Last edited: December 24, 2009 08:54:35 PM
Automatically updated: December 24, 2009 08:54:35 PM

LỜI PHẬT DẠY

 

****************************************************

http://community.palouse.net/lotus/diamond1-5.htm
THE DIAMOND SUTRA
 

"...  World-honored One, if good men and good women seek the Consummation of Incomparable Enlightenment, by what criteria should they abide and how should they control their thoughts? .."

Buddha said: Subhuti, all the Bodhisattva-Heroes should discipline their thoughts as follows: All living creatures of whatever class, born from eggs, from wombs, from moisture, or by transformation whether with form or without form, whether in a state of thinking or exempt from thought-necessity, or wholly beyond all thought realms -- all these are caused by Me to attain Unbounded Liberation Nirvana. Yet when vast, uncountable, immeasurable numbers of beings have thus been liberated, verily no being has been liberated. Why is this, Subhuti? It is because no Bodhisattva who is a real Bodhisattva cherishes the idea of an ego-entity, a personality, a being, or a separated individuality.
 

 

****************************************************


***********************
Thiện nam tử! chúng sanh đời mạt pháp muốn tu thành đạo, chớ nên sanh tâm cầu ngộ;
người sanh tâm cầu ngộ thì muốn học rộng nghe nhiều để hiểu thêm giáo lý, vậy chỉ
thêm đa văn, tăng trưởng ngã kiến, chẳng phảingười chơn tu.

Người chơn tu chỉ nên tinh tấn hàng phục phiền não, khởi tâm đại dũng mãnh; Niết Bàn
chưa đắc khiến cho đắc, phiền não chưa dứt khiến cho dứt, những tâm tham sân si
mạn, xiem khúc ganh tỵ đối cảnh chẳng sanh, ân ái giữa mình và người tất cả đều tịch
diệt, Phật nói người ấy sẽ dần dần thành tựu thánh quả. Nương theo nhân địa này tu
hành để cầu thiện tri thức thì chẳng đoạ tà kiến, nếu có sở cầu khác với nhân địa phát
tâm kể trên, lại sanh lòng yêu ghét thì chẳng thể ngộ nhập biển giác trong sạch.

. KINH VIÊN GIÁC
Tỳ kheo Thích Hằng Đạt Việt dịch
http://www.thuvienhoasen.org/kinhviengiac-thichhangdat.htm

 


 

****************************************************

KINH HIỀN NHÂN
Theo lời tựa, Kinh nầy do ông Ngô-nguyệt-Chi Hán dịch,
và thầy Lê-phước-Bình (HT Thích Hành-Trụ) Việt dịch

Document
http://www.thuvienhoasen.org/kinhhiennhan.htm 
Audio: mp3
Kinh Hiền Nhân-Dịch Giả Thích Hành Trụ (01)
http://suoitumedia1.net/daitangkinhbactang.htm
 

- Trong thiên hạ có bốn điều tự hoại: Một là cây có nhiều hoa trái thì nặng sẽ gẫy nhánh; hai là rắn độc ngậm nọc độc, nọc sẽ trở lại hại nó; ba là người làm tôi không hiền thì sẽ hại nước nhà; bốn là người làm việc bất thiện thì khi chết sẽ đọa vào địa ngục; ấy là bốn điều tự hoại. Vậy nên trong kinh dạy rằng: "Sự độc ác do tâm sinh ra và sẽ trở lại tự hại tâm mình, cũng như sắt sinh ra chất sét, chất sét ấy sẽ trở lại tiêu hình của sắt."
 

****************************************************

- Làm người có bốn điều tự nguy: Một là gánh vác việc nhà người; hai là làm chứng việc nhà người; ba là mai mối vợ chồng người; bốn là tin theo lời tà siểm. Ấy là bốn điều tự nguy. Vậy nên trong kinh dạy rằng: "Người ngu chuyên làm việc ác, tự rước lấy sự tai họa vào thân. Đời nay vui lòng, lung ý, đời sau mang tội rất nặng."
 

 

****************************************************

 

- Bạn có bốn thứ: Một là kết bạn như hoa; Hai là kết bạn như cân; Ba là kết như núi; Bốn là kết bạn như đất.

Sao gọi là kết bạn như hoa ? Khi bông hoa còn tươi tốt thì giắt trên đầu, khô héo rồi bỏ đi. Kết bạn cũng thế: hễ thấy giàu sang thì xu phụ theo, thấy nghèo nàn lại bỏ làm lơ.

Sao gọi là kết bạn như cân? Khi để vật nặng thì đầu gục xuống, vật nhẹ thì đầu vổng lên, có qua lại thì cung kính nhau, không qua lại thì khi dễ nhau.

Sao gọi là kết bạn như núi ? Hòn núi vàng, loài chim thú tụ về, lông cánh được chói màu vàng rực. Kết bạn cũng thế: khi sang thời sang với nhau, khi vui đồng vui.

Sao gọi là kết bạn như đất ? Tất cả mọi vật đều dựa đất mà sinh. Làm bạn để nuôi dưỡng, ủng hộ, ân hậu không quên...
 

 

****************************************************

 

- Người có trí biết bốn việc không tin: Một là bạn tà ngụy; Hai là bề tôi nịnh siểm; Ba là vợ yêu nghiệt; Bốn là con bất hiếu. Ấy là bốn cái không nên tin theo. Vì thế kinh dạy: "Bạn tà hại người, tôi nịnh loạn triều, vợ yêu nghiệt phá nhà, và con bất hiếu hại cả cha mẹ."
 

 

 

- Có mười trạng thái tỏ cho biết là có yêu quý hậu trọng: Một là xa nhau lâu không quên; Hai là thấy nhau thì vui mừng; Ba là có món ngon vật lạ san sẻ cho nhau; Bốn là khi có lỡ lời không chấp trách nhau; Năm là nghe điều lành càng thêm vui vẻ; Sáu là thấy việc dữ đem lời trung chính mà can gián; Bảy là làm được những việc khó làm; Tám là không đem chuyện riêng nói với người; Chín là khi gặp việc bối rối phải giải quyết cho nhau; Mười là đến lúc nghèo khổ không rời bỏ nhau . Ấy là mười sự yêu quý hậu trọng. Nên trong kinh có dạy: "Bỏ dữ làm lành tu tập đúng như Pháp, đem lời trung chánh dạy dỗ, nghĩa hiệp, có đạo."
 

 

- Có tám việc biết là không ưa nhau: Một là thấy mặt đổi sắc; Hai là liếc ngó không thẳng thắn; Ba là lời nói không ôn hòa; Bốn là nói phải cho là quấy; Năm là nghe người nguy hại thì vui thích; Sáu là nghe người hưng thịnh thì không vui; Bảy là hủy bỏ chê bai việc tốt đẹp của người; Tám là tán thành việc ác của người . Vậy nên trong kinh dạy rằng: "Lở đánh chết người, tội ấy còn có thể dung thứ; dùng tâm độc âm mưu để hại người, tâm niệm ấy rất không nên gần."
 

- Có tám điều kiện để an ủi: Một là được của cha mẹ để lại; Hai là có nghề nghiệp bảo đảm lấy sự sống của mình; Ba là học thức cao; Bốn là có bạn hiền; Năm là được người vợ trinh lương; Sáu là được người con hiếu thảo; Bảy là tôi tớ được hòa thuận; Tám là lìa xa việc ác. Đó là tám điều kiện để được an ổn. Kinh dạy: "Sinh ra saün có của cha mẹ để lại và gặp được bạn hiền, rất thiết; các việc ác không phạm đến và có phước thừa rất thích."
 

 

- Có mười trường hợp mình không thể khuyên can: Một là tham lam che mất lương tri; Hai là tham đắm sắc đẹp; Ba là [Kinh in thiếu đoạn nầy] ; Bốn là kẻ ngang tàn bạo ngược; Năm là kẻ nhút nhát; Sáu là kẻ khờ khạo lừ đừ; Bảy là kẻ kiêu ngạo buông lung; Tám là người ưa đấu tranh; Chín là người chấp tập tục si mê; Mười là kẻ tiểu nhân. Ấy là mười trường hợp ta không thể khuyên can. Kinh chép: "Nói Pháp cho người ngu nghe cũng như nói với kẻ điếc, những ai khó hóa độ thì không thể khuyên can."
 

 

- Có mười triệu chứng sẽ hiển hiện cho ta thấy dan ba ngoai tinh: Một là đầu tóc rối và bới tóc nghiêng một bên; Hai là mặt hay đổi sắc và mồ hôi tự nhiên chảy; Ba là lớn tiếng nói cười; Bốn là hay liếc ngó không đoan chính; Năm là trang sức lộng lẫy; Sáu là hay nhìn trộm kẻ vách; Bảy là ngồi không yên; Tám là hay dạo chơi trong xóm làng; Chín là hay đi dạo chơi ngoài đồng vắng; Mười là hay giao thiệp với hạng dâm nữ. Kinh chép: "Đàn bà con gái thật khó tin, lời nói khôn khéo của họ rất dễ hại người. Vì thế bậc cao sĩ lánh xa không muốn thân cận."
 

 

- Có mười việc không nên thân cận và tin cậy: Một là vua tôi hậu đãi; Hai là tình nhân của một người đàn bà mình quen; Ba là kẻ ỷ sức mình; Bốn là kẻ ỷ vào tiền của; Năm là chỗ nước chảy rất mạnh; Sáu là chỗ nhà cũ tường xiêu; Bảy là hang rồng hang rắn; Tám là chỗ quan quân tra xét; Chín là chỗ của kẻ đã thù giận mình; Mười là chỗ có trùng độc. Ấy chính là mười chỗ không thân cận và tin cậy. Trong kinh có câu: "Những ai bảo uống rượu không say, những ai bảo đã say không loạn và vua hậu đãi, đàn bà thương yêu, tất cả những cái ấy rất khó tin cậy ."
 


- Có năm cái đáng ghét: Một là ác khẩu hại người; Hai là gièm pha, siểm nịnh, và thúc giục sự đấu tranh; Ba là rầy rà không thuận hòa; Bốn là ganh ghét và trù rủa; Năm là nói hai lưỡi gạt người . Kinh dạy rằng: "Làm cho kẻ khác mệt nhọc và mình muốn mong sự hay ho về phần mình thì chỉ rước họa vào thân, tự gây lấy oán thù sâu nặng."
 

- Có năm tính tốt nầy thì được người cung kỉnh: Một là nhu hòa và nhẫn nhịn; Hai là cung kính và có tín tâm; Ba là mau mắn và ít nói; Bốn là lời nói đi đôi với việc làm; Năm là đối với bạn càng lâu càng thâm hậu . Năm đặc tính ấy làm cho người ta cung kính mình. Trong kinh có câu: "Nếu biết thương lấy mình thì phải dè dặt giữ mình. Các bậc hiền sĩ có chí hướng thượng cao xa học hiểu chính đáng thì không bao giờ lầm lạc."
 

- Có mười kẻ mình không nên mời về nhà: Một là thầy ác; Hai là bạn tà; Ba là kẻ hay khinh bỉ bực thánh nhân; Bốn là kẻ hay nói tráo trở; Năm là kẻ dâm ô; Sáu là người thèm rượu; Bảy là kẻ có tính xấu; Tám là người không biết ơn nghĩa; Chín là đàn bà con gái mất nết; Mười là kẻ tì thiếp ưa trang sức. Đấy là mười hạng không nên mời về nhà. Kinh chép: "Lánh xa người ác, đừng làm bạn với kẻ dâm lung, chỉ nên tùng sự các bực hiền giả, mới mong thành người minh đức."
 

 

- Có tám điều kiện để được an vui: Một là vâng thờ kính thuận các bậc sư trưởng; Hai là đem sự hiếu thuận dạy cho nhân dân; Ba là khiêm nhượng kẻ trên người dưới; Bốn là phải tập tánh nhân đức ôn hòa; Năm là đến cứu người trong cơn nguy cấp; Sáu là phải quên mình mà nghĩ đến người; Bảy là thâu thuế ăn lời nhẹ và phải biết tiết kiệm; Tám là bỏ hận thù xưa . Đấy là tám điều kiện để được an vui . Trong kinh có câu: "Chuyên tu cội đức, nghĩ trước rồi làm sau, cứu giúp người trong cơn nguy cấp và bần khổ, thì trọn đời mới được an vui."
 

- Bực trí giả có mười hai điều luôn luôn phải nghĩ tới không bao giờ lãng quên: Một là khi gà gáy sáng, đã nghĩ tới tội lỗi mà lo làm việc phúc đức để đền bù lại; Hai là nhớ việc hầu hạ tôn thân; Ba là gặp việc gì phải suy nghĩ dự bị trước; Bốn là phải lo nghĩ lánh xa sự nguy hại; Năm là phải nghĩ trước mới nói sau để khỏi phải lầm lạc; Sáu là phải nghĩ đến những kẻ lạc lầm mà đem lời trung chánh dạy bảo nhắc nhủ họ; Bảy là phải là nghĩ đến những kẻ nghèo khổ để thương xót cấp hộ; Tám là phải lo làm việc bố thí nếu mình có của; Chín là phải nghĩ đến việc ăn uống cho có chừng độ; Mười là phải nhớ giữ sự công bình khi phân xử hoặc phân chia; Mười một là phải nhớ đem ân từ ban bố cho nhân gian; Mười hai là phải thường nghĩ đến sự huấn luyện nếu mình là quân sĩ hay võ quan. Đấy là mười hai điều mà kẻ trí giả phải nghĩ đến. Vậy nên trong kinh có câu: "Làm việc gì phải lo dự bị trước, như vậy sự nghiệp sẽ mỗi ngày mỗi lớn không khi nào thất bại."
 

 

- Bực đại hiền có mười hai hạnh tốt: Một là học rộng hiểu nhiều; Hai là không phạm giới luật trong kinh dạy; Ba là kính thờ Tam Bảo; Bốn là thọ lãnh pháp lành không quên; Năm là kiềm chế được tham sân si; Sáu là tu tập được pháp tứ đẳng tâm; Bảy là ưa làm việc ân đức; Tám là không nhiễu hại chúng sanh; Chín là hay hóa độ được người bất nghĩa; Mười là không lầm lộn việc lành việc ác. Kinh dạy: "Gặp được bực đại hiền rất khó - như ít có lắm vậy - các bực ấy ở đâu thì bà con quyến thuộc và người chung quanh đều được nhờ cậy."
 

 

 

- Kẻ đại ác, đại khái có mười lăm tội nặng: Một là sát sanh; Hai là trộm cắp; Ba là quen thói dâm ô; Bốn là dối trá; Năm là nịnh hót; Sáu là chuốt ngót; Bảy là gièm pha; Tám là khinh bực hiền sĩ; Chín là tham sự ô trược; Mười là buông lung; Mười một là say sưa; Mười hai là ganh ghét kẻ hiền; Mười ba là hủy báng đạo đức; Mười bốn là sát hại thánh nhân; Mười lăm là không kể tội lỗi. Đấy là mười lăm điều tội của kẻ phàm ngu. Trong kinh có câu: "Gian ngược, tham lam, oán người lương thiện, làm việc bất chính, thì khi chết, đọa vào ác đạo."
 

- Có mười hai điều khó: Một là làm việc với người ngu; Hai là yếu đuối chống lại được với sức mạnh; Ba là thù nhau mà ở chung một nhà; Bốn là học ít mà đứng ra nghị luận; Năm là nghèo hèn mà trả nợ; Sáu là ra trận không có tướng sĩ; Bảy là thờ vua trọn đời; Tám là học đạo mà thiếu mất tín tâm; Chín là làm ác mà muốn được quả báo đẹp; Mười là sinh ra đời gặp Phật; Mười một là nghe được chánh pháp của Phật; Mười hai là làm theo được chánh pháp ấy mà thành tựu . Đấy là mười hai cái thật khó. Kinh dạy: "Được làm người là khó, gặp Phật ra đời là khó, được nghe giáo pháp của Ngài là khó, vâng làm theo được giáo pháp ấy thật là khó."
 

 

- Người có trí tuệ, đại khái biết bốn mươi lăm việc: 1) Sửa sang nhà cửa; 2) Gây một không khí hòa hợp trong gia đình; 3) Giao thân với chín họ; 4) Tin ở bè bạn; 5) Theo học với bực minh sư; 6) Làm việc gì quyết cho thành tựu; 7) Tài trí cao rộng; 8) Mọi hành vi đều hướng về việc lành; 9) Giàu sang thì lo làm việc ân đức; 10) Tạo tác và sửa sang đều phải thận trọng; 11) Có của phải mở mang sự nghiệp; 12) Không giao của cải cho con cái nếu chúng còn nhỏ; 13) Kết bạn với người hiền; 14) Không quá tin những ai mới vừa quen biết; 15) Tiền của ở chỗ huyện quan phải đem về đừng để lâu; 16) Mua bán đổi chác phải thật thà không hề lừa gạt; 17) Dời ở nơi nào phải đến xem trước; 18) Đến đâu phải biết đó là giàu hay nghèo, quý hay tiện; 19) Phải giao thiệp thân cận với người lành; 20) Phải nương vào một thế lực; 21) Đừng tranh hơn kém với kẻ cường bạo; 22) Xưa giàu mà nay suy thì có thể mong phục hưng gia nghiệp; 23) Nếu là bần khổ thì đừng có cao vọng to tát; 24) Có của quý không nên khoe với người; 25) Việc bí mật đừng nói cho vợ nghe; 26) Làm vua phải kính người hiền đức; 27) Phải ở ăn có hậu, nhất là với các bậc trung tín; 28) Nếu là thanh liêm, có thể dùng trị nước, hay có thể đứng ra trị nước; 29) Gặp việc phải lập công to; 30) Trong công việc giáo hóa, lấy sự hiếu thuận làm căn bản; 31) Phép của ông thầy là quý sự ôn hòa, như thế học trò đủ cung kỉnh; 32) Thầy có nhiều học trò phải dạy chúng làm điều trung nghĩa; 33) Làm thuốc phải có hiệu nghiệm, nghề còn vụng chớ đem ra thi thố; 34) Đau ốm phải nghe lời thầy thuốc; 35) Ăn uống phải giữ cho có độ lượng; 36) Có của ngon vật lạ chia xẻ cho nhau đừng tiếc; 37) Cho ai hoặc cho ai mượn gì phải tự tay mình trao cho họ; 38) Làm chứng cớ cho người chính; 39) Đừng vu oan cho kẻ không tội; 40) Can gián sự oán giận và làm cho sự thuận thảo trở về giữa hai người; 41) Nhẫn nại và xa lánh việc ác; 42) Đừng phân biệt giàu nghèo mà ở với người; 43) Lấy sự thuận hòa làm quý; 44) Theo đạo thì phải giữ giới; 45) Lấy sự trong sạch làm quý hơn tất cả.
 

- Kính mà đừng khinh, nghe lời dạy phải làm theo vì chỗ hiểu biết của người trí rất đúng, bao giờ họ cũng thể theo chính đạo và không có tâm tham cầu, lại có thể suy xét rõ được việc quá khứ, hiện tại và vị lai. Tầm mắt của bực trí giả rất rộng: họ thấy rõ muôn vật trong không gian và thời gian đều chỉ là biến hiện, muôn pháp đều quay về nơi nhất điểm không tịch bản nhiên.

Kẻ trí giả nhìn thấy rõ ràng đời là một sự biến đổi tang thương; trẻ trung rồi sẽ già nua, cường tráng rồi sẽ suy nhược, có sống thì sẽ có chết; giàu sang như mây nổi, đều là vô thường cả. Cho nên, lúc an ổn phải nghĩ đến khi nguy ngập, khi hưng thạnh thì nghĩ đến lúc vô thường, người lành thì kính mến, người ác thì phải lánh xa. Có giận hờn ai thì nên trừ bỏ, đừng vì thế mà gây ác hại người. Nhu hòa mà khó xâm phạm, yếu đuối mà người khó thắng. Người trí như vậy đó, ta không nên khinh thường.
 

 

- Người trí thì theo phép thánh hiền, thường làm việc nhân từ và ưa dạy dỗ kẻ ngu muội trở nên sáng suốt như họ. Người trị nước thì nên ban bố ân huệ cho kẻ biết làm lành, kẻ tu hành thì lo dắt dẫn mọi người về nơi chánh đạo; quốc gia có cấp nạn thì cùng nhau đàm luận lo toan; tới lui phải biết thời mới khỏi bị sự nghi ngờ oán trách. Tuy có ân rộng đức lớn với người, nhưng đừng mong cầu người báo đáp; thờ người trí thì được phước và trọn đời không mắc phải tai nạn. Bệ hạ đừng có nghi nan. Pháp chánh trị không nên trái với lý đạo, dạy dân làm lành thì càng ngày càng thêm lợi ích cho nước.
 

 

- Ví như người không có tài bơi lội, thì không nên xuống dưới nước sâu, biết người cừu hận với ta, ta cũng không nên hại họ. Đời có thân hậu nhau, rồi có gây gổ nhau; có gây gổ nhau rồi lại xin lỗi nhau; tuy hòa giải khéo lắm, nhưng mà chi bằng trước kia đừng gây gổ là hơn. Nay, người lành mà Bệ hạ không ban thưởng, trở lại nghe lời gièm siểm.
 

document
http://www.thuvienhoasen.org/kinhhiennhan.htm 
mp3
http://suoitumedia1.net/daitangkinhbactang.htm 
 

****************************************************

Chẳng hại mạng chúng sanh.
Giữ gìn các cấm giới.
Bẩm thọ pháp của Phật.
Thời sanh cõi Bất Động.
Chẳng đoạt của người khác.
Thường ban cho tất cả.
Tạo chiêu đề tăng phường.
Thời sanh cõi Bất Động.
Chẳng phạm vợ con người,
Vợ nhà chẳng phi thời.
Thí trì giới ngọa cụ,
Thời sanh cõi Bất Động.
Chẳng vì mình hoặc người,
Cầu lợi và khủng bố.
Giữ lời chẳng vọng ngữ.
Thời sanh cõi Bất Động.
Chớ phá thiện tri thức,
Xa lìa quyến thuộc ác.
Thường nói lời hòa hiệp,
Thời sanh cõi Bất Động.
Như các bực Bồ Tát,
Thường lìa lời ác khẩu.
Nói ra người thích nghe,
Thời sanh cõi Bất Động.
Nhẫn đến lúc giỡn cười,
Chẳng nói lời phi thời.
Giữ gìn lời chánh pháp,
Thời sanh cõi Bất Động.
Thấy người đặng lợi dưỡng,
Thường sanh lòng vui mừng.
Chẳng sanh lòng tật đố,
Thời sanh cõi Bất Động.
Chẳng não hại chúng sanh,
Thường sanh lòng từ bi.
Chẳng làm phương tiện ác,
Thời sanh cõi Bất Động.
Tà kiến bác bố thí.
Không cha mẹ, khứ lai.
Chẳng có tà kiến ấy.
Thời sanh cõi Bất Động.
Đường xa làm giếng tốt.
Trồng rừng rậm cây trái.
Thường thí người khất thực.
Thời sanh cõi Bất Động.
Đối với Phật, Pháp, Tăng.
Cúng một đèn một hương.
Nhẫn đến dưng một hoa,
Thời sanh cõi Bất Động.
Nếu vì cớ sợ sệt.
Lợi dưỡng cùng phước đức.
Chép một kệ kinh nầy.
Thời sanh cõi Bất Động.
Nếu vì cầu phước lợi.
Được ở trong một ngày.
Đọc tụng kinh điển nầy.
Thời sanh cõi Bất Động.
Nếu vì đạo vô thượng,
Trong một ngày một đêm.
Thọ trì bát quan trai.
Thời sanh cõi bất động.
Chẳng cùng người phạm tội.
Người hủy báng Đại Thừa.
Đồng ở chung một chỗ.
Thời sanh cõi Bất Động.
Nếu thí cho người bịnh.
Nhẫn đến một trái cây.
Vui mừng mà săn sóc.
Thời sanh cõi Bất Động.
Chẳng lạm dùng của Tăng.
Khéo giữ vật của Phật.
Tô quét chỗ Phật Tăng.
Thời sanh cõi Bất Động.
Tạo tượng và tháp Phật.
Chừng bằng ngón tay cái.
Thường sanh lòng vui mừng.
Thời sanh cõi Bất Động.
Nếu vì kinh điển nầy.
Đem thân cùng của cải.
Cúng dường người thuyết pháp.
Thời sanh cõi Bất Động.
Nếu nghe và biên chép.
Thọ trì cùng đọc tụng.
Tạng bí mật của Phật.
Thời sanh cõi Bất Động.

http://www.thuvienhoasen.org/kinh-dbnb-22.htm
Audio:
22-Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương (22a) (22b) ( 22c) (22d) (22e) (22g) (22h) (22i) (22k) (22l)
 

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN Dịch Từ Hán Sang Việt: HT Thích Trí Tịnh

Nầy Thiện nam tử ! Hàng thiện tri thức có thiện pháp. Những gì là thiện pháp? Những việc của mình thật hành chẳng mong cầu tự vui, mà thường vì chúng sanh cầu an vui, thấy người khác có lỗi không rao nói, miệng thường tuyên nói những việc thuần thiện, do đây nên gọi là thiện tri thức.
 

**********************************************

23. Phẩm Sư Tử Hống Bồ Tát


Lúc đó đức Phật bảo các Tỳ Kheo : “ Các ông phải quán Tứ Niệm Xứ, khéo tu trí huệ, phải tinh tấn , chớ phóng dật.

Thế nào gọi rằng quán Tứ niệm xứ ? Nếu có Thầy Tỳ Kheo quan sát trong thân mình chẳng thấy ngã, chẳng thấy ngã sở, quan sát ngoài thân và quan sát cả trong thân ngoài thân, đều chẳng thấy có ngã và ngã sở. Quan sát thọ, tâm và pháp cũng như vậy. Đây gọi là quan sát niệm xứ.

Thế nào gọi là tu tập trí huệ ? Nếu có Thầy Tỳ Kheo chơn thật thấy tứ đế lý : Khổ tập diệt đạo, đây gọi là Thầy Tỳ Kheo tu tập trí huệ.

Thế nào gọi là tâm chẳng phóng dật ? Nếu có Thầy Tỳ Kheo niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Xả, niệm Thiên. Đây gọi là Thầy Tỳ Kheo tâm chẳng phóng dật.

Đức Phật vì hàng Lê Xa Tử mà thuyết pháp rằng : Nầy các Thiện Nam Tử ! Luận về người phóng dật có năm kết quả không tốt ; Một là chẳng được của cải tự tại, hai là tiếng xấu truyền xa, ba là chẳng thích bố thí cho người nghèo thiếu, bốn là chẳng thích thấy bốn bộ chúng, năm là chẳng đặng thân chư Thiên. Nầy các Thiện Nam Tử ! Do nơi chẳng phóng dật có thể sanh ra pháp lành thế gian và xuất thế gian. Nếu có người muốn được vô thượng Bồ Đề nên phải siêng năng tu hạnh chẳng phóng dật.

Luận về người phóng dật lại còn có mười ba quả báo : Một là thích vì đời mà làm lụng, hai là thích nói những lời vô ích, ba là thường thích nằm lâu ngủ nhiều, bốn là thích nói việc đời, năm là thích gần gũi bạn ác, sáu là thích biếng lười, bảy là thường bị người khác khinh dể, tám là dầu có học hỏi liền quên mất, chín là thích ở nơi biên địa, mười là chẳng thể điều phục các căn, mười một là ăn chẳng biết đủ, mười hai là chẳng thích vắng vẻ, mười ba là chỗ thấy biết chẳng chơn chánh.

*************************

Phiền não quá khứ gọi là “Vô minh”, nghiệp quá khứ gọi là “hành”. Trong đời hiện tại, lúc sơ khởi thọ thai gọi là “thức”. Năm phần nhập thai chưa đủ bốn căn gọi là “danh sắc”. Đầy đủ bốn căn gọi là “lục nhập”. Chưa phân biệt khổ vui gọi là “xúc”. Nhiễm tập một ái gọi là “thọ”. Quen gần ngũ dục thời gọi là “ái”. Tham cầu trong và ngoài thời gọi là “thủ”. Vì sự trong ngoài mà khởi nghiệp thân, khẩu, ý đây gọi là “hữu”. Thức đời hiện tại gọi là vị lai “sanh”. Hiện tại danh sắc, lục, nhập, xúc, thọ thời gọi là vị lai “lão, bịnh, tử” vậy. Đây gọi là mười hai nhơn duyên.
 

*************************

Một là thiểu dục, hai là tri dục, ba là tịch tịnh, bốn là tinh tấn, năm là chánh niệm, sáu là chánh định, bảy là chánh huệ, tám là giải thoát, chín là tán thán giải thoát, mười là dùng Đại Niết Bàn giáo hóa chúng sanh”.

 

*************************

 thiểu dục là chẳng cầu chẳng lấy. Tri túc là lúc đặng ít lòng không hối hận. Thiểu dục là ít có mong muốn. Tri túc là chỉ vì pháp sự lòng chẳng sầu não.

Nầy Thiện nam tử ! Dục đó có ba : Một là ác dục, hai là đại dục, ba là dục dục.

Ác dục là nếu có Tỳ Kheo sanh lòng tham dục muốn làm thượng thủ của tất cả đại chúng, muốn cho tất cả chúng tăng thuận theo phía sau ta, khiến bốn bộ chúng thảy đều cúng dường cung kính tán thán tôn trọng ta. Khiến ta vì chúng thuyết pháp trước nhứt, đều muốn cho tất cả tin thọ lời của ta. Cũng khiến Quốc Vương, quan lớn, trưởng gỉa đều cung kính ta. Khiến ta được nhiều y phục, đồ uống ăn, đồ nằm, thuốc men, nhà cửa tốt đẹp. Đây là cầu muốn sanh tử nên gọi là ác dục.

Đại dục là thế nào ? Nếu có Tỳ Kheo sanh lòng cầu muốn làm thế nào cho bốn bộ chúng thảy đều biết ta được bực sơ trụ những đến thập trụ, được vô thượng Bồ Đề, được quả A La Hán nhẫn đến quả Tu Đà Hoàn, ta được tứ thiền nhẫn đến bốn trí vô ngại. Đây là vì lợi dưỡng nên gọi là đại dục.

Dục dục là, nếu có Tỳ Kheo muốn sanh Phạm Thiên, Ma Thiên, Tự Tại Thiên, Chuyển Luân Thánh Vương, hoặc Sát Đế Lợi, Cư Sĩ, Bà La Môn, đều được tự tại. Vì lợi dưỡng nên gọi là dục dục.

Nếu chẳng bị ba thứ ác dục nầy làm hại thời gọi là thiểu dục.

 

*************************

Thế nào là tịch tịnh ? Tịch tịnh có hai : Một là tâm tịnh, hai là thân tịnh. Thân tịch tịnh thời trọn chẳng gây tạo ba điều ác nơi thân. Tâm tịch tịnh cũng chẳng gây tạo ba điều ác nơi ý, đây gọi là thân tâm tịch tịnh.

*************************

94. Ai mến kẻ bất thiện,
Không ái luyến bậc thiện,
Thích pháp kẻ bất thiện,
Chính cửa vào bại vong.
Kinh Tập (Sutta Nipata)


Kinh Bại Vong (Paràbhava) fr  Kinh Tập (Sutta Nipata)

http://www.thuvienhoasen.org/kinhtieubo1-05-kinhtap-00.htm 

96. Người tánh ưa thích ngủ,
Thích hội chúng, thụ động,
Biếng nhác, thường phẫn nộ,
Chính cửa vào bại vong.

98. Ai với mẹ hay cha,
Già yếu, tuổi trẻ hết,
Tuy giàu không giúp đỡ,
Chính cửa vào bại vong.

104. Người tự hào về sanh,
Về tài sản dòng họ,
Khinh miệt các bà con,
Chính cửa vào bại vong.


106. Người đắm say nữ nhân,
Ðắm say rượu, cờ bạc,
Hoang phí mọi lợi đắc,
Chính cửa vào bại vong.

110. Người tuổi trẻ đã qua,
Cưới cô vợ vú tròn,
Ghen nàng không ngủ được,
Chính cửa vào bại vong.


114. Tài sản ít, ái lớn,
Sanh gia đình hoàng tộc,
Ở đây muốn trị vì,
Chính cửa vào bại vong.

***********************

Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam)


118. Ai làm hại vây hãm,
Các làng, các thị trấn,
Kẻ cướp đoạt có tiếng,
Ðược biết là kẻ bần tiện.


119. Tại làng hay tại rừng,
Vật sở hữu của người,
Lấy trộm của không cho,
Ðược biết là kẻ bần tiện.

120. Ai vay nợ của người,
Bị đòi liền trốn tránh,
Ta đâu mắc nợ ngươi,
Ðược biết là kẻ bần tiện.

122. Ai vì mình, vì người,
Hay vì nhân tài sản,
Làm nhân họ nói láo,
Ðược biết là kẻ bần tiện.

123. Ai được thấy giữa vợ
Của bà con, bạn thân,
Ép buộc hay ưng thuận,
Ðược biết là kẻ bần tiện.

124. Ai với mẹ hay cha,
Già yếu, tuổi trẻ qua,
Tuy giàu không giúp đỡ,
Ðược biết là kẻ bần tiện.

125. Ai với mẹ hay cha,
Với anh chị, nhạc mẫu,
Làm hại, dùng lời mắng,
Ðược biết là kẻ bần tiện.

127. Ai làm các nghiệp ác,
Muốn không biết mình làm,
Ai làm hạnh che đậy,
Ðược biết là kẻ bần tiện.

131. Ở đời nói không thật,
Bị si mê che đậy,
Tham cầu chút lợi nhỏ,
Ðược biết là bần tiện.

141. Hiện tại bị khinh miệt,
Ðời sau sanh ác thú,
Thọ sanh không ngăn chận,
Sanh ác thú đáng khinh.

142. Bần tiện không vì sanh,
Phạm chí không vì sanh,
Do hành thành bần tiện,
Do hành thành Phạm chí.



119. As long as evil ripens not
even the evil one goodness knows,
but when the evil ripens
then that person evil knows.
119. Người ác thấy là hiền.
Khi ác chưa chín muồi,
Khi ác nghiệp chín muồi,
Người ác mới thấy ác.

120. As long as goodness ripens not
even the good one evil knows,
but when the goodness ripens
then that person knows the good.
120. Người hiền thấy là ác,
Khi thiện chưa chín muồi,
Khi thiện nghiệp chín muồi,
Người hiền thấy là thiện.



127. Ai làm các nghiệp ác,
Muốn không biết mình làm,
Ai làm hạnh che đậy,
Ðược biết là kẻ bần tiện.

16. 'Whosoever enveloped in ignorance in this world
predicts what is not (to take place), coveting a trifle,
let one know him as an outcast. (130)
(VII) Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam)


Này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được sống, không vì mục đích lừa dối quần chúng, không vì mục đích nịnh hót quần chúng, không vì mục đích được lợi ích, lợi dưỡng, không vì cung kính, danh vọng, không vì nghĩ rằng: "Mong rằng quần chúng biết đến ta". Này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được sống vì mục đích thắng tri, vì mục đích liễu tri.
Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka)(Duk. I,8) (It. 28)

"Monks, this holy life is lived, not for the sake of deceiving people, not for the sake of inveigling people, not for the sake of the rewards of gain, offerings, & tribute, nor with the thought, 'Thus may people know me.' This holy life is lived for the sake of restraint & abandoning." (Itivuttaka)(Duk. I,8) (It. 28)

****

Ở đời có mười sáu việc không thể nào thỏa mãn. Ðó là mười sáu việc gì? -

1) Biển không thỏa mãn với các dòng sông,
2) lửa không thỏa mãn với nhiên liệu,
3) vua không thỏa mãn với quốc độ,
4) kẻ ngu không thỏa mãn với ác nghiệp,
5) nữ nhân không thỏa mãn với ba việc ân ái, nữ trang và sinh con,
6) Bà-la-môn không thỏa mãn với thánh kinh,
7) bậc trí không thỏa mãn với Thiền định,
8) bậc hữu học không thỏa mãn với danh vọng,
9) người ly tham không thỏa mãn với khổ hạnh,
10) người tinh tấn không thỏa mãn với nỗ lực,
11) người hay nói không thỏa mãn với chuyện trò,
12) nhà chính trị không thỏa mãn với hội nghị,
13) người mộ đạo không thỏa mãn với việc phục vụ Giáo hội,
14) người thích bố thí không thỏa mãn với việc bố thí,
15) người đa văn không thỏa mãn với việc nghe Pháp,
16) tứ chúng không thỏa mãn với việc yết kiến đức Phật.
(
402. Chuyện Túi Da Đựng Bánh Tiền thân Sattubhasta)
 

http://books.google.com/books?i&hl=en

There are sixteen things that cannot be satisfied; and what are these sixteen?

1) The sea is not satisfied with all rivers
2) nor the fire with fuel,
3) nor a king with his kingdom,
4) nor a fool with sins,
5) nor a woman with three things: intercourse, adornmnet, and child-bearing,
6) nor a brahmin with sacred texts,
7) nor a sage with ecstatic meditation,
8) nor a sekha with honour,
9) nor one free from desire with penance,
10) nor the energetic man with energy,
11) nor the talker with talk,
12) nor the politic man with the council,
13) nor the believer with serving the church,
14) nor the liberal man with giving away,
15) nor the learned with hearing the law,
16) nor the four congregations with seeing the Buddha.
 

 


************************************************

Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam)
http://www.tranlich.com/phathoc/kinhbantien.htm

KINH VIÊN GIÁC (THE SUTRA OF COMPLETE ENLIGHTENMENT )
http://www.tranlich.com/phathoc/kinhviengiac.htm

Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra)

1) Phẩm nữ giới
http://www.tranlich.com/phathoc/nugioi.htm
NỮ NHÂN 1 | NỮ NHÂN 2 | NỮ NHÂN 3

2) Kẻ Ác
http://www.tranlich.com/phathoc/keac.htm

 

KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna sutta)
The Four Arousings of Mindfulness
The Four frames of reference
The Four foundations of mindfulness.
http://www.tranlich.com/phathoc/tuniemxu.htm

*****************************

 

TỪ VỰNG VÀ THÀNH NGỮ ANH-VIỆT

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-phapcu-ev/pctm-02.htm


KỆ PHÁP CÚ KINH (DHAMMAPADA)

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-phapcu-ev/pctm-00.htm

http://amberstar.libsyn.com/index.php?post_category=The%20Dhammapada

Buddhist eBooks and Dharma Talks - www.BuddhaBooks.info

BuddhaNet Audio Buddhist Chanting

 

 

List

Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam)
http://www.tranlich.com/phathoc/kinhbantien.htm

KINH VIÊN GIÁC (THE SUTRA OF COMPLETE ENLIGHTENMENT )
kinhviengiac1
kinhviengiac2

Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra) Phẩm nữ giới
http://www.tranlich.com/phathoc/nugioi.htm

KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna sutta)
The Four Arousings of Mindfulness
The Four frames of reference
The Four foundations of mindfulness.
http://www.tranlich.com/phathoc/tuniemxu.htm

Kahlil Gibran
http://www.tranlich.com/phathoc/kahlilgibran.htm

Chuyện Tiền Thân Đức Phật The Jataka Sutra)

1) Phẩm nữ giới
http://www.tranlich.com/phathoc/nugioi.htm
NỮ NHÂN 1 | NỮ NHÂN 2 | NỮ NHÂN 3

2) Kẻ Ác
http://www.tranlich.com/phathoc/keac.htm

Trung Bộ Kinh
1)
trungbokinh1.htm ( Nikaya 1 thru 4)
2) trungbokinh2.htm ( Nikaya 5 thru 8)
3) trungbokinh3.htm ( Nikaya 9 thru 12)

6) trungbokinh6.htm ( Nikaya 35 thru 40)

KINH NIỆM XỨ (Satipatthàna sutta)
The Four Arousings of Mindfulness
The Four frames of reference
The Four foundations of mindfulness.
http://www.tranlich.com/phathoc/tuniemxu.htm

Thiền Sư Và Triết Gia
The Monk and the Philosopher:
Jean-Francois Revel, Matthieu Ricard,
http://www.tranlich.com/phathoc/thiensuvatrietgia.htm

YouTube: Video
http://www.youtube.com/profile_videos?user=coongnoo 
http://www.youtube.com/profile_videos?user=brainwashchinese 
http://www.youtube.com/profile_videos?user=stupidchina1 
http://www.youtube.com/profile_videos?user=stupid2china
 

 

(back to top)

Home | 81 BCND | Freedom4Vietnam | Vietnamese Songs | Vietnamese Students | Our Sponsor

tranlich.com:2082

 
Since 06-27-01

Top|List|Directory