lấy kinh luận trong một thời gian dài. Nhưng nhờ Lam-rim, bạn sẽ dễ dàng khám phá ư nghĩa mà không cần phải khổ công như vậy.

Có lẽ bạn đang tự hỏi: Ǵ là những ư của Đấng Chiến thắng? Bậc tôn sư tôi, nơi nương tựa và che chở cho tôi, đă dạy rằng thông thường, những ư ấy được xem là ba phạm vi; nhưng c̣n quan trọng hơn nữa là, sự cần thiết phải thực hành Ba Ṇng Cốt Của Đạo Loä. Điều này chắc chắn đúng. Đức Tsongkapa vĩ đại đă làm sáng tỏ những ư tối hậu của Đấng Chiến thắng về Chánh kiến. Trong tác phẩm Ba Ṇng Cốt Của Đạo Lộ, Tsongkapa nói:

Các tướng do duyên sinh

Th́ không phải là ảo tưởng;

Nhưng có những người

Lại hiểu Tánh Không là một cái ǵ vắng mặt tướng ấy.

Khi nào bạn c̣n thấy hai cái đó khác nhau,

Th́ bạn sẽ không bao giờ

Nhận ra được ư của Đức Đạo Sư.

Điều này thực sự có ư nghĩa rằng, bạn chưa hiểu được ư Phật nếu bạn chưa có Chánh kiến. Chính nhờ năng lực của chánh kiến mà cuối cùng bạn mới nắm được ư Phật. Trong cùng bài kệ ấy, Tsongkapa nói: “ư nghĩa tinh túy của mọi kinh điển của Đấng Chiến thắng...” Điều này ám chỉ Ṇng cốt từ bỏ. Ngài nói tiếp: “... con đường mà chư Phật và con đường Phật ca ngợi...” Điều này ám chỉ Ṇng cốt Bồ đề tâm. Cuối cùng ngài nói: “... cửa vào cho những người may mắn muốn giải thoát.” Điều này ám chỉ Ṇng cốt chánh kiến. Như vậy ngụ ư rằng bạn vẫn cần hai ṇng cốt kia, là từ bỏ và tâm bồ đề. Bởi thế, khi bạn dựa vào Lam-rim, bạn sẽ dễ dàng khám phá rằng đề tài của những tác phẩm cổ điển vĩ đại là nhắm đến sự phát triển ba ṇng cốt ấy trong ḍng tâm thức bạn. Khi ấy bạn sẽ dễ dàng t́m ra ư của Đấng Chiến thắng.

Giả sử kinh sách cổ là một biển cả. Ư của Đấng Chiến thắng - ví dụ ba ṇng cốt của đạo lộ - là châu ngọc trong biển ấy; Lam-rim như con thuyền; bậc thầy giảng dạy giáo lư ấy như thuyền trưởng. Mặc dù trong biển có châu báu, nhưng nếu không có thuyền mà bạn đi kiếm châu báu th́ bạn chỉ có nước bỏ mạng trong biển. Nếu bạn không sử dụng Lam-rim như chiếc thuyền, th́ sẽ rất khó cho bạn khám phá ra ư của Đấng Chiến thắng, dù cho bạn có tham khảo cổ thư. Bạn phải nương vào một bậc thầy như thuyền trưởng thiện xảo, bước lên con thuyền là Lam-rim, rồi bạn sẽ dễ dàng t́m thấy châu ngọc trong các cổ thư: ư tối hậu của Phật.



D. TÍNH VĨ ĐẠI GIÚP BẠN TỰ CỨU M̀NH KHỎI NHỮNG TÀ HẠNH ĐỆ NHÂT



Ở đây, Những Giai Đoạn Lớn Của Đạo Lộ và các kinh luận khác đều dạy rơ ràng bạn không nên làm một điều ǵ sẽ đem lại cho bạn cái nghiệp và sự chướng ngại phát sinh từ nghiệp ấy, kèm theo là sự từ bỏ Pháp. Nhưng nếu bạn chưa để tâm bạn ba vĩ đại đầu trong bốn sự vĩ đại này, th́ bạn sẽ luôn luôn làm những phân biệt vặt vănh khiến bạn kính trọng một pháp này hơn những pháp khác - những phân biệt như Đại thừa đối với Tiểu thừa, hay Pháp lưthuyết đối với Pháp thực hành.

Từ bỏ một vài phần của pháp thường phát sinh một ḍng tương tục những loại nghiệp xấu nhất, từ đó có những những chướng ngại nghiêm trọng nhất. Kinh Dệt Mọi Pháp Vào Với Nhau nói:

Này Văn Thù, những chướng ngại phát sinh do cái nghiệp từ bỏ Diệu Pháp thuộc loại rất vi tế. Văn Thù, người ta từ bỏ pháp khi họ xem một vài kinh điển của đức Như Lai là hay, c̣n vài kinh khác th́ rất dở. Bất cứ kẻ nào từ bỏ Pháp th́ hậu quả là cũng phỉ báng Phật và nói xấu Tăng. Một người từ bỏ Pháp khi nó tuyên bố: “Kinh này đúng, Kinh kia sai.” Một người từ bỏ Pháp khi nó tuyên bố: “Kinh này dạy cho bồ tát.” hoặc “Kinh này dạy cho Thanh văn.” Một người từ Pháp khi nó tuyên bố: “Pháp này dành cho Độc giác.” Một người từ Pháp khi nó tuyên bố: “Điều này không phải là một trong những điều mà bồ tát nên tu tập.”

Từ bỏ Pháp là một hành vi hết sức nguy hại, như kinh Vua của Định Nhất tâm nói:

Từ bỏ kinh tạng là một tội lớn hơn nhiều

So với sự phá hủy tất cả tháp trong Nam Thiệm Bộ Châu.

Từ bỏ kinh tạng là một tội lớn hơn nhiều

So với giết một số lượng A la hán nhiều như cát dưới đáy sông Hằng.

Nếu bạn đă tin chắc về ba vĩ đại đầu trong bốn sự vĩ đại, th́ bạn sẽ không làm ngơ bất cứ một giáo lư nào của Đấng Chiến thắng; bạn sẽ kính trọng ngang nhau tất cả kinh điển, v́ tất cả kinh điển đều là những pháp để thực hành. Bạn sẽ thoát khỏi t́nh trạng xem một vài pháp là hay và vài pháp khác là dỡ, v́ điều này là yếu tố trọng đại nhất góp phần vào việc từ bỏ Pháp. Lại nữa, nếu bạn suy nghĩ về những cách làm thế nào để tận tụy với bậc thầy của ḿnh cho thỏa đáng, th́ bạn sẽ trừ được những nghiệp chướng mà bạn có thể có đối với bậc thầy ấy. Và khi bạn đă tin chắc vào sự thật vô thường và thân người thuận lợi, th́ bạn sẽ an nhiên chấm dứt những ác hành do bám víu vào cuộc đời này. Bạn sẽ chấm dứt những tà hạnh liên hệ đến ngă ái khi bạn theo đề mục thiền định về phát tâm bồ đề. Khi bạn tu tập thiền quán vô ngă, bạn sẽ chấm dứt bám víu vào một cái ngă. Một cách tự nhiên bạn sẽ dừng lại tất cả những lối hành xử tà vạy và phi pháp nhất, nhờ bạn phát triển sự thực chứng từng đề mục thiền quán của Lam-rim.

Tôi sẽ đưa ra một ví dụ để giải thích làm thế nào mà ba sự vĩ đại đầu tiên giúp tăng tiến sự tu hành của bạn. Giả sử bạn sắp vẽ một bức tranh có tính tôn giáo. Bạn cũng biết là bạn phải chuẩn bị những điều kiện thích nghi như là pḥng để vẽ, sơn, cọ v.v... Sự biết này cũng tương tự như nhận thức rằng tất cả kinh điển đều ăn khớp nhau. Bạn phải biết vẽ như thế nào, làm sao để sử dụng những dụng cụ ấy - cũng như bạn phải xem tất cả kinh điển đều là những lời chỉgiáo. Và vẽ cho đẹp là tương tự như khám phá được ư của Phật.

Bốn sự vĩ đại này thông thường được hiểu theo hai cách: bốn vĩ đại của sự tŕnh bày, nghĩa là danh từ được sử dụng; và bốn vĩ đại của đề tài, tức ư của những danh từ ấy. Kinh điển có bốn vĩ đại liên hệ đến tŕnh bày. Tuy nhiên điều quan trọng hơn nữa là con người lại có bốn vĩ đại liên hệ đến đề tài.

Đến đây kết thúc phần bốn vĩ đại. Ngoài bốn vĩ đại này ra Lam-rim c̣n có ba đặc sắc:

a) Nó toàn vẹn, v́ chứa đựng tất cả đề tài của kinh giáo và mật giáo.

b) Nó dễ thực hành v́ nhấn mạnh những bước điều phục tâm.

c) Nó thù thắng hơn những truyền thống khác v́ chứa đựng những chỉ giáo từ hai bậc đạo sư đă học những truyền thống của hai vị tiên phong.



E. LAM RIM LÀ TOÀN DIỆN V̀ CHỨA ĐỰNG TẤT CẢ ĐỀ TÀI KINH VÀ MẬT

Trong khi Lam-rim không thể nào bao gồm tất cả những lời lẽ trong kinh luận, nó lại chứa đựng và giảng dạy tất cả những ư nghĩa ṇng cốt của kinh luận. Ngay của một bản văn ngắn nhất của Lam-rim cũng làm được việc này. Toàn bộ ư nghĩa của kinh và luận đều bao hàm trong ba phạm vi của Lam-rim; Lam-rim bao gồm và giảng giải đề tài của toàn thể kinh và luận. Đức Tsongkapa vĩ đại đă nói như sau trong một thư gửi Lama Umapa:

“Chỉ giáo này từ D́pamkàra Sh́jnana - Ngọn Đèn Soi Đường - dường như chứa đựng mọi lời chỉ giáo của kinh và luận. Nếu người ta biết cách giảng dạy hay nghiên cứu tác phẩm này, th́ đấy không những là những chỉ giáo thực hành mà c̣n là một tổng hợp của tất cả kinh giáo.”

Những giáo lư các trường phái khác có nhiều bảng kê khác nhau: bốn chỉ giáo về những chuẩn bị tiên quyết như quy y vân vân; giảng dạy vè những pháp tu chính yếu, vân vân. Tuy nhiên, những phái Kadampa tiền kỳ và hậu kỳ của chúng ta ngày nay đều có truyền thống bỏ qua những liệt kê dông dài ấy, và giảng dạy mọi sự theo Lam-rim. Ngọn Đèn Soi Đường dạy tổng hợp mọi đề tài kinh điển trong phạm vị ba tập giấy mỏng. Tất cả những bản Lam-rim khác cũng cô đọng mọi đề tài lại như thế, và dùng Ngọn Đèn Soi Đường làm bản kinh gốc. Tsongkapa nói:

Nó cô đọng tinh yếu của mọi kinh điển,

Qua sự giảng dạy, nghiên cứu Lam-rim

Dù chỉ một lát,

Người ta cũng đạt được lợi ích

Của việc thảo luận và nghiên cứu

Tất cả nền diệu pháp

Hăy quán sát ư nghĩa Lam-rim

V́ đấy là điều chắc chắn để được lớn mạnh trong giáo pháp.

Nói khác đi, nghiên cứu, quán tưởng, giảng dạy, và thụ giáo một giáo lư Lam-rim chính là nghiên cứu, quán tưởng và học hỏi về ư nghĩa trọn vẹn của tất cả kinh luận. Khi bạn thực hành dù chỉ một chuỗi phản quan thiền định về Lam-rim, thực tập thiền định ấy cũng bao quát tất cả kinh và luận. Nhân vật vĩ đại phái Kadampa là geshe Toelumgpa nói:

Khi tôi giảng dạy những giai đoạn con đường đến giác ngộ cho bạn, bạn có thể được một hiểu biết khái niệm về tất cả những kinh sách trên thế gian. Tất cả những quyển sách ấy sẽ nghĩ: “Lăo thầy tu già tóc hoa râm này đă móc tim ra ra!” và phải run lên trước ư nghĩa ấy.

Thật vậy, bởi v́ nếu có một buổi giảng về Lam-rim tiến hành tốt, thính chúng chú tâm, th́ tinh túy của tất cả sách vỡ trên thế gian đều đă được bàn đến trong buổi giảng ấy. Như vậy, một mặt Lam-rim bao hàm ư nghĩa tất cả kinh điển, mặt khác, nó là ch́a khóa để mở kinh. Không có sự tóm thâu Pháp yếu nào tốt hơn thế. Bởi vậy mà Geshe Toelumgpa đă nói về sự giảng dạy Lam-rim rằng: “Tôi đă chặt thành từng mảnh con trâu Pháp khổng lồ.”

Những người căn cơ thấp kém có thể không hiểu được những bản Lam-rim giảng giải chi tiết, nhưng họ vẫn có thể dựa vào một bản Lam-rim ngắn, chứa những giáo lư rơ ràng mà vẫn bao quát toàn bộ sườn của Lam-rim. Giáo lư rơ ràng này cũng vẫn có thể hướng dẫn họ trên đường tu. Nhưng nếu bản văn bỏ ra ngoài dù chỉ một trong những đề mục thiền, th́ nó không thể hướng dẫn cho bất cứ ai.

Hăy lấy ví dụ thức thuốc trị sốt là Camphor 25. Bạn không cần phải đi mua một gói bự đầy đủ từng món một trong 25 món và uống từng món; nếu thứ thuốc ấy đă được bào chế đúng cách, th́ dù một viên cũng có thể làm hạ ngay cơn sốt. Nhưng nếu thiếu một trong 25 món th́ thuốc ấy sẽ không mà cho bạn hạ nhiệt được, dù bạn có uống thật nhiều vào đi nữa.

Bây giờ khi bạn đă may phước gặp được nền chỉ giáo tuyệt diệu này, th́ bạn phải chuyên môn trong lĩnh vực ấy


F. LAM RIM DỄ THỰC HÀNH V̀ NHẤN MẠNH NHỮNG BƯỚC ĐIỀU PHỤC TÂM.

Chúng ta đă từng trải bao nhiêu là đau khổ trong cơi sinh tử luân hồi, và cũng đă lên tột đỉnh hạnh phúc mà cơi sinh tử có thể đem lại. Tất cả những đau khổ và hạnh phúc ấy đều do chính tâm của chúng ta tạo nên. Không có pháp nào tốt để điều phục tâm hơn là Lam-rim; Lam-rim đặc biệt nhấn mạnh những phương tiện để đạt được tâm điều phục. Bởi thế Lam-rim dễ áp dụng cho sự thực hành.


G. LAM RIM THÙ THẮNG HƠN NHỮNG TRUYỀN THỐNG KHÁC V̀ CHỨA ĐỰNG NHỮNG CHỈ GIÁO TỪ HAI BẬC THẦY ĐĂ ĐƯỢC HỌC CÁC TRUYỀN THỐNG CỦA HAI BẬC TIÊN PHONG.


Bậc thầy thuộc trường phái Long Thụ và Vidyakokila; bậc thầy thuộc trường phái Vô Trước là Suvarnadv́pi. Giáo lư này được những chỉ giáo của các vị này làm cho phong phú; và bởi thế mà nó thù thắng hơn là truyền thống khác. Như đức Tsongkapa vĩ đại có nói:

Những giai đoạn của con đường đến giác ngộ

Phát xuất từ Long Thụ và Vô Trước -

Những viên bảo châu tối thượng trong các học giả ở thế gian.

Mà danh tiếng nổi bật trong loài hữu t́nh như một cây cờ.

Ngay cả tác phẩm (của Di Lặc) Trang Hoàng Cho Thực Chứng - cũng không có được ba đặc điểm này. Ngay cả vua của mật điển là Sh́ Guhyasanmàja (Shhyasamaja Tantra) cũng không có. Hai bản kinh này không chứa đựng tất cả đề tài của kinh và mật, cũng không nhấn mạnh đến việc điều phục tâm.

Bây giờ, khi bạn đă có đủ diễm phúc để nghiên cứu, quán tưởng và thiền định về Lam-rim với những tính vĩ đại và nét thù đặc ấy, th́ bạn không nên thỏa măn với những chỉ giáo bất toàn vụn vặt. Điều thật thiết yếu là bạn phải hết sức nổ lực để đi trên con đường này.

Đến đây là xong phần tiêu đề chính thứ hai “Tính vĩ đại của Pháp.”


III. CÁCH THÍCH ĐÁNG ĐỂ GIẢNG DẠY VÀ LẮNG NGHE NỀN GIÁO LƯ CÓ HAI VĨ ĐẠI ẤY

Đây là một tiêu đề rất quan trọng. Ngagwang-Dagpa, một thiền gia vĩ đại ở Dagpo có nói:

Phần chỉ giáo tiên khởi tốt nhất

Là dạy về cách nói pháp

và cách nghe pháp.

Hăy yêu mến Pháp...

Nói cách khác, tiêu đề này sẽ định đoạt xem những giáo lư sắp nói có tác động ǵ trên ḍng tâm thức của bạn hay không. Bạn sẽ khó mà chuyển lời giảng của tôi thành quán tưởng và thiền định, nếu bạn hiểu sai tiêu đề này, mà bạn tính nhầm ngày mồng một th́ bạn sẽ sai tất cả mọi ngày khác.

Ở điểm này có ba tiêu đề: (1) Cách lắng nghe các pháp; (2) Cách giảng dạy pháp; (3) Những ǵ mà thầy và môn đệ nên làm cùng nhau khi kết thúc.


A. CÁCH NGHE PHÁP

Ở đây lại có ba tiêu đề phụ: (a) Quán sát sự lợi lạc của việc học pháp; (b) Làm thế nào để chứng tỏ sự kính trọng đối với pháp và người giảng dạy; (c) Cách lắng nghe thực sự.

1. Quán sát những lợi lạc của việc học Pháp.

Điều quan yếu trước tiên là phải thấy những lợi lạc của việc học pháp, v́ chỉ khi ấy bạn mới phát sinh ước muốn học pháp một cách mạnh mẽ. Nếu sự quán tưởng được làm một cách thích đáng, th́ bạn sẽ vô cùng sung sướng khi khởi sự học pháp. Trong tác phẩm Những Lời Phật Dạy có nói:

Nhờ học Pháp, mà bạn hiểu được pháp;

Nhờ học Pháp, bạn chấm dứt gây tội;

Nhờ học Pháp, bạn từ bỏ những cái vô nghĩa;

Nhờ học Pháp, bạn đạt đến Niết bàn.

Nói cách khác, nhờ sự học pháp mà bạn sẽ biết được tất cả những điểm then chốt để thay đổi kiểu hành xử của bạn. Bạn sẽ hiểu được ư nghĩa của tạng Luật và nhờ vậy bạn sẽ chấm dứt gây tội bằng cách tuân theo tăng thượng Giới học. Bạn sẽ hiểu được ư nghĩa của tạng Kinh, và kết quả là bạn từ bỏ những chuyện vô nghĩa như những giải trí tầm thường, bằng cách tu tập tăng thượng Định học. Và bạn sẽ hiểu được ư nghĩa của tạng Luận, nhờ vậy bạn từ bỏ những si mê bằng phương tiện tăng thượng Tuệ học. Do vậy sự học pháp của bạn sẽ giúp bạn đạt đến Niết bàn.

Trong Bản sanh truyện có nói:

Học là ngọn đèn

Xua tan bóng đêm

Là tài sản quư nhất

Trộm không đoạt được.

Là khí giới đánh bại kẻ thù -

Sự ngu tối về mọi sự.

Học là bạn tốt nhất

Dạy cho bạn các phương tiện;

Là một người quyến thuộc

Không bỏ bạn khi bạn nghèo.

Là phương thuốc giải sầu

Không làm hại bạn.

Là đạo quân công việc tốt

Phái đi dẹp giặc tà hạnh

Là vốn tối thượng của danh tiếng và vinh quang.

Không ǵ quư hơn là có học

Khi bạn gặp những người giỏi.

Bạn sẽ cảm kích những học giả

Trong bất cứ hội chúng nào.

Sự học như ngọn đèn xua tan bóng tối vô minh.

Bậc tôn sư của tôi dạy rằng, khi bạn biết dù một chữ trong mẫu tự là bạn cũng đă xua tan được sự tối tăm liên hệ đến nó. Bạn dă thêm một tí vào cái kho trí tuệ của ḿnh. Cũng thế, khi biết thêm những mẫu tự khác, bạn cũng xua được sự ngu dốt với những mẫu tự này, và dồn thêm vào kho trí tuệ của bạn. Nếu không học chút ǵ, th́ cả đến một chữ A chúng ta cũng không nhận ra được; dù chữ ấy có được viết lớn bằng cả đầu lừa, chúng ta cũng chỉ có nước lắc đầu kinh quái. Các bạn cứ tưởng tượng những người không biết tí chữ nghĩa nào, th́ sẽ hiểu lời tôi.

Bạn càng thêm sự học th́ càng bớt được sự ngu dốt. Ánh sáng trí tuệ bạn tăng dần theo tỉ lệ học. Trong Những Lời của Phật chúng ta t́m thấy câu sau:

Một người có thể rất quen thuộc với một ngôi nhà,

Nhưng trong bóng tối nó sẽ không thấy ǵ

Dù vẫn có đôi mắt

Cũng vậy, đệ tử Phật không học

Th́ không phân biệt được tội và phúc

Khi một người có mắt

Đem theo cây đèn

Nó sẽ thấy được h́nh sắc

Cũng vậy nhờ có học

Người ta biết phân biệt phước và tội.

Nói cách khác, bạn không thể thấy được ǵ trong một pḥng tối om, mặc dù chung quanh bạn có rất nhiều vật và mặc dù mắt bạn mở thật lớn. Cũng tương tự, bạn có thể có con mắt tuệ nhưng không có ngọn đèn học, th́ bạn sẽ không biết ǵ về những điểm cần yếu để thay đổi lối hành xử của bạn cho đúng. Nếu bạn thắp lên một ngọn đèn trong pḥng tối, bạn có thể trông thấy mọi sự vật trong đó một cách rơ ràng; như vậy với con mắt tuệ và ngọn đèn học, bạn sẽ hiểu được tất cả hiện tượng.

Tác phẩm Những Cấp Bực Bồ Tát của Vô Trước có đề cập chi tiết về những lợi lạc này, và nói người ta nên lắng nghe giáo lư với năm thái độ như thế nào. Thái độ thứ nhất là xem giáo lư như con mắt, nhờ con mắt ấy mà bạn phát triển trí tuệ. Rồi bạn xem giáo lư như ánh sáng, nhờ ánh sáng ấy mà con mắt tuệ này thấy được chân lư tương đối (tục đế) và tuyệt đối (chân đế). Bạn nên xem giáo lư như báu vật rất hiếm có trên đời. Xem giáo lư như một cái ǵ hết sức lợi lạc, nhờ đó mà bạn đạt được quả vị của những đại Bồ tát. Cuối cùng, bạn cũng xem giáo lư như một cái ǵ hoàn toàn rộng mở v́ nó sẽ giúp bạn thành tựu được tâm tịnh chỉ và tuệ quán đặc biệt.

Sự học của bạn cũng là tài sản tối thượng mà không ai đoạt của bạn được. Những kẻ trộm có thể mang đi những của cải thế gian của bạn, nhưng không thể lấy của bạn Thất Thánh Tài - bảy báu vật của những bậc thánh - nghĩa là sự học vân vân; cũng không thể cướp những đức đa văn, giới, bố thí, vân vân. Ngay cả vào thời vàng son nhất của bạn, những của cải thế tục cũng đem lại cho bạn nhiều cơn nhức đầu, chẳng hạn khi bạn trở về nơi bạn sinh ra, th́ bạn đem những tài sản ǵ theo trong cuộc hành tŕnh? Sự học của bạn th́ không thế: bạn có thể đem theo ngay cả khi bạn chết. Bởi thế, điều quan trọng nhất là những tu sĩ khờ khạo chúng ta không nên ao ước những ấm pha trà kiểu cọ hay những b́nh đồng vân vân.; mà chúng ta nên khát khao bảy châu báu ngọc của bậc Thánh (thất thánh tài.)

Sự học cũng là người bạn không bao giờ bỏ ta trong lúc hiểm nghèo. Những quyến thuộc thông thường chỉ làm bộ thân thiện với ta khi ta khá giả, c̣n khi ta gặp vận xui, họ giả vờ không nhận ra ta. Nhưng sự học th́ lại là quyến thuộc tốt nhất, v́ nó thật sự giúp bạn khi gặp lúc không may, khi bạn bị đau khổ, bệnh, chết v.v...

Trước khi Tsechogling Rinpoche trở thành thầy giáo đạo cho một trong những vị Dalai Lamas, ông đă có một thời gian rất nghèo. Ông gặp một người chú giữa đường đang đi buôn bán. Ông hỏi người chú một điều ǵ đó nhưng ông ta giả vờ không nhận ra. Sau khi Rinpoche làm thầy giáo đạo cho đức Đức Dalai Lama và trở thành một trong những vị có quyền hành cao nhất, th́ người chú liền đến nhận bà con.

Ngày xưa có một người xuất thân nghèo khó, nên không người nào nhận bà con với anh ta. Sau khi làm ăn buôn bán có được chút ít tiền, th́ nhiều người đến nhận là có liên hệ máu mủ. Anh ta gọi họ đến đăi một bữa ăn. Anh đặt những đồng tiền trên bàn, quỳ trước những đồng tiền ấy và nói: “Một người không phải chú tôi cũng trở thành chú tôi. Ôi hỡi những đồng tiền khả ái, ta phải lạy các ngươi.” Nói cách khác đi, bạn không thể tin tưởng ngay cả bà con của bạn.

Nếu ta muốn t́m những quyến thuộc bền lâu, th́ tại sao không t́m sự học, sự tu thiền quán?

Sự học cũng là một phương thuốc chữa bệnh mê lầm, và là một đạo quân chống lại bất thiện. Nó cũng là kho chứa danh xưng và vinh dự tốt nhất; phần thưởng tốt nhất ta có được từ những bậc thánh; là cách tốt nhất để được sự tôn trọng của những bậc hiền trí.

Truyện Bản sanh cũng nói:

Người nào có học sẽ phát triển đức tin;

Sẽ kiên cố và hoan hỉ trong những điều thù thắng;

Sẽ phát triển trí tuệ, không c̣n bóng tối ngu si.

Dù phải cắt thịt mà bán để học cũng đáng.

Nói cách khác, sự học có vô số điều tốt lành.

Nhờ sự học, bạn sẽ phát sinh niềm tin vào những đức tính của Ba ngôi báu; bạn sẽ nỗ lực cúng dường chư Phật, vân vân. Lại nữa, v́ tin ở định luật nghiệp báo, bạn sẽ vui vẻ thay đổi lối hành xử của ḿnh, vân vân. Bạn sẽ bắt đầu hiểu ra những lỗi lầm của hai đế đầu (khổ và nguồn gốc của khổ), và những đức tính của hai khổ sau (sự chấm dứt khổ và con đường chấm dứt khổ). Như thế bạn luôn luôn hành động hướng về mục tiêu tối hậu là Phật quả.

“Dù phải cắt thịt mà bán để học cũng đáng.” Thế mà bây giời các bạn được học trong tiện nghi, khỏi phải cắt xả thân thể, th́ bạn nên nỗ lực học. Câu thơ trên được đặt vào miệng của bồ tát Chandra, một tiền thân Phật Thích Ca sau khi ngài đă tự đóng một ngàn cái đinh vào thân thể cho ḍng kệ Ngài học được.

Bạn càng chiêm nghiệm nhiều lần th́ sự học càng sâu, càng thiền định nhiều th́ càng mau phát triển tuệ quán; và bạn sẽ có được trí tuệ.

Các tu sĩ trẻ tuổi cần phải học năm đề tài thảo luận khi học vào một trong những tu viện lớn. Có một sự khác biệt lớn lao giữa người có học và không học - ngay cả nhận thức của họ về Ba ngôi báu. Bạn có thể phải trông coi vài đứa trẻ. Nếu chính bạn ít học th́ bạn không nên giáo dục chúng để lớn lên thành người như bạn. Hăy cho chúng học, rồi trong đời sau bạn cũng sẽ có được trí tuệ như chúng có được trong đời này. Những người liệt tuệ, già cả, vân vân, có thể muốn học những cổ thư vĩ đại, nhưng cái chết sẽ đến gián đoạn sự học của họ trong khi họ chưa ra khỏi được những ǵ tà giải. Bởi thế những người như vậy không thể nào hoàn tất một số lượng học hỏi lớn lao. Nhưng nếu học một pháp như Lam-rim, họ sẽ có được một vài hiểu biết về toàn bộ con đường. Có lần Tsongkapa đă báo mộng cho Panchen Lama là Lozang Choekyi Gyaeltsen rằng:

Muốn tự lợi và lợi người,

Th́ đừng bao giờ thỏa măn với sự học của ngươi.

Hăy xem những vị bồ tát ở địa vị thứ ba:

Họ luôn bất măn với mức học hành của họ

Các bạn cũng nên như vậy.

Bất kể người ta suy nghĩ ở một mức độ thấp đến đâu, chắc chắn họ cũng có được một ít thời gian dành cho việc học - chẳng hạn học một bài giảng ngắn gọn về Lam-rim. Làm sao có thể không biết t́m cách thực hiện một việc học giản dị như thế? Làm sao họ có thể sống một cuộc đời quá ít phần Pháp như vậy? Làm sao họ có thể tuyên bố, “Chúng tôi không thuộc hạng mọt sách?” Tại sao, ngay cả ngựa, ḅ cái và cừu cũng biết làm thế nào để có được phần ḿnh cho công bằng. Các bạn phải học theo tŕnh độ tri thức riêng của ḿnh. Nhưng bất kể bạn học cái ǵ, dù là một bản văn ngắn gọn hay một bản văn nhiều chi tiết, th́ nó cũng phải chứa đựng toàn bộ các đề tài thiền quán, khởi đầu từ sự nương tựa một bậc hướng đạo sư và kết thúc bằng sự tịnh chỉ nhất tâm của bậc Vô học. Nếu một bản văn mà thiếu sót, th́ nó sẽ không có toàn bộ các đề tài khác, nó cũng không bù được những thiếu sót ấy. Chuyện ấy cũng giống như trong pḥng bạn có hàng trăm tấm thảm trải nền, nhưng lại không có áo quần để mặc; hoặc có hàng trăm bộ y phục mà lại không có thảm trải nhà. Nếu bản văn chỉ dẫn mà đầy đủ, th́ nó sẽ dẫn bạn từng bước trên đạo lộ, bất kể nó có nhiều hay ít chi tiết - cũng như cái pḥng của ông bộ trưởng và cái cốc của ông thầy tu đều phục vụ được mục đích riêng của mỗi người.



2. Làm thế nào để tỏ sự kính Pháp và người giảng Pháp

Kinh Kshitagarbha (Địa Tạng?) nói:

Hăy nghe pháp với niềm kính tín.

Đừng nhạo báng chê bai những người giảng;

Hăy cúng dường những vị giảng Pháp.

Xem họ như những người ngang hàng với Phật.

Bạn phải kính lễ những bậc thầy giảng dạy Pháp mỗi khi nghe giáo lư của họ cũng như kính lễ đức Phật đấng đạo sư của chúng ta.

Tác phẩm Các Địa Vị Bồ Tát của Vô Trước nói ta phải lắng nghe không vọng tưởng, tâm không bị tán loạn v́ năm sự sẽ được giải thích dưới đây. Ta cũng phải tẩy tâm khỏi phải thói kiêu mạn. Lại có sáu điều cần có khi bạn nghe pháp: (1) thời gian thích hợp; (2) lễ độ; (3) sự tôn trọng; (4) không sân; (5) thực hành giáo lư nghe được; (6) không t́m lỗi trong giáo lư.

Hăy nói yếu tố đầu tiên:

- Thời gian thích hợp.

Vị thầy chỉ nên cho một buổi giảng dạy nếu khi ông cảm thấy sung sướng khi làm việc ấy, nếu ông không bận những việc khác, v.v... Bởi thế, bạn không được yêu cầu thầy giảng hay chỉ nghe giảng lúc nào thuận tiện cho ḿnh, v́ điều ấy sẽ chứng tỏ bạn quá tự phụ và ích kỷ. Tiến sĩ Potowa có lần ở tại tu viện Kakag ở cao nguyên tỉnh Trung ương, đang in ấn nhiều kinh sách và rất bực dọc. Có một người đến xin ông ta dạy giáo lư. Ông đứng lên giận dữ đuổi người ấy đi. Người kia vội vàng rút lui. Điều này chứng tỏ bạn cần phải thiện xảo về phương diện thời tiết giờ giấc.

- Người ta chứng tỏ sự lễ độ bằng cách sụp lạy và đứng lên khi có mặt bậc thầy.

- Tỏ dấu tôn trọng bằng cách rửa tay chân cho thầy.

- “Không sân” là không đổ quạu khi thầy sai bảo làm việc ǵ.

- “T́m lỗi” nghĩa là phàn nàn. Cũng có nghĩa là khinh bỉ pháp và người dạy, một hành vi do vọng tưởng mê si.

Người học cũng không nên chú ư năm sự vào nơi vị thầy: thiếu đạo đức, thuộc giai cấp hạ tiện, y phục tồi, nói dỡ hoặc không hay, và xử dụng ngôn ngữ thô tháo. Phải từ bỏ mọi ư niệm coi năm sự ấy là như là những lỗi lầm.



3. Cách nghe pháp thực thụ

Có hai phần: (1) từ bỏ những lỗi lầm khiến bạn thành một b́nh chứa xứng đáng; (2) đào luyện sáu thái độ tốt.

a. Từ bỏ những lỗi lầm khiến bạn thành một b́nh chứa xứng đáng

Ba lỗi ấy là (1) giống như một đồ chứa bị lật úp; (2) giống như một đồ chứa hôi hám; (3) giống như một đồ chứa mà đáy bị ṛ rỉ.

Lỗi đồ chứa bị lật úp

Nếu một cái b́nh bị lật úp, th́ dù có đổ vào đấy bao nhiêu chất uống bổ dưỡng cũng không có một giọt nào vào được bên trong. Bạn có thể ngồi trong hàng thính chúng để nghe pháp, nhưng bạn sẽ không hiểu được chút ǵ nếu tâm bạn bị phân tán và bạn không để vào lỗ tai những ǵ đang được nói. Như thế th́ đi nghe giảng cũng như không. Bạn phải lắng nghe như một con nai - một sinh vật bị lôi cuốn nhiều bởi âm thanh. Bạn phải đặt hết sự chú ư vào lời giảng dạy. “Đặt hết sự chú ư” có nghĩa không phải là chỉ để một nữa tâm nghe pháp c̣n nữa tâm kia lang thang. Có nghĩa là bạn phải theo dơi sự giảng dạy một cách sát nút. Bạn phải làm như con nai bị sự thu hút bởi âm thanh tiếng sáo mà bị người thợ săn bắn trúng nó một cách dễ dàng.

Lỗi như đồ chứa hôi hám

Một đồ chứa có thể không bị lật úp, song nếu nó chứa độc dược th́ bất cứ ǵ đổ vào đấy cũng không thể dùng được, mặc dù lúc đầu nó c̣n tốt lành. Lỗ tai các bạn có thể thu vào mọi sự, nhưng người th́ có thể bị thúc đẩy bởi ư muốn tăng thêm sự hiểu biết, người th́ muốn lặp lại những ǵ đă nghe cho người khác, v.v... Nghe v́ muốn đạt đến sự b́nh an cho riêng bạn là một động lực khá lớn hơn những động lực nói trên, song nó vẫn bị xem là có lỗi, giống như đồ chứa hôi hám. Bởi thế bạn phải lắng nghe với tối thiểu là một tâm bồ đề gượng gạo làm động lực.

Lỗi như đồ chứa bị ṛ rỉ

Một b́nh chứa có thể là không lật úp cũng không hôi hám, song nếu cái đáy bị ṛ rỉ th́ nó không thể chứa được chút nước nào, dù có đổ vào nhiều nước bao nhiêu cũng vậy. Tại bạn có thể thu vào mọi sự, bạn có thể có động lực không lỗi lầm, song nếu bạn không nghe cho thật kỹ th́ bạn sẽ quên hết mọi sự ngay sau đó. Thật là khó có thể dùng biện pháp nào cho khỏi quên một bài giảng, bởi thế ta phải dùng một cái ǵ để giúp trí nhớ, như quyển sách hay một loạt những tiêu đề, chẳng hạn. Ta phải thường xuyên xem lại tài liệu và nghĩ “Đoạn này giáo lư đă dạy những ǵ?” Quan trọng hơn nữa, cần phải họp những bạn đồng học mà ôn lại những ǵ đă nghe.

Về việc từ bỏ ba lỗi này của đồ chứa, trong một bản kinh Đức Thế Tôn nhấn mạnh: “Hăy nghe kỹ, nghe cho khéo, và để vào trong tâm.” “Nghe kỹ” ám chỉ từ bỏ lỗi của đồ chứa hôi hám; “nghe cho khéo” từ bỏ đồ chứa bị lật úp; “để vào trong tâm” từ bỏ lỗi của đồ chứa bị ṛ rỉ ở đáy.

Vậy, đấy là cách nghe Pháp.

b. Đào luyện sáu thái độ tốt.

Đó là: (1) thái độ xem ḿnh là con bệnh; (2) thái độ xem Pháp là thuốc; (3) thái độ xem bậc thầy hướng đạo là lương y; (4) thái độ xem việc thực hành pháp giống như chữa bệnh; (5) thái độ xem bậc hướng đạo tâm linh là một bậc thánh thiện như chư Pháp. (6) thái độ mong cho Pháp sẽ tồn tại lâu dài.

Khởi tâm xem ḿnh là con bệnh

Cần nhất là phải có thái độ xem ḿnh như bệnh nhân, th́ tự nhiên sẽ phát sinh những thái độ kế tiếp. Quán tưởng ḿnh là bệnh nhân có vẻ như là chuyện ngược đời trong khi ta không đau ốm ǵ cả, nhưng ở đây là muốn nói chúng ta đang bị cái bệnh si mê lầm lạc. Geshe Kamaba nói, một người không đau ốm mà quán tưởng ḿnh bệnh thật là điên, nhưng kỳ thật chúng ta đă nhiễm phải chứng bệnh có ba độc tố (tham, sân, si) trầm trọng kinh niên mặc dù ta không biết đến.

Chúng ta có thể ngạc nhiên hỏi: “Làm sao có thể tôi bị bệnh mà tôi không biết?” Nhưng khi bạn lên cơn sốt cao, bạn có thể nói nhảm, ca hát vân vân, mà vẫn không cảm thấy đau đớn ǵ. Vậy chúng ta cũng đang bệnh trầm trọng với những vọng tưởng mê lầm mà ta không biết.

Bạn cũng có thể hỏi: “Nếu tôi có bệnh, th́ tôi phải có những cơn đau nhức khó chịu chứ? Nhưng tôi không đau nhức ǵ cả.” Kỳ thực thỉnh thoảng bạn có những cơn đau nhức do ba độc tố gây nên. Bạn hỏi, thế là thế nào? Th́ đây, ví dụ bạn ra chợ trông thấy một món hàng hấp dẫn bạn song bạn không có tiền để mua. Khi về nhà, bạn hết sức đau khổ không biết làm thế nào đẻ có được món ấy. Đấy là cơn đau nhức tham luyến. Khi bạn cảm thấy, nghe hay nhớ một chuyện ǵ khó chịu, - ví dụ một lời nhận xét châm chích - bạn cảm thấy đau khổ không chịu nổi. Đây là một điển h́nh của cơn đau nhức do sân hận. Hăy quan sát phần này một cách chi tiết, đi sâu vào thói kiêu mạn, ganh tị, vân vân. Những si mê vọng tưởng là những chứng bệnh kinh niên trầm trọng, đau đớn, khó kham nhẫn.

Bởi thế, bạn đă mắc phải nhiều chứng bệnh: bệnh tham, bệnh thù hận, bệnh ganh ghét, vân vân. Bạn hết sức cẩn thận để khỏi mắc phải một chứng bệnh thông thường, thế mà những si mê vọng tưởng đủ thứ ấy không làm cho bạn lo lắng măy may. Shantideva nói trong tác phẩm Hành hạnh Bồ tát rằng:

Khi bạn bị một bệnh thông thường,

Bạn c̣n phải vâng lời thầy thuốc

Nói ǵ đến bệnh nguy hiểm hơn trăm lần

Mà bạn luôn luôn mắc phải, như bệnh tham?

Chúng ta hết sức lo sợ khi bị một cơn bệnh kéo dài hai ba tháng chưa khỏi. Nhưng chứng bệnh si mê th́ chúng ta đă mắc phải từ vô thỉ luân hồi cho đến ngày nay. Chúng ta không thể nào khỏi bệnh nếu ta chưa giải thoát khỏi ṿng luân hồi sinh tử. Như Geshe Potowa nói: “Người bệnh không bao giờ khỏe mạnh, người lữ hành không bao giờ đến đích...” Câu này diễn tả thân phận chúng ta một cách tuyệt hảo.

Khởi tâm xem diệu pháp như thuốc

Khi bệnh nhân nhận ra ḿnh bị bệnh, th́ họ cần t́m thứ thuốc cho đúng bệnh. Vị thuốc duy nhất sẽ làm lắng dịu cơn bệnh si mê chính là diệu pháp của Phật, đây là món thuốc mà bạn phải t́m kiếm.

Khởi tâm xem vị hướng đạo tâm linh của ḿnh như lương y

Khi đau ốm mà không có bác sĩ, bạn uống đại vài thứ thuốc, th́ bạn có thể lầm lẫn về t́nh trạng bệnh của ḿnh, - chẳng hạn nó thuộc nhiệt bệnh hay hàn bệnh - và không biết nó đă đến giai đoạn nào. Thứ thuốc bạn dùng có thể không ích ǵ mà c̣n nguy hiểm đến tánh mạng. Vậy đương nhiên là bạn rất cần nương tựa vào một vị lương y. Có thể bạn không cần nương tựa vào một vị hướng đạo tâm linh, mà nghỉ rằng: “Xem sách mà tu là đủ rồi.” Nhưng bạn sẽ không phát triển được một thực chứng hay tuệ giác nào chỉ nhờ đọc tụng, thiền quán, vân vân. Ḍng tâm thức của bạn sẽ càng ngày càng ăn sâu vào những tập quán của chính nó. Vậy, khi bạn quyết định thực hành Pháp, th́ phải nghiêm túc nương tựa vào một bậc hướng đạo sư như nương tựa vào một y sĩ. Khi bị bệnh bạn rất sung sướng gặp thầy thuốc giỏi. Bạn sẽ lắng nghe những ǵ lương y bảo bạn; và v́ ḷng kính trọng, bạn đối xử với y sĩ ấy rất lễ độ. Bạn cũng phải có thái độ tương tự như thế, khi bạn t́m ra một hướng đạo tâm linh. Trong tác phẩm Tóm Tắt Những Đức Tính Quư Báu có nói:

Như vậy, những người trí khát khao đạt giác ngộ

Th́ hay nên hoàn toàn chế ngự thói kiêu mạn của ḿnh

Cũng như những con bệnh muốn khỏi bệnh

Phải tùy thuận thầy thuốc, người t́m đạo

Phải kiên tŕ nương tựa vào một vị hướng đạo tâm linh.

Khởi tâm nghĩ chuyện cần thực tập sẽ chữa khỏi bệnh

Thuốc là cái giúp con bệnh, nhưng có khi bạn không theo lời thầy thuốc, thay v́ uống thuốc thầy dặn th́ bạn lại để nó một bên giường. Nếu bạn không khỏi bệnh th́ không thể trách thầy thuốc, v́ bạn chưa hề dùng thuốc.

Vị hướng đạo tâm linh giống như một lương y, nhưng nếu sau khi nghe thật nhiều lời chỉ giáo - giống như thuốc để chữa bệnh si mê- mà bạn không thực hành th́ cũng không có lợi ǵ cho ḍng tâm thức bạn, dù lời chỉ giáo ấy hay ho đến đâu đi nữa. Bạn không nên chê bậc đạo sư, chê Pháp. Lỗi là ở nơi chính bạn. Kinh Tam Muội Vương có nói:

Sau khi kiên tŕ t́m kiếm, con bệnh đă t́m được

Một thầy thuốc thông minh tài giỏi.

Vị này thương xót nh́n bệnh nhân mà nói:

“Hăy uống cái này,” và ông cho thuốc.

Nhưng con bệnh không uống thuốc quư báu có thể chữa lành ấy.

Đừng trách lương y;

Thuốc cũng không có lỗi

(nếu bệnh không lành.)

Cũng thế, với những người đă thụ giới trong Giáo pháp này.

Họ có thể biết đầy đủ Mười sức mạnh, các tầng thiền định, mười khả năng.

Nhưng vẫn không nỗ lực để thiền quán

Th́ làm sao đạt được Niết bàn?

Ta đă dạy các ngài diệu pháp

Nếu ngươi không áp dụng tốt những ǵ đă học

Th́ cũng như con bệnh cứ để thuốc trong tủ

Và nghĩ rằng: “Thuốc này không thể chữa bệnh tôi.”

Shantideva nói trong tác phẩm Hành bồ tát Hạnh như sau:

Hăy xử dụng thuốc bằng cách uống vào thân thể bạn

Danh từ không mà thôi th́ chẳng làm được cái ǵ.

Thử hỏi người bệnh làm sao khỏi bệnh

Chi bằng cách đọc cái toa thuốc?

Bởi thế, bạn có thuốc chưa đủ, muốn khỏi bệnh bạn phải uống nó một cách thích đáng, và theo chỉ dẫn của y sĩ. Bạn phải áp dụng sự hiểu biết của bạn ư nghĩa của lời dạy khẩu truyền trong việc chữa bệnh vô minh, và áp dụng những lời dạy ấy vào thực hành. Trong tác phẩm của Tsongkapa Những Giai Đoạn Đoạn Chính của Đạo Lộ chúng ta t́m thấy câu sau:

Nhờ học mà có hiểu; nhưng hiểu rồi th́ phải thực hành. Bởi thế điều thiết yếu là hăy áp dụng những ǵ ta đă học, càng nhiều càng tốt.

Kinh Khuyên Hành Hạnh Vị Tha nói như sau về những người có thói quen nhận thật nhiều lời dạy và quán đảnh nhưng không thực hành ǵ cả:

Vỏ cây mía không có nước

Vị ngọt cây mía nằm bên trong.

Người nhai vỏ mía

Th́ không t́m được vị mía

Chỉ nói suông giống như vỏ mía

Suy tư ư nghĩa mới là vị ngọt.

Nói cách khác đi, những người ấy giống người ăn mía mà chi nhai vỏ th́ không biết ǵ mùi vị cây mía.

Họ cũng như người đi xem tuồng

Như người ca tụng những diễn viên

Họ đă mất cái cốt yếu

Đấy là những nguy hiểm

Của sự chuyên kư danh ngôn.

Lại nữa, họ cũng như người bắt chước những diễn viên trên sân khấu. Bạn không nên tu tập bằng chỉ có học mà thôi; bạn cần phải áp dụng những ǵ đă học vào thực hành., họ cũng như người bắt chước những diễn viên trên sân khấu. Bạn không nên tu tập bằng chỉ có học mà thôi; bạn cần phải áp dụng những ǵ đă học vào thực hành. Nếu không thế th́ sự học Pháp càng làm cho bạn thêm khó trị chứ chẳng ích ǵ. Học nhiều mà không hành được gọi là “nguyên nhân để trở thành vô bổ đối với Pháp.” Lúc đầu mới học, thiền định dường như ít lợi lạc ǵ cho tâm thức. Nhưng sự học sẽ không có ảnh hưởng ǵ nếu sau đó bạn không suy tư thiền quán về những ǵ đă học. Cuối cùng bạn sẽ sinh bệnh về những giáo lư, dù cho phần truyền khẩu đặc biệt của giáo lư có sâu xa đến đâu. Như thế là việc học của bạn không có chút lợi lạc nào cho ḍng tâm thức bạn. Bạn trở nên “lờn Pháp,” Pháp không có hiệu nghiệm ǵ đối với bạn. Bậc thầy Vararuchi nói trong tác phẩm Một Trăm Bài Kệ rằng:

Vị tỷ kheo đă cởi áo tu

Người phụ nữ đă bỏ ba đời chồng

Kẻ du côn vừa thoát bẩy -

Ba hạng người đó th́ phải biết khôn lanh!

Phái Kadampa xưa có câu:

Pháp có thể làm cho kẻ tội lỗi quy phục

Nhưng không thể lay chuyển kẻ lờn Pháp.

Dầu có thể làm mềm một tấm da thú

Nhưng không làm nao núng chỗ da đă chai.

Nói cách khác, đấy là điều tệ hại nhất có thể xảy ra đến người học thật nhiều (về Lam-rim) mà không thực hành. những người đă học các giáo lư khác mà không ăn thua ǵ, có thể được nhiếp phục nhờ pháp Lam-rim. Nhưng nếu họ chai ĺ đối với pháp Lam-rim, th́ họ hết phương cứu chữa. Bởi thế các bạn phải ư thức điều này.

Hăy học những ǵ bạn sẽ thực hành, và hăy liên kết những ǵ bạn học vào với ḍng tâm thức bạn. Dromtoenpa, ông vua về Pháp, đă nói như sau về sự phối hợp học, chiêm nghiệm và thiền quán:

Càng học, tôi càng chiêm nghiệm về thiền quán.

Càng chiêm nghiệm, tôi càng tăng sự học và thiền.

Càng thiền quán, tôi càng tăng sự học và chiêm nghiệm.

Từ một căn bản, tôi tăng cả ba,

Như vậy tôi biết cách xem Pháp là con đường tu tập của ḿnh.

Tôi một hành giả Kadampa không làm việc nửa vời

Người mang đai da lớn thường bị lầm

Ai hiểu rơ điều này mới đúng hành giả Kadampa.

Nếu những người cùi với tay chân dị dạng chỉ uống thuốc một hai lần, th́ t́nh trạng của họ sẽ không thay đổi; họ càng phải uống thuốc thật mạnh trải qua một thời gian dài. Từ vô thỉ chúng ta đă nhiễm chứng bệnh vô minh trầm kha độc hại, cho nên thật không thấm vào đâu nếu chúng ta chỉ thực hành ư nghĩa của lời chỉ giáo một hai lần mà thôi. Chúng ta phải làm việc với những giáo lư ấy một cách nghiêm túc và kiên tŕ như gịng nước chảy. Bậc thầy Chandragomin nói:

Tâm ta đă luôn luôn bị mù quáng

Bởi căn bệnh kinh niên kéo dài;

Làm sao một bệnh cùi đă co quắp chân tay

Có thể thấm thuốc chút nào

Nếu nó chỉ uống một hai lần rồi bỏ.

Ta cần phải thực hành ngay những ǵ đă học, như Geshe Chaen Ngawa. Ngài đang đọc một chương Luật tạng nói về da thuộc và da sống; và thấy rằng luật cấm một tỷ kheo đă thọ giới không được dùng da thú. T́nh cờ lúc ấy ngài đang ngồi trên một tấm da thú. Ngài lập tức bỏ nó ra. Rồi khi đọc tiếp ngài thấy luật này có thể “khai” tại các xứ xa xôi (biên địa), ở đấy các vị tỷ kheo được phép sử dụng da thú. Khi ấy ngài mới lấy lại tấm da để trải ngồi.

Khởi tâm nghĩ tưởng thầy ḿnh như Phật

Con người đầu tiên giảng dạy Pháp cho chúng ta là Đức Phật, đấng Đạo sư đă khai thị con đường và kết quả của sự đi trên con đường ấy. Ngài đă giảng dạy một cách thích đáng, dạy cho ta thay đổi lối hành xử của ḿnh. Giáo lư ấy thuần tịnh không chút lầm lỗi. Như thế, Ngài là người có thẩm quyền về Pháp. Vậy nên mỗi khi nhớ lại sự kiện này về Đức Phật, ta phải nghĩ, “Làm sao sự giảng dạy của Ngài về Pháp có thể lầm lẫn được?” đi xa hơn ta có thể nói rằng một bậc thánh giảng dạy theo đúng truyền thống ấy cũng chính là một vị Phật. Khi ấy ta nên nghĩ rằng: “Thầy ta, người thánh thiện này, chính là một hóa thân của Đức Thích Ca Như Lai.”

Khởi tâm mong cho truyền thống pháp này tồn tại dài lâu

Sau khi nghe pháp, cần phải có thái độ mong mỏi như sau: “Thật kỳ diệu thay nếu nền giáo lư của Đấng Chiến thắng sẽ tồn tại dài trên thế gian này!”

Năm thái độ đầu là để nhớ tưởng ḷng từ bi của Đức Như Lai. Thái độ thứ sáu cuối cùng là để báo đền ân đức ấy.

Lắng nghe diệu pháp là điều cốt tủy. Lư do đi nghe Pháp là để gây một áp lực tác động trên ḍng tâm thức bạn, nếu tâm bạn vẫn ù ĺ như cũ. Nhưng nếu sau khi nghe giáo lư mà bạn vẫn không thay đổi chút nào, th́ quả giáo lư ấy không tuyệt đối không có ích lợi ǵ cho bạn, dù sự giảng dạy thật thâm thúy sâu xa, và bạn đă nghe rất chăm chú. Hăy lấy ví dụ: Bạn phải nh́n vào gương để thấy mặt ḿnh có sạch hay không, rồi mới có thể tẩy hết vết dơ mà bạn thấy trên mặt. Bạn xét ḍng tâm thức của bạn trong tấm gương Pháp, lắng nghe Pháp xem Pháp ấy nói tâm bạn có những khuyết điểm ǵ. Nếu bạn t́m thấy khuyết điểm nào, bạn cảm thấy buồn bă nghĩ: “Tâm ta đến thế rồi sao?” Và khi ấy bạn sẽ cố t́m mọi cách có thể, để tẩy trừ những khuyết điểm. Bản Sanh Truyện nói:

Khi thấy được những hành vi xấu ác của tôi

Một cách rơ ràng trong tấm gương Pháp

Tâm tôi bị ray rứt vô cùng.

Bây giờ tôi xin quay về với Pháp.

Sudàsaputra đă nói với thái tử Chandra như trên. Câu chuyện về thái tử là tấm gương cho tất cả chúng ta.

Khi Đức Thế Tôn c̣n ở trên đạo lộ của bậc Hữu học, Ngài tái sanh làm bồ tát là thái tử Chandra. Có một người tên Sudàsaputra chuyên môn giết người để ăn thịt. Một ngày kia, thái tử đi vào rừng, gặp một người bà la môn đa văn tiến lại. Khi thái tử đang thọ giáo một bài pháp với người này, th́ bổng họ nghe một tiếng động lớn. Những người hầu được phái đi xem có chuyện ǵ xảy ra, và họ biết Sudàsaputra đang tiến lại.

Những cận vệ của thái tử nói: “Sudàsaputra ăn thịt người. Y là một kẻ đáng sợ; quân đội chúng ta đă rút lui mặc dù có nhiều ngựa, voi và xe. Bây giờ chúng ta phải làm sao? Đă đến lúc ta phải đối đầu với tên ấy.”

Ư nghĩ ấy làm cho thái tử thích thú, nên mặc những lời năn nỉ của vợ con quyến thuộc, ngài vẫn tiến đến nơi có cuộc náo loạn xảy ra. Thái tử thấy Sudàsaputra đang lồng lộng rượt theo đạo quân nhà vua, gươm và mộc dơ cao. Nhưng thái tử không ngần ngại sợ hăi, ngài nói: “Tôi là thái tử Chandra. Hăy đến với tôi.”

Sudàsaputra vừa chạy lại phía thái tử vừa nói: “ Ngươi chính là người mà ta đang cần!” tên ăn thịt người vác thái tử lên vai mà chạy về sào huyệt của y. Nơi ấy đầy những bộ xương người; máu loang đỏ đất, không gian đầy những tiếng kêu ghê rợn của những loài cầm thú ăn thịt hung hăn như chồn, chim thứu, và chim quạ. Sào huyệt th́ đen thui v́ khói của những thây bị nướng. Sudàsaputra đặt thái tử xuống để nghỉ. Mắt y không rời tấm thân xinh đẹp của ngài.

Thái tử nghĩ, “Ta chưa có dịp cúng dường cho vị bà la môn đa văn ấy về bài pháp mà ta đă nghe được trong khu rừng.” Ư nghĩ ấy làm cho thái tử khóc.

Sudàsaputra bảo: “Nín đi, Ngươi, thái tử Chandra, vốn nổi tiếng gan dạ. Thế th́ thật lạ bây giờ ngươi phải khóc khi rơi vào tay ta. Người ta bảo rằng gan dạ cũng vô ích khi trải qua sự đau khổ; sự học không giúp ích ǵ khi đau đớn. Ai bị đ̣n cũng phải co rúm lại. Bây giờ ta mới thấy lời nói này quả thật không sai. Hăy nói thật đi, có phải ngươi sợ v́ ta sắp giết ngươi không? Có phải ngươi sợ phải xa ĺa những bạn bè thân quyến vợ con cha mẹ không? Nói thật đi, tại sao ngài khóc?

Thái tử trả lời: “Tôi đang thọ giáo với một bà la môn mà chưa thể cúng dường ông ta được. Hăy để cho tôi đến cúng dường ông ấy chút ǵ, rồi tôi nhất định trở lại đây với ông.”

Sudàsaputra nói: “Chuyện đó không thể có được, dù ngươi nói ǵ đi nữa. Sau khi đă thoát khỏi hàm thần chết, ai c̣n dại ǵ trở lại nạp mạng?”

“Tôi đă hứa sẽ trở lại mà? Tôi là thái tử Chandra, tôi tôn trọng sự thật như chính bản thân của tôi.”

“Ta không tin ngươi đâu, nhưng ta sẳn sàng làm thí nghiệm. Thôi ngươi hăy trở về đi, rồi ta sẽ xem ngươi có tôn trọng lời hứa thật không. Hăy đi về hoàn tất những công chuyện ǵ của ngươi với lăo bà la môn ấy đi, rồi mau trở lại đây. Ta sẽ nhóm lữa sẳn chờ để quay thịt nhà ngươi.”

Thái tử trở về nhà đem bốn ngàn vàng đem tặng người bà la môn để trả cho ông ta bốn câu kệ ông đă đọc. Thân phụ thái tử t́m hết cách ngăn cản, nhưng vô hiệu; thái tử vẫn đi đến sào huyệt của tên ăn thịt người.

Thái tử nói: “Ông có vẻ ngạc nhiên khi trông thấy tôi đi từ xa. Nào bây giờ ông có thể ăn thịt tôi đi.”

Sudàsaputra nói: “Ta biết đă đến lúc ăn thịt nhà ngươi. Nhưng ngọn lửa hăy c̣n nhiều khói, nếu nướng nhà ngươi bây giờ th́ hôi khói lắm, chẳng c̣n mùi vị ǵ. Vậy trong lúc chờ đợi, hăy nói ta nghe người bà la môn đă nói cái ǵ mà nhà ngươi quư giá đến thế? Ta muốn thái tử hăy nói lại cho ta nghe với.”

Thái tử nói: “Người bà la môn hùng biện đă nói làm cách nào để phân biệt pháp với phi pháp. Nhưng lối hành xử của ông c̣n tệ hơn là quỷ ăn thịt người. Sự học có ích lợi ǵ cho ông đâu?”

Sudàsaputra không chịu nổi lời nhận xét ấy. “Im đi! Bọn vua chúa các ngươi cũng dùng khí giới giết hại thú vật chớ bộ. Điều này dĩ nhiên cũng trái với chánh pháp.”

Thái tử trả lời: “những ông vua giết thú vật là trái với chánh pháp; nhưng ăn thịt người lại càng tệ hơn. Con người quư hơn muôn vật. Và nếu ăn xác người chết cái chết tự nhiên đă là sai quấy, th́ làm sao việc giết người để ăn thịt đă là đúng pháp được?”

Khi ấy Sudàsaputra nói: “Bạn đă không học được ǵ từ nơi kinh điển khi bạn trở lại tôi.”

“Tôi đă trở lại v́ lời hứa, như vậy tôi đă học nhiều từ kinh điển.”

“Những người khác khi rơi vào nanh vuốt của tôi đều rất sợ hăi; nhưng bạn đă tỏ ra thật anh hùng. Bạn không mất b́nh tĩnh cũng không sợ chết.”

Thái tử nói: “Những người ấy tràn trề hối hận v́ họ đă phạm tội. Nhưng tôi đă không nhớ đă làm ǵ quấy, nên tôi không sợ. Tôi đến nạp ḿnh cho ngài, cứ ăn thịt tôi đi.”

Lúc ấy kẻ ăn thịt người đă phát sinh tịnh tín đối với thái tử. Mắt y đẩm lệ và lông tóc dựng ngược, y sợ hăi nh́n thái tử và thú hết tội lỗi của ḿnh. Y nói: “Cố ư xúc phạm một người như ngài th́ chẳng khác nào như uống độc dược mạnh. Xin ngài hăy dạy cho tôi những ǵ như người bà la môn đă dạy ngài.” Y cũng thốt lên bài kệ đă trích dân ở trên:

Khi thấy được những hành vi xấu ác của tôi

Một cách rơ ràng trong tấm gương Pháp

Tâm tôi bị ray rứt vô cùng.

Bây giờ tôi xin quay về với Pháp.

Thái tử Chandra thấy kẻ ăn thịt người đă trở thành một pháp khí thích hợp để chứa đựng chánh pháp, nên bảo y:

Hăy uống những giọt cam lồ chánh pháp

Trong khi ngồi trên một chiếc ghế thấp

Cung cách ngươi đă được đ́ều phục một cách kỳ diệu

Mắt ngươi chiếu sáng niềm vui

Hăy phát sinh niềm tôn kính,,

Nhất tâm lắng nghe những lời này

Như một con bệnh chú tâm lắng nghe thầy thuốc.

Và hăy rút ra từ lời dạy nguồn cảm hứng vô cấu

Hăy lắng nghe với niềm cung kính Pháp.

Khi ấy Sudàsaputra cởi chiếc áo choàng trải ra trên tảng đá để mời thái tử ngồi, đoạn ông ngồi trước mặt thái tử thưa: “Hỡi người thánh thiện, xin giảng dạy cho tôi.”

Thái tử Chandra bắt đầu:

Dù có bao nhiêu tham dục,

Bạn chỉ cần gặp bậc thánh một lần.

Không cần quen biết vị ấy lâu ngày

Điều ấy vẫn làm cho tâm bạn kiên cố.

Vân vân. Bằng sự giảng Pháp, thái tử đă làm cho tâm của Sudàsaputra được điều phục. Để đền ơn, Sudàsaputra hiến tặng cho thái tử chín mươi mốt ông vua mà y đă bắt càm tù để ăn thịt. Y phát nguyện hành tŕ chánh hạnh và từ đấy trở đi sẽ từ bỏ sát sanh và ăn thịt người.

Bởi thế, khi nghe pháp, bạn luôn luôn phải thăm ḍ tâm ḿnh. Nếu làm thế tâm thức bạn sẽ được điều phục, dù một tâm thức hoang dă như Sudàsaputra. Nhưng nếu trong lúc nghe pháp mà tâm bạn vẫn trơ ĺ bất động, th́ bạn sẽ không rút được lợi lạc nào, dù bậc thầy có giỏi bao nhiêu, dù lời chỉ giáo có sâu xa cách mấy

Trong khi nghe Pháp có nhiều người tự hỏi: “Cái ǵ ông thầy nói mà ta chưa biết, chưa học?” Nghe pháp kiểu đó th́ không có lợi ǵ cả.

Một số người lại chỉ chú ư đến những mẫu chuyện lư thú, và không xem trọng, những lời chỉ giáo sâu xa. Ví dụ như sau. Khi Kaelzang Gyatso, vị Đức Dalai Lama thứ bảy thuyết giảng về Lam-rim, người ta nghe có một người nhận xét: “Hôm nay ḿnh biết thêm một tin tức mới. Đức Đức Dalai Lama kể cho chúng ta nghe rằng cái pháo đài ở quận Paenpo c̣n có tên là pháo đài Mayi Cha.”

Lại có những người vừa nghe pháp vừa kiểm chứng xem những lời giảng của vị thầy có hợp với kinh hay không. Lama Tsechogling Rinpoche, một thầy giáo đạo cho một trong những v́ Đức Dalai Lama, đă nói: “Ngày nay các đệ tử dường như muốn kiểm chứng sự chính xác của vị thầy. Nghe pháp kiểu đó th́ không bao giờ được cái ǵ cả. Điều quan trọng nhất là bạn phải thăm ḍ tâm bạn trong khi nghe pháp. Khi những bậc thầy giảng pháp, th́ họ không quan tâm chuyện có lầm lỗi ǵ hay không, mà giảng pháp cốt yếu là một phương tiện để điều phục tâm ư của đệ tử.

Người đệ tử không nên nghe pháp bằng những cách như trên, bất cứ ǵ vị thầy nói đều phải xem như một thử thách đối với ḿnh mới được. Hăy nghe pháp chỉ chỉ cốt để điều phục tâm ư bạn. Nếu làm thế, bạn sẽ phát triển được những thực chứng đầu tiên ngay trong buổi giảng. Đây là một điều không xảy ra khi vị thầy đến thăm trú xứ bạn và bạn dâng cho thầy một tách trà, dù cho vị ấy là một lạt ma thuyết giảng từ một pháp ṭa thật cao. Dù bạn nghiên cứu một ḿnh những ǵ bạn học cũng sẽ không có ảnh hưởng lớn bằng khi nghe giáo lư.

Bất cứ ǵ Geshe Potowa giảng dạy cũng làm cho những người nghe được lợi lạc, dù là ngài chỉ nói chuyện về chim chóc. Cũng có một học giả vĩ đại khác tên là Geshe Choekyi Oezer, nhưng giảng dạy của ngài không lợi lạc cho tâm người nghe, mặc dù rất sâu rộng. Có người nói lại điều này cho Potowa nghe. Ngài nói: “Tất cả những lời giảng dạy của ngài đều tuyệt hảo, nhưng có sự khác biệt giữa hai lối giảng.” Người ta xin ngài giải thích khác nhau chỗ nào, Potowa nói: “Ngài ấy giảng dạy để thông tin những sự kiện, c̣n tất cả pháp tôi nói đều hướng về nội tâm. Đó là sự khác nhau.”

Tiến sĩ Choekyi nghe thế liền đến xin thọ giáo với ngài. Những lời dạy của ngài đă chứng tỏ rất lợi lạc cho vị này mặc dù không một điều ǵ ngài nói mà vị học giả chưa biết đến. Về sau ông bảo: “Tôi hiểu được những điều ǵ mà trước đây tôi chưa từng hiểu.”

Chúng ta nên làm như Geshe Dromtoenpa nói:

“Tôi sẽ nói những bậc đạo sư trong Đại thừa có nghĩa ǵ. Họ đem lại cho người nghe nhiều tri kiến; họ dạy những pháp thực tiễn giúp người ta thực hành sau khi nghe giảng dạy. Và họ chỉ nói những ǵ có lợi lạc trực tiếp.

Câu “sau khi nghe giảng dạy” được giải thích nhiều cách. Theo lời giảng khẩu truyền của bậc tôn sư tôi, th́ nó có nghĩa rằng, dù bạn giảng dạy bất cứ giáo lư ǵ, nó cũng phải lợi lạc cho ḍng tâm thức của người đệ tử sau khi sự giảng dạy chấm dứt.

Loạt tiêu đề đặc biệt này chứa đựng những chỉ giáo về làm cách nào để nghe những giáo lư của đường tu. Như tôi đă nói, bất cứ lỗi lầm nào ở giai đoạn này rất tai hại, như khi tính nhầm ngày mồng một th́ cũng nhầm luôn những ngày khác cho đến rằm. Dù có thọ giáo những pháp sâu xa rộng răi đến đâu, bạn cũng biến thành con ma trong Phật pháp, nghe pháp bạn nghe được chỉ tổ tăng thêm vọng tưởng nơi bạn mà thôi. Tôi nghĩ chuyện này thật quá quen thuộc. Các bạn phải thận trọng.



B. CÁCH GIẢNG DẠY PHÁP

Có bốn phần (a) nghĩ về những lợi lạc của việc giảng dạy pháp; (b) kính pháp và bậc thầy giảng pháp; (c) cần nghĩ và làm ǵ trong khi giảng dạy; (d) khác nhau giữa những người bạn nên dạy và những người bạn không nên dạy.

1. Nghĩ về những lợi lạc của việc giảng Pháp

Điều cố yếu là người giảng pháp không nên biến sự bố thí Pháp thành một cái ǵ do vô minh làm động lực Vasubandhu (Thế Thân) nói:

Đừng để hành vi bố thí Pháp trở thành một hành vi ngu si.

Hăy giảng dạy kinh điển thuần tịnh một cách như pháp.

Nếu bạn dạy với hy vọng được cúng dường, cung kính, được nổi tiếng là học giả, vân vân, th́ sự giảng dạy của bạn thay v́ lợi lạc lại rất có hại. Bạn c̣n mất bớt công đức nữa. Vậy, bạn chỉ nên v́ ḷng bi mẫn mà giảng pháp, v́ muốn lợi lạc cho đệ tử, ngay cả không kể tới hậu quả nghiệp mà bạn có thể đón nhận do sự giảng dạy của bạn. Chuzang Lama Rinpoche Yeshe Gyatso nói:

Tôi nghe lỏm ông ta giảng dạy

Và làm phép quán đảnh;

Ông ấy làm mọi sự tốt

Nhưng ông ta làm cho tôi ngao ngán

Tột đáy sâu của tim tôi

Khi ông hăng hái

Yêu cầu đóng góp tiền bạc.

Nói cách khác, điều này không được xảy ra. Sự giảng dạy là tốt nhất khi giảng sư không màng ǵ đến sự cúng dường vật thực.

Kinh Lời Khuyên Hành Vị Tha đề cập đến hai mươi lợi ích:

Này Di Lặc, một sự Pháp thí không nhằm được cung kính cúng dường, có hai mươi lợi ích: Một, ta sẽ có trí nhớ tốt; hai biết phân biệt; ba thông minh; bốn kiên tŕ, năm có trí tuệ; sáu sẽ đạt xuất trí; bảy bớt chấp thủ; tám bớt sân; chín bớt si; mười ma không thắng nổi; mười một được Phật thương tưởng; mười hai được phi nhân phù hộ; mười ba chư thiên hỗ trợ sự sáng suốt; mười bốn kẻ thù không làm hại được; mười lăm không bị xa ĺa thân quyến; mười sáu lời nói có sức mạnh; mười bảy được sự vô úy; mười tám tâm hồn thoải mái; mười chín được những học giả ca ngợi; hai mươi hành vi bố thí pháp ấy sẽ trở nên đáng nhớ.

Đầu tiên “có trí nhớ tốt” nghĩa là ta sẽ không quên Pháp. “Biết phân biệt” là niềm xác tín có được do những h́nh thức thiền định tối hậu. “Thông minh” ám chỉ niềm tin có được do những phép quán thông thường. “Kiên tŕ” có nghĩa là không thể bị lay chuyển. “Có trí tuệ” ám chỉ thế tục trí đạt được trong đạo lộ tích tập và chuẩn bị; “xuất thế trí” là trí đạt được trong những đạo lộ kiến đạo và thiền quán.

Sáu trong hai mươi lợi lạc này là kết quả tương ứng với nguyên nhân đầu tiên. Bốn lợi lạc khác là do những trạng thái tách rời states of separation. Sáu lợi lạc là y báo, và có một quả do sự thuần thục của nghiệp (xem ngày thứ mười ba, trang...)

(Pabongka Rinpoche nói nhiều về chi tiết đề tài này).

Những lợi ích khác được nói trong Kinh do Ugra Thỉnh Vấn, trong đó nói dù một vị tỷ kheo chỉ bố thí một câu Pháp cũng có nhiều công đức hơn một cư sĩ bố thí vô số của cải vật chất.

Các bạn nên ghi nhớ những lợi lạc này trong tâm, và bạn sẽ mong muốn giảng Pháp và cảm thấy rằng nói Pháp đă là một nguồn vui cho chính bạn. Đây không chỉ là những lợi ích do sự giảng Pháp đem lại khi ngồi trên một pháp ṭa thật cao; mà những vị thầy dạy cho đệ tử cũng không lợi lạc như thế. Lại nữa, khi bạn đọc một bản kinh, hăy tưởng tượng rằng ḿnh đang đọc cho thính chúng trời, rồng, phi nhân, vân vân đang ở quanh ḿnh. Bạn cũng sẽ được lợi lạc tương tự nếu như làm như thế. Khi bạn muốn học thuộc ḷng một bản kinh bạn cũng làm như vậy. Bạn cũng được lợi lạc do nói chuyện pháp thoại với những người khác bằng cách dạy cho họ những điểm ṇng cốt để thay đổi cách cư xử của ḿnh. Nhưng có điều khác nhau cần để ư là, bạn có phải là bậc thầy của người nghe bạn hay không.

2. Kính Pháp và người giảng Pháp

Ngagwang Dragpa ở Dagpo nói: “Đức Phật đấng Đạo sư chúng ta đă dựng ngai Phật ṭa cho chính ngài giảng dạy về Bà Mẹ của Chư Phật.” Nghĩa là khi đức Thế Tôn dạy kinh Bát nhă, Ngài đă làm ngai pháp cho Ngài bằng chính bàn tay Ngài, những bàn tay mang đủ tướng quư của một đức Phật và đẹp như nhánh cây bằng vàng ṛng. V́ Pháp đă gợi sự quư trọng của ngay cả chư Phật như thế nên quả thực chúng ta phải hết sức tôn kính khi nói và nghe Pháp ấy.

Trong đại hội đầu tiên để kết tập kinh điển, A nan và nhiều vị tụng đọc khác nhau đă được ngồi trên một chồng năm trăm tấm y vàng do những vị A la hán khác cúng, để tỏ dấu tôn trọng Pháp. (Ở đây tôi phải nói thêm rằng, ba tấm y của tỷ kheo do Phật chế định, thế mà ngày nay có người sử dụng để lau chùi hoặc để làm gối dựa, đó là điều rất sai quấy.)

Pháp phải được tôn quư v́ tính vĩ đại của Pháp. Ta lại phải nhớ những đức của bậc Đạo sư và ḷng từ bi của ngài, để khởi phát niềm kính trọng.

3. Phải nghĩ và làm những ǵ trong khi giảng dạy pháp

a. Phải nghĩ ǵ

Ngagwang Dragpa ở Dagpo nói:

Từ bỏ tính bủn xỉn, tự kiêu,

Hôn trầm trong lúc dạy, bàn lỗi của người,

Tŕ hoăn việc giảng dạy, và ḷng ganh tị.

Hăy có ḷng thương tín đồ và giảng dạy cho đúng pháp

Bằng cách duy tŕ năm thái độ

Hay nghĩ hạnh này sẽ đem lại cho bạn hỉ lạc.

Nghĩa là bạn không được giữ lại những điểm then chốt của giáo lư, v́ đấy là một kiểu bủn xỉn về pháp. Trong khi giảng pháp, bạn không nên tự ca tụng ḿnh như nói: “Trong quá khứ tôi đă làm điều này điều kia vân vân.” Bạn cũng không được lừ đừ ngũ gục trong khi nói pháp. Không nên bàn lỗi của người khác với động lực là tham hoặc sân. Không nên lười biếng tŕ hoăn việc giảng dạy v́ không muốn giảng. Và bạn nên từ bỏ ḷng ganh tị khởi lên v́ nghi ngờ người khác được lên chức.

Bạn phải có ḷng từ bi đối với những người nghe pháp, và giữ năm thái độ. Năm thái độ này cũng giống như sáu điều trên, trừ cái điều rằng sự chuyên cần thực hành Pháp sẽ chữa lành bạn. Nghĩa là năm thái độ như sau: họ là những con bệnh, Pháp là thuốc, bạn là y sĩ, vân vân. Rồi bạn nên nghĩ rằng công đức phát sinh do sự giảng Pháp với năm thái độ như trên sẽ đem lại hạnh phúc cho bạn.

Sở dĩ bỏ điều thứ sáu v́ nó áp dụng cho người nghe pháp hơn là người giảng dạy.

b. Phải làm ǵ trong khi giảng dạy

Trước hết, nên tắm rửa sạch sẽ; dáng dấp của bạn phải chỉnh tề, y phục mới. Ngồi trên một pháp ṭa cao. Cung cách bạn phải vui ḥa. Giảng dạy bằng ví dụ, trích dẫn, và biện luận để làm rơ ư nghĩa.

Tuy vậy, tôi rất bối rối và khổ sở khi ngồi trên ṭa cao này, trong khi những vị lạt ma cao cấp tái sinh đang ngồi chỗ thấp. Nhưng tôi phải ngồi đây v́ ḷng thượng tôn sự vĩ đại của chánh pháp. Quả thật là điều kỳ diệu khi tục lệ này không mai một ở các tỉnh miền Trung và ở vùng Tsang. Nếu tục lệ này không c̣n, và vị giảng sư ngồi ở chỗ thấp trong khi giảng pháp, th́ người ta sẽ lấy làm lạ khi ông ta bảo, “Tôi đă hấp thụ ḍng truyền thừa này từ nhiều vị lạt ma vĩ đại,” như có câu chuyện đă kể.

“Cung cách vui ḥa” là bạn nên mĩm cười với thính giả khi bạn giảng. Longdoe Lama Rinpoche trái lại thường cầm la rầy đệ tử và cầm roi hăm dọa trong khi ngài giảng dạy.

Nếu bạn lẫn lộn thứ tự những tiêu đề, th́ sự giảng pháp của bạn sẽ hỗn độn như một cái tổ quạ. Nếu bạn bỏ qua những điểm khó mà chỉ giảng dạy những tài liệu dễ, th́ giáo lư bạn nói chỉ như hồ cháo dành cho người già ăn. Những giảng sư không am tường ư nghĩa sâu xa của giáo lư mà phải đoán ṃ để giảng th́ chẳng khác nào người mù phải chống gậy. Điều này thật không tốt.

Bậc tôn sư tôi, nơi nương tựa tối thượng của tôi, đă dạy cho tôi như sau. Khi sắp giảng dạy, ta phải khởi một động cơ cho đúng pháp trong lúc bước từ pḥng riêng ra giảng đường. Hăy quán tưởng tất cả những vị tổ sư trong truyền thống của bạn đang an vị trên pháp ṭa dành cho bạn, hết vị này đến vị khác. Hăy đảnh lễ pháp ṭa ba lạy. Quán tưởng những vị tổ tan biến vào một vị là vị thầy bổn sư của bạn; và khi bạn bước lên pháp ṭa th́ quán tưởng vị bổn sư của của bạn thể nhập vào trong bạn. Rồi khi bạn ngồi xuống, hăy búng tay mà niệm một bài kệ vô thường như:

Như ngọn đèn dầu leo lét

Không kéo dài bao lâu

Hạnh phúc cũng hư ảo

Mong manh như giọt nước

Như chiêm bao, như chớp nhoáng,

Hoặc như một ngày qua;

Như thế đấy là các pháp hữu vi.

Bạn nên nghĩ: “Đây chỉ là vài phút ngắn ngũi, một cái ǵ thật vô thường.” Bạn phải chế ngự bất cứ cảm giác hănh diện nào bạn có thể có, nếu không, bạn có thể phát sanh tâm kiêu mạn khi ngồi trên pháp ṭa, và nghĩ rằng “Bây giờ, ta thật là một nhân vật quan trọng.”

Người ta nói với bạn nên tụng chú để đuổi quỷ, nhưng theo truyền thống, chúng tôi tụng bát nhă tâm kinh và vỗ tay ba lần. Je Drubkang Geleg Gyatso thường theo truyền thống tán tụng sáu điều để chuẩn bị. Quả thế, khi giảng dạy Lam-rim, ngài áp dụng phương pháp tụng rất chậm lễ dẫn nhập này. Nhiều người xin ngài giảm bớt nghi thức chuẩn bị, v́ nó kéo dài thời gian giảng pháp, nhưng ngài trả lời: “Sự thành tựu của buổi giảng hoàn toàn tùy thuộc vào nghi thức chuẩn bị này,” và bởi thế ngài không rút ngắn.

Như tôi đă nói, bạn có thể phát sinh thực chứng Lam-rim ở mức đầu tiên trong buổi nghe giảng. Nhưng bạn phải tạo cơ hội cho sự thực chứng ấy, và điều này tùy thuộc vào sự tích tập công đức và trí tuệ sơ khởi của bạn, vào sự thanh lọc chướng ngại, vào sự cầu nguyện v.v... Đây là tư tưởng đằng sau sự thực hành những nghi lễ chuẩn bị trong một thời gian giảng pháp. Trong lúc thực hành những nghi thức này, bạn không nên trải qua suốt buổi để tâm lang thang mắt nh́n dáo dác, miệng lẩm nhẩm thần chú một cách máy móc. Hăy thực hành nghiêm túc sự tích tập công đức này, sự thanh lọc bản thân và sự cầu nguyện này, sự thanh lọc bản thân và sự cầu nguyện này, v́ nó quan trọng để phát sinh một vài tuệ quán đi sâu vào những đề tài thiền định trong phạm vi bạn tham dự buổi học pháp.

Bây giờ hăy trở lại việc làm cách nào để điều khiển một buổi giảng dạy giáo lư. Sau khi cúng dường một madala (đồ h́nh) của vũ trụ (xem Ngày Thứ Năm trang...), hăy đưa quyển kinh lên đầu (tỏ dấu kính trọng và ban phước) và lại khởi động lực. Hăy cầu xin rằng những ǵ bạn sắp làm lợi lạc cho ḍng tâm thức của những người nghe bạn. Drubkang Geleg Gyatso thường làm sự cầu nguyện như thế không những lúc ông đặt quyển kinh trên đầu và cả những lúc ông đội măo.

Phần đông đều biết khi sắp giảng pháp thường có chút ít thay đổi trong bài kệ quy y. Bài này thường như sau:

Cho đến khi giác ngộ, con xin quay về

Nương tựa Phật, Pháp và Tăng

Với công đức con có được

Nhờ bố thí, vân vân.

Mong sao con đạt Phật quả v́ tất cả chúng sinh.

Vị giảng sư nói: “Với công đức con có được do hành vi bố thí pháp...” trong khi những đệ tử th́ nói: “Với công đức con có được khi nghe Pháp...”

Một điều khác tôi muốn nói là, có truyền thống đọc lớn bản kinh văn về Lam-rim sắp giảng ngày hôm ấy. Tốt nhất là chính giảng sư đọc mỗi ngày, hoặc vài ngày; sau đó đệ tử chính của vị ấy có thể làm thay.

Trong khi giảng pháp, bạn nên tưởng tượng trời, rồng và phi nhân vân vân đến nghe. Bạn nên làm dáng điệu như đang thuyết pháp cho họ và đọc bài:

Chư thiên a tu la

Và dược xoa, vân vân,

Ai đến nghe Phật pháp

Tất cả hăy hết ḷng

Hộ tŕ Phật pháp ấy,

Bằng cách thường tinh tấn

Thực hành lời Phật dạy.

Ai đến đây nghe Pháp

Hoặc ở trên mặt đất

Hoặc ở trong hư không,

Với thế giới loài người,

Hăy thường khởi từ tâm,

Bản thân th́ ngày đêm

Sống đúng với Phật pháp.

Nguyện cầu mọi thế giới

Luôn luôn được an ổn

Bằng cách phước và trí

Đều đem làm lợi người,

Để bao nhiêu vọng nghiệp

Đều được tiêu tan cả

Siêu thoát mọi khổ đau

Quy về đại niết bàn,

Hăy xoa khắp cơ thể

Bằng hương thơm giữ giới

Lại mặc cho cơ thể

Bằng y phục thiền định

Th́ hoa đẹp bồ đề

Làm rực rỡ tất cả

Bất cứ ở nơi nào

Cũng thường được an lạc.

(Theo bản dịch HT Trí Quang)

Dĩ nhiên là chư thiên không thể ngồi trên đất, bởi thế giảng sư quán tưởng ḿnh đang cho phép họ cứ ở giữa không trung và lắng nghe, những người lănh trọng trách bảo tŕ chánh pháp hăy nhớ kỹ truyền thống này.

4. Khác nhau giữa người nào bạn nên dạy người nào không nên

Nói chung, như Luật đă dạy, “Không nên giảng dạy cái ǵ người ta chưa yêu cầu ḿnh giảng.” Nói cách khác là thực không đúng pháp nếu mà bạn dạy một điều mà bạn chưa cầu xin. Hơn nữa, bạn cũng không nên nhận lời ngay khi người ta yêu cầu. V́ đức khiêm tốn bạn phải nói: “Đề tài này tôi không am hiểu lắm, tôi không kham giảng dạy” hoặc “ Làm sao tôi có thể giảng dạy cho những người vĩ đại như quư vị?” Bạn phải thử thách ḷng ngưỡng chánh pháp của người ta; và chỉ khi nào bạn chắc chắn họ là pháp khí thích hợp th́ bạn mới nên giảng pháp cho họ. Kinh Tam Muội Vương nói:

Này Prakàska, trước hăy nói với chúng rằng:

“Tôi không được học.”

Rồi, nếu bạn có biết, có tài

Th́ hăy nói: “Làm sao tôi có thể nói chuyện này

Trước những con người vĩ đại như chư vị?”

Tuy nhiên, v́ một lư do cấp bách nào đó, đôi khi bạn buộc ḷng phải dạy cho vài người một điều ǵ mặc dù họ không yêu cầu. Je Tsongkapa nói: “Nếu bạn biết họ là pháp khí xứng đáng để dạy, th́ có thể giảng dạy cho họ dù họ không yêu cầu.”

Người ta bảo bạn c̣n phải tuân theo 26 điều đề ra trong luật tạng, như không được nói pháp cho người đang ngồi trong khi bạn đang đứng, hoặc cho người đang nằm, hoặc cho người đang ngồi chỗ cao hơn bạn, vân vân.

Đến đây, chúng ta đi đến tiêu đề chính thứ ba là:

C. ĐIỀU G̀ CẢ THẦY LẪN TR̉ CÙNG NÊN LÀM CUỐI THỜI GIẢNG

Sau khi dâng một mandala tạ ơn, giảng sư và thính giả nên hồi hướng công đức, cầu cho giáo lư được lưu tuyền và cho chính ḿnh được giác ngộ hoàn toàn, bằng cách tụng bài cầu nguyện của Lam-rim (trích trong tác phẩm của Tsongkapa, Những Giai Đoạn Lớn Của Đạo Lộ, xem trang....). Sau buổi giảng, không nên mạnh ai nấy ùa ra cửa, mà nên từ từ đi ra từng người, làm như thế là không muốn rời giảng sư và buổi giảng.

 
 
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
List

Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam)
http://www.tranlich.com/phathoc/kinhbantien.htm

KINH VIÊN GIÁC (THE SUTRA OF COMPLETE ENLIGHTENMENT )
kinhviengiac1
kinhviengiac2

Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra) Phẩm nữ giới
http://www.tranlich.com/phathoc/nugioi.htm

KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna sutta)
The Four Arousings of Mindfulness
The Four frames of reference
The Four foundations of mindfulness.
http://www.tranlich.com/phathoc/tuniemxu.htm

Kahlil Gibran
http://www.tranlich.com/phathoc/kahlilgibran.htm

Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra)

1) Phẩm nữ giới
http://www.tranlich.com/phathoc/nugioi.htm
NỮ NHÂN 1 | NỮ NHÂN 2 | NỮ NHÂN 3

2) Kẻ Ác
http://www.tranlich.com/phathoc/keac.htm

Trung Bộ Kinh
1)
trungbokinh1.htm ( Nikaya 1 thru 4)
2) trungbokinh2.htm ( Nikaya 5 thru 8)
3) trungbokinh3.htm ( Nikaya 9 thru 12)

6) trungbokinh6.htm ( Nikaya 35 thru 40)

KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna sutta)
The Four Arousings of Mindfulness
The Four frames of reference
The Four foundations of mindfulness.
http://www.tranlich.com/phathoc/tuniemxu.htm

Thiền Sư Và Triết Gia
The Monk and the Philosopher:
Jean-Francois Revel, Matthieu Ricard,
http://www.tranlich.com/phathoc/thiensuvatrietgia.htm

YouTube: Video
http://www.youtube.com/profile_videos?user=coongnoo 
http://www.youtube.com/profile_videos?user=brainwashchinese 
http://www.youtube.com/profile_videos?user=stupidchina1 
http://www.youtube.com/profile_videos?user=stupid2china
 

 

(back to top)

 
   

 

Home | 81 BCND | Freedom4Vietnam | Vietnamese Songs | Vietnamese Students | Our Sponsor

 

 

Since 06-27-01
 

 .tranlich.com

 

 
 
Top|List|Directory